Tài liệu Kỷ yếu các Đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2013
BỘ Y TẾ
TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE TRUNG ƯƠNG
KỶ YẾU
CÁC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA HỆ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
NĂM 2013
Hà Nội, 2014
1
BAN BIÊN SOẠN
CHỦ BIÊN
TTƯT.BSCKI. Đặng Quốc Việt
Giám đốc Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương
BIÊN TẬP
ThS.BS. Trịnh Ngọc Quang - Phó Giám đốc Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương
ThS.BS. Lý Thu Hiền - Trưởng phòng Khoa học - Đào tạo
CN. Phùng Thị Thảo - Cán bộ phòng Khoa học - Đào tạo
CN. Nguyễn Thị Lý - Cán bộ phòng Khoa học - Đào tạo
2
MỤC LỤC
1. Khảo sát nhanh nhu cầu tập huấn về Truyền thông Giáo dục sức khỏe của 63 Trung
tâm Truyền thông GDSK tuyến tỉnh năm 2013……………………………….……..5
2. Đánh giá hoạt động nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh An Giang năm 2012 theo thông
tư số 39/TT-BYT ngày 10/09/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế………………...………..9
3. Hiệu quả mô hình tăng cường thực hành nuôi con bằng sữa mẹ dựa vào cộng đồng ở
xã Bình Thạnh Đông và Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang………………....14
4. Khảo sát kiến thức về chăm sóc sức khỏe thiết yếu tại gia đình và cộng đồng của
người dân Bà Rịa - Vũng Tàu, năm 2013…………………………………...……....21
5. Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học
sinh trường trung học phổ thông Bắc Kạn năm 2013 …………………...………….30
6. Khảo sát kiến thức, thực hành về bệnh Tay chân miệng của bà mẹ chăm sóc trẻ dưới
5 tuổi tại phường Hạp Lĩnh, thành phố Bắc Ninh, năm 2013 ……………………...40
7. Mô tả hoạt động và một số yếu tố liên quan đến công tác Truyền thông Giáo dục sức
khỏe của nhân viên y tế thôn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, năm 2013….......…48
8. Khảo sát sự tiếp cận của người dân đối với các loại hình truyền thông phòng chống
bệnh Tay chân miệng…………………….. ……………………………………..….56
9. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi về sức khỏe
sinh sản của học sinh các trường trung học phổ thông trong huyện Thới Bình, tỉnh
Cà Mau, năm 2012…………………………………………………………………..57
10. Nghiên cứu thực trạng hệ thống chăm sóc sức khỏe trước mang thai tại thành phố Đà
Nẵng…………………………………………………………….. ………………….64
11. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp truyền thông cải thiện hành vi dự
phòng tăng huyết áp của người dân 50 tuổi trở lên tại xã Cẩm Nam, huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, năm 2013………………….………...………….....................76
12. Đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố liên quan đến bệnh hen phế quản tại xã Hồng
Thái, huyện An Dương, Hải Phòng……………………………….………………...83
13. Đánh giá công tác điều trị bệnh hen phế quản ở huyện An Dương, Hải Phòng………...91
14. Khảo sát kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan về phòng, chống một số bệnh
thường gặp ở người dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, năm 2013........................99
15. Đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi về vấn đề ô nhiễm môi trường của người dân
thôn Nội Thượng, xã An Viễn, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên…………..…………...109
16. Kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng nhà vệ sinh của người dân vùng nông thôn tại
các huyện Châu Thành, Vĩnh Thuận và Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, năm 2013 ……..110
17. Thực trạng kiến thức, hành vi của người dân về phòng bệnh Tay chân miệng trên địa
bàn tỉnh Kon Tum, năm 2012…………………………………….………………..119
3
18. Đánh giá kết quả phòng chống sốt xuất huyết Denge ở người dân huyện Thủ Thừa,
tỉnh Long An, năm 2012……………………………………………......................125
19. Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành sử dụng bao cao su trong kế hoạch hóa gia đình của
nam giới có vợ tại xã Thượng Kiệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, năm 2013……..131
20. Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành sức khỏe sinh sản vị thành niên của học
sinh trung học phổ thông tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, năm 2013….143
21. Khảo sát vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong công tác
Truyền thông Giáo dục sức khỏe tại tỉnh Quảng Nam………………….................150
22. Đánh giá kiến thức thái độ thực hành của người dân tỉnh Thái Bình về bệnh không
lây nhiễm năm 2013……………………………………………... ……………….158
23. Khảo sát các thực hành liên quan đến bệnh đái tháo đường của người dân tại huyện
Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh……………………………………….…………………167
24. Thực hành công tác Truyền thông Giáo dục sức khỏe tỉnh Tuyên Quang và những giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động truyền thông Giáo dục sức khỏe đến năm 2015….172
25. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động của đội ngũ nhân
viên y tế thôn, bản tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, năm 2012……....................179
26. Sáng kiến cải tiến kỹ thuật cẩm nang công tác y tế trường học……………...........189
27. Sáng kiến kinh nghiệm Truyền thông Giáo dục sức khỏe nâng cao nhận thức về Bảo
hiểm y tế và thúc đẩy hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của người nghèo tại các huyện
Hà Quảng, Nguyên Bình, Trùng Khánh…………………………………………...195
28. Sáng kiến cải tiến kỹ thuật xây dựng mẫu sổ sách sử dụng trong công tác Truyền
thông Giáo dục sức khỏe trên địa bàn tỉnh Phú Thọ………………........................198
4
KHẢO SÁT NHANH NHU CẦU TẬP HUẤN
VỀ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE
CỦA 63 TRUNG TÂM TRUYỀN THÔNG GDSK TUYẾN TỈNH NĂM 2013
ThS. Lý Thu Hiền, BS. Đào Thị Tuyết, CN. Phùng Thị Thảo
CN. Nguyễn Thanh Hồng, CN. Nguyễn Thị Lý
Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương
Tóm tắt nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu xác định nhu cầu tập huấn về truyền thông
giáo dục sức khỏe của các trung tâm Truyền thông GDSK tuyến tỉnh (T4G). Kết quả
nghiên cứu cho thấy nhu cầu tập huấn tập trung cao ở 3 nội dung: Nghiên cứu khoa
học (53,2%), áp dụng công nghệ số trong sản xuất chương trình phát thanh/truyền
hình (50,0%) và xây dựng nội dung chương trình phát thanh truyền hình cho biên
tập, đạo diễn và quay phim (56,5%). Thời gian phù hợp cho một khóa tập huấn là từ 3
đến 5 ngày, các lớp tập huấn nên tổ chức theo khu vực và vào quý II hoặc quý III trong
năm. Các đơn vị có thể cử cán bộ tham gia tập huấn bằng nguồn ngân sách của đơn vị.
1. Đặt vấn đề
Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) là 1 trong 10 nội dung chăm sóc
sức khỏe ban đầu ở Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và
bảo vệ sức khỏe nhân dân. Quyết định số 89/QĐ-BYT ngày 11/01/2008 của Bộ Y
tế về việc việc ban hành điều lệ của đơn vị đã chỉ ra rằng đào tạo nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác TTGDSK các cấp là một trong
những nhiệm vụ của Trung tâm Truyền thông GDSK Trung ương. Trong những
năm qua, trung tâm TTGDSK Trung ương đã mở nhiều lớp tập huấn cho cán bộ
truyền thông các tỉnh/thành phố trong cả nước về nhiều nội dung khác nhau như:
Kỹ năng truyền thông, nghiên cứu đối tượng, lập kế hoạch, phát triển tài liệu, nâng
cao sức khỏe, nghiên cứu khoa học…Tuy nhiên, việc tổ chức các khóa tập huấn
thường được xây dựng theo yêu cầu của các chương trình dự án, ít xuất phát từ nhu
cầu thực tế của các đơn vị. Thực tế này dẫn đến một số nội dung tập huấn chưa phù
hợp, thời gian chưa hợp lí vì vậy mà số lượng học viên trong mỗi khóa tập huấn ít
(<60% so với số lượng học viên được mời) gây lãng phí nguồn tài chính dành cho
hoạt động truyền thông vốn đã rất hạn chế. Xác định chính xác nhu cầu tập huấn
(nội dung, phương pháp và thời gian) của cán bộ làm công tác truyền thông là cần
thiết giúp T5G xây dựng kế hoạch, nội dung tập huấn phù hợp trong những năm
tiếp theo.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định nhu cầu tập huấn về TTGDSK của các trung tâm Truyền thông
GDSK tuyến tỉnh năm 2013 và đề xuất tổ chức các lớp tập huấn.
5
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang định lượng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Lãnh đạo T4G của 63 tỉnh/thành phố. Tổng số có 62/63 lãnh đạo T4G tham gia
nghiên cứu, riêng Đồng Tháp nhóm nghiên cứu không nhận được phiếu trả lời.
3.3. Thời gian nghiên cứu: Tháng 3 - tháng 5 năm 2013.
3.4. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu được thu thập bằng phương pháp phát phiếu tự điền cho các đối tượng
tham gia nghiên cứu.
3.5. Nhập và phân tích số liệu: Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.0 và phân
tích bằng phần mềm SPSS 16.0.
4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đã tiến hành trên 62 cán bộ lãnh đạo các T4G (thiếu của Đồng Tháp),
trong đó 88,7% người điền phiếu là giám đốc/phó giám đốc, 11,3% là lãnh đạo cấp
phòng; 71,0% có trình độ trên đại học, 83,9% có chuyên ngành đào là Y/Dược. Thời
gian làm việc trong lĩnh vực truyền thông nhiều nhất là 34 năm và ít nhất là 1 năm.
4.2. Mức độ thường xuyên thực hiện các công việc theo Quyết định 911/1999/QĐ-BYT
và khả năng đáp ứng theo yêu cầu công việc
Kết quả tự đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động cho thấy công việc mà các
T4G thực hiện thường xuyên là quản lý, chỉ đạo các hoạt động truyền thông (95,2% ),
lập kế hoạch (83,9%), thực hiện các hoạt động truyền thông (88,7%). Các hoạt động
khác như: phát triển tài liệu và các ấn phẩm truyền thông; đào tạo tập huấn được thực
hiện ở mức độ thường xuyên thấp hơn với tỷ lệ tương ứng là 54,8% và 46,8%. Kết quả
này đã phản ánh phần nào các chức năng nhiệm vụ của các T4G theo Quyết định số
911/1999/QĐ-BYT ngày 31/2/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Mặc dù nghiên cứu khoa
học (NCKH) cũng là 1 trong các chức năng nhiệm vụ của T4G nhưng 48,4% đơn vị
mới chỉ thực hiện ở mức độ thỉnh thoảng và có đến hơn 25% số đơn vị rất ít làm
NCKH. Điều này cũng được thể hiện trong nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố
liên quan đến công tác nghiên cứu khoa học của trung tâm Truyền thông GDSK các
tỉnh Miền Bắc Năm 2011”: trong 3 năm (2008-2010) trung bình T4G các tỉnh miền bắc
chỉ thực hiện 1,44 đề tài, có một số tỉnh không thực hiện bất cứ đề tài nào.
Tự đánh giá về khả năng đáp ứng của cán bộ với yêu cầu công việc, lãnh đạo các
T4G cho rằng năng lực quản lý, chỉ đạo và thực hiện hoạt động TT của cán bộ đơn vị tốt
(72,6%) bởi đây cũng là những hoạt động mà các T4G thực hiện thường xuyên nhất.
6
Tuy nhiên, năng lực về NCKH của cán bộ T4G chỉ ở mức độ đáp ứng một phần (66,1%)
hoặc chưa đáp ứng (21,0%).
4.3. Thực trạng tập huấn của T4G
Xây dựng nội dung chương trình PTTH
Áp dụng công nghệ số
Kỹ năng viết tin bài, phóng sự
Phát triển tài liệu TT
NCKH
27,6%
20,7%
70,7%
62,1%
32,8%
Kỹ năng giảng dạy
Quản lý và giám sát
Tư vấn
67,2%
67,2%
60,3%
93,1%
Kỹ năng TT
Lập kế hoạch
86,2%
90 100
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Biểu đồ 1: Các nội dung được tập huấn trong 2 năm gần đây
Nội dung cán bộ T4G được tập huấn nhiều nhất là kỹ năng truyền thông (93,1%),
lập kế hoạch (86,2%) và ít được tập huấn là áp dụng công nghệ số trong sản xuất chương
trình PTTH (20,7%), xây dựng nội dung chương trình phát thanh/truyền hình cho biên
tập, đạo diễn, quay phim (27,6%) và NCKH (32,8%).
4.3.1. Nhu cầu tập huấn của T4G
Các nội dung cần tập huấn
46,8%
Truyền thông nguy cơ
Tiếp thị XH
38,7%
30,6%
35,5%
56,5%
Áp dụng CN số
Phát triển tài liệu
KN giảng dạy
Tư vấn
50%
45,2%
37,1%
53,2%
35,5%
37,1%
24,2%
22,6%
27,4%
Lập kế hoạch
0
10
20
30
40
50
60
Biểu đồ 2: Nhu cầu tập huấn của T4G trong thời gian tới
7
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 3 nội dung mà T4G có nhu cầu tập huấn nhiều nhất
là nghiên cứu khoa học (53,2%), áp dụng công nghệ số trong sản xuất chương trình phát
thanh/truyền hình (50,0%) và xây dựng nội dung chương trình PTTH cho biên tập, đạo
diễn và quay phim (56,5%). Điều này rất phù hợp với kết quả tự đánh giá năng lực của
cán bộ T4G, đây là những kỹ năng mà lãnh đạo các T4G cho rằng cán bộ đơn vị mình
còn hạn chế.
Thời gian, thời điểm và địa điểm tổ chức tập huấn:
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian thích hợp nhất cho một khóa tập huấn từ
3 đến 5 ngày (90,4%). Thời điểm mở lớp thích hợp là quý II (77,4%) hoặc quý III
(40,3%). Có đến 80,6% các tỉnh lựa chọn mở lớp theo khu vực và 77% lãnh đạo các đơn
vị đồng ý cử cán bộ tham gia tập huấn bằng nguồn kinh phí đơn vị tự chi trả. Trung bình
mỗi tỉnh có thể cử 2 người tham gia trong một khóa tập huấn.
5. Kết luận
-
Về nội dung: 3 nội dung cần được tập huấn trong thời gian tới là: Nghiên cứu khoa
học (53,2%), áp dụng công nghệ số trong sản xuất chương trình phát thanh/truyền
hình (50,0%) và xây dựng nội dung chương trình PTTH cho biên tập, đạo diễn và
quay phim (56,5%).
-
-
Về thời gian: Một khóa tập huấn nên tổ chức từ 3 - 5 ngày (90,4%).
Về thời điểm: Tỷ lệ lựa chọn thời điểm thích hợp nhất để mở lớp là quý II (77,4%),
quý III (40,3%).
-
-
Về địa điểm tổ chức: 80,6% các tỉnh đề xuất tổ chức lớp tập huấn theo khu vực.
Về hình thức tổ chức: 83% các tỉnh mong muốn TW là đơn vị tổ chức và T4G sẽ cử
cán bộ tham dự bằng nguồn ngân sách của đơn vị.
6. Kiến nghị
-
Trung ương hỗ trợ tổ chức tập huấn theo khu vực cho các bộ T4G các tỉnh, ưu
tiên các nội dung: Nghiên cứu khoa học, áp dụng công nghệ số trong sản xuất
chương trình phát thanh/truyền hình, xây dựng nội dung chương trình PTTH cho
biên tập, đạo diễn và quay phim.
-
-
Thời gian tập huấn từ 3-5 ngày, mở vào quý II và quý III.
Có kế hoạch mở lớp được thông báo sớm tới các đơn vị. Tập huấn gắn lý thuyết
với công việc thực tế.
8
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN BẢN
TẠI TỈNH AN GIANG NĂM 2012 THEO THÔNG TƯ SỐ 39/TT-BYT
NGÀY 10/09/2010 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Võ Bá Tước, Dương Xuân Chữ
Trung tâm truyền thông GDSK An Giang
Tóm tắt nghiên cứu
Với mục tiêu xác định tỷ lệ nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh An Giang đạt tiêu chuẩn nội
dung nhiệm vụ theo thông tư số 39/TT-BYT ngày 10/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế, nghiên
cứu được tiến hành từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 7 năm 2013 tại An Giang trên 389 nhân
viên y tế thôn bản (NVYTTB), thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, phương pháp chọn mẫu
toàn bộ, thu thập số liệu bằng cách phỏng vấn và quan sát theo bộ câu hỏi và bảng kiểm. Kết
quả, nhóm tuổi của nhân viên y tế thôn, bản từ 30-60 chiếm tỉ lệ 82%, dưới 30 chiếm 13,4%
và trên 60 là 4,6%. Nữ giới chiếm tỷ lệ là 49,9% và nam giới là 50,1%. Nhân viên y tế thôn,
bản có trình độ học vấn là trung học cơ sở và trung học phổ thông chiếm đa số với tỷ lệ là
50,1% và 48,9%, còn 1% là trình độ tiểu học. Tỷ lệ NVYTTB có trình độ chuyên môn y tế là
77,1% còn lại 22,9% không có chuyên môn y tế. Theo thông tư số 39/2010/TT-BYT, tỷ lệ
NVYTTB đạt tiêu chuẩn là 93,3%; thực hiện nội dung nhiệm vụ ở mức đạt là 76,1%. Dựa trên
kết quả, nghiên cứu đưa ra kiến nghị Sở Y tế tổ chức thêm nhiều lớp đào tạo cho NVYTTB
theo chương trình của Bộ Y tế, đảm bảo đạt tiêu chuẩn thông tư số 39/2010/TT-BYT; Các
trạm y tế xã, phường, thị trấn có kế hoạch hoạt động cụ thể cho NVYTTB, phải duy trì chế độ
giao ban hàng tháng, kiềm tra định kỳ với y tế thôn bản.
1. Đặt vấn đề
Chăm sóc sức khoẻ ban đầu bằng việc nâng cao nhận thức, cung cấp kỹ năng
thực hiện những hành vi có lợi cho sức khoẻ của cá nhân và cộng đồng đã góp phần
không nhỏ vào thành tích của các chương trình y tế, chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân
dân. Tham gia chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng cần phải kể đến vai trò của
nhân viên y tế thôn bản, đây là lực lượng không nhỏ quyết định đến sự thành công của
các chương trình y tế tại các xã, phường, thị trấn. Nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) có
nhiệm vụ sơ cấp cứu, truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân, vận động thực hiện
các chương trình y tế Quốc gia…đã được quy định trong thông tư số 39/2010/TT-BYT
ngày 10 tháng 9 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Mạng lưới y tế thôn, bản trên địa bàn tỉnh An Giang đã hoàn thiện và đạt được
những thành quả trong việc thực hiện các chương trình y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu
cho nhân dân. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của mạng lưới này còn một phần hạn chế,
chưa đáp ứng đầy đủ được nhu cầu của người dân và yêu cầu mong đợi của ngành y tế.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu “Đánh giá hoạt động nhân viên
y tế thôn bản tại tỉnh An Giang năm 2012 theo thông tư số 39/TT-BYT ngày 10/9/2010
của Bộ trưởng Bộ Y tế”.
9
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
-
-
Thời gian: Từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 7 năm 2013
Địa điểm: tại tỉnh An Giang
2.3. Đối tượng nghiên cứu
-
Nhân viên y tế thôn bản có tên trong danh sách quản lý tại các trạm y tế xã, phường,
thị trấn và trung tâm y tế huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh An Giang.
2.4. Chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ, cỡ mẫu là 389 nhân viên y tế thôn bản.
2.5. Phương pháp thu thập số liệu
-
Công cụ thu thập số liệu: Bảng câu hỏi phỏng vấn và bảng kiểm đánh giá thực hiện 9
nội dung nhiệm vụ nhân viên y tế thôn bản theo thông tư số 39/2010/TT-BYT.
-
Kỹ thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn theo bảng câu hỏi và quan sát thực tế điền vào
công cụ thu thập số liệu.
2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phân tích, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS.
3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
3.1. Đặc điểm chung mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Nhóm tuổi của NVYTTB
Nhóm tuổi
Dưới 30 tuổi
Số lượng
52
Tỷ lệ (%)
13,4
Từ 30 đến 60 tuổi
Trên 60 tuổi
319
82,0
18
4,6
Tổng cộng
389
100
NVYTTB tỉnh An Giang có tuổi nhỏ nhất là 20, lớn nhất là 66, tuổi trung bình là
44. Nhóm từ 30-60 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất (82%). Đây là nhóm tuổi lao động tốt, ổn
định cuộc sống và có nhiều uy tín trong thôn, bản, là điều kiện thuận lợi cho hoạt động y
tế thôn bản.
10
Nam Nữ
49,9
50,1
Biểu đồ 1: Giới tính của đối tượng nghiên cứu
Trong 389 NVYTTB tham gia nghiên cứu, tỷ lệ nữ giới là 49,9%, tỷ lệ nam giới
là 50,1%.
Bảng 2: Phân bố trình độ học vấn của NVYTTB
Trình độ học vấn Số lượng Tỷ lệ (%)
Tiểu học
4
1,0
50,1
48,9
100
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Tổng cộng
195
190
389
Số NVYTTB có trình độ tiểu học chiếm tỷ lệ thấp nhất 1%; nhiều nhất là trung
học cơ sở chiếm tỷ lệ 50,1%; trung học phổ thông 48,9%.
Có
22,9
Không
77,1
Biểu đồ 2: Chuyên môn y tế của NVYTTB
NVYTTB có chuyên môn y tế chiếm tỷ lệ 77,1%, không có chuyên môn y tế
chiếm 22,9%.
Có 93,3% NVYTTB đạt tiêu chuẩn theo thông tư số 39/2010/TT-BYT điều này
cho thấy công tác tổ chức quản lý mạng lưới y tế thôn bản tỉnh An Giang đạt hiệu quả
tốt. Cụ thể theo từng tiêu chuẩn, có 69,2% NVYTTB đạt tiêu chuẩn 1; 79,7% đối tượng
đạt tiêu chuẩn 2; 100% đối tượng đạt tiêu chuẩn 3; 98,9% đối tượng đạt tiêu chuẩn 4.
11
3.2. Kết quả thực hiện các nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn bản
Bảng 3: NVYTTB đạt từng nhiệm vụ theo TT 39/2010/TT-BYT
Nhiệm vụ
Nhiệm vụ 1
Số lượng
373
Tỷ lệ (%)
95,9
Nhiệm vụ 2
Nhiệm vụ 3
Nhiệm vụ 4
Nhiệm vụ 5
Nhiệm vụ 6
Nhiệm vụ 7
Nhiệm vụ 8
Nhiệm vụ 9
365
93,8
273
70,2
242
62,2
382
98,2
238
61,2
387
99,5
266
68,4
388
99,7
NVYTTB đạt nội dung nhiệm vụ theo thông tư số 39/2010/TT-BYT chiếm tỷ lệ
chưa cao 76,1% do một số khó khăn, bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ như trình độ học vấn, chuyên môn còn hạn chế, thời gian tập huấn chuyên môn chưa
đầy đủ, trang bị phương tiên dụng cụ còn thiếu và cũ kỹ.
4. Kết luận
-
Tỷ lệ nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh An Giang đạt tiêu chuẩn theo thông tư số
39/TT-BYT ngày 10 tháng 9 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế là 93,3%; không đạt
tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ là 6,7%.
-
Tỷ lệ nhân viên y tế thôn bản tại tỉnh An Giang thực hiện nhiệm vụ ở mức đạt theo
thông tư số 39/TT-BYT ngày 10 tháng 9 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế là 76,1%;
không đạt chiếm tỷ lệ là 23,9%.
5. Kiến nghị
-
Sở Y tế tổ chức thêm nhiều lớp đào tạo cho nhân viên y tế thôn bản theo chương
trình của Bộ Y tế, đảm bảo đạt tiêu chuẩn thông tư số 39/2010/TT-BYT.
-
Trung tâm y tế các huyện, thị xã, thành phố tổ chức nhiều lớp ngắn hạn về tập huấn,
cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành các nội dung nhiệm vụ nhân viên
y tế thôn bản.
-
Các Trạm y tế xã, phường, thị trấn có kế hoạch hoạt động cụ thể cho nhân viên y tế thôn
bản, cần phải duy trì chế độ giao ban hàng tháng, kiềm tra định kỳ với y tế thôn bản.
12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2010), Thông tư số 39/2010/TT-BYT ngày 10/9/2010 của Bộ y tế, Quy
định tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản, Hà Nội.
2. Chính Phủ (2005), Quyết Định số 243/2005/QĐ-TTg ngày 05/10/2005 của Thủ
tướng Chính Phủ, Ban hành chương trình hành động của chính Phủ thực hiện nghị
quết 46-NQ/TW của bộ chính trị, Hà Nội.
3. Ngô Quang Hạnh (2009), Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của mạng lưới truyền
thông giáo dục sức khỏe tỉnh Thái Nguyên năm 2009, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu
khoa học về truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2001-2010, Nhà xuất bản khoa
học và kỹ thuật Hà Nội, tr 82-93.
4. Lê Thị Hồng Hạnh (2010), Thực trạng kỹ năng truyền thông thay đổi hành vi của
mạng lưới y tế ấp và cộng tác viên trong việc chăm sóc sức khỏe người dân huyện
Châu Phú, tỉnh An Giang năm 2010, Trường Đại Học An Giang, tr 122-131.
5. Phan Lam, Nguyễn Thị Nhung, Phan Giang Liên (2009), Điều tra đánh giá năng lực
nhân viên y tế thôn bản tỉnh Nghệ An năm 2009, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu khoa
học về truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2001-2010, Nhà xuất bản khoa học
và kỹ thuật Hà Nội, tr 35-41.
6. Sở Y Tế An Giang (2013), Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2012 và phương
hướng nhiệm vụ năm 2013, An Giang.
7. Sở Y Tế An Giang-Ban quản lý dự án hỗ trợ y tế vùng đồng bằng sông Cửu Long
(2009), Báo cáo thực trạng đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng y tế khóm ấp (thôn
bản) tỉnh An Giang năm 2009, An Giang.
8. Nguyễn Thanh Sơn (2012), Nghiên cứu tình hoạt động của nhân viên y tế thôn bản
tỉnh Đồng Tháp năm 2012, Luận án chuyên khoa cấp II, Trường Đại Học Y Dược
Cần Thơ, trang 41-63.
9. Phạm Văn Tường (2009), Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng
hoạt động y tế thôn bản tỉnh Kiên Giang năm 2009, Kỷ yếu các đề tài nghiên cứu
khoa học về truyền thông giáo dục sức khỏe giai đoạn 2001-2010, Nhà xuất bản khoa
học và kỹ thuật Hà Nội, tr 66-73.
13
HIỆU QUẢ MÔ HÌNH
TĂNG CƯỜNG THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở XÃ BÌNH THẠNH ĐÔNG VÀ PHÚ THỌ
HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Huỳnh Văn Nên, Văn Hiển Tài
Trần Thị Ngọc Hòa, Bùi Thị Diễm Thúy
Trung tâm Truyền thông GDSK An Giang
Tóm tắt nghiên cứu
Mô hình “Tăng cường thực hành nuôi con bằng sữa mẹ dựa vào cộng đồng” tại
2 xã Bình Thạnh Đông và Phú Thọ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang thực hiện từ năm
2009 đến năm 2011. Mô hình này đã xây dựng nhóm các bà mẹ nòng cốt ở từng thôn ấp
đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa tình nguyện viên với nhóm bà mẹ nòng cốt,
đẩy mạnh các hoạt động truyền thông lan tỏa giữa bà mẹ nòng cốt với bà mẹ có con nhỏ
và phụ nữ có thai. Hoạt động của mô hình giúp các bà mẹ có điều kiện thuận lợi hơn
trong việc tiếp cận thông tin và chuyển đổi hành vi nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM)
theo hướng có lợi.
Sau hơn 2 năm triển khai mô hình tỷ lệ hiểu biết về lợi ích NCBSM của bà mẹ có
con dưới 24 tháng tuổi tăng (75,6% → 97,5%), tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ
đầu sau sinh tăng (52,2% → 74,5%), tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
tăng (0% → 27,5%), tỷ lệ cho trẻ ăn uống thêm ngoài sữa mẹ giảm (nước:
74,5%→52,9%, sữa bò: 37,3%→27,5%, mật ong hoặc nước đường: 11,8%→2%), tỷ lệ
cho trẻ bú sữa mẹ là chính tăng (70,6%→94,1%) và tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sau
12 tháng tuổi tăng (77,2%→89,8%) .
1. Đặt vấn đề
Sữa mẹ là loại thức ăn hoàn hảo nhất cho trẻ dưới 6 tháng tuổi mà không có loại
thức ăn nào thay thế được. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu – không
nước, không sữa bột, không thức ăn đồ uống nào khác – giúp nâng cao cơ hội sống sót
của trẻ, thúc đẩy quá trình tăng trưởng, phát triển thể chất và trí lực của trẻ. Dinh dưỡng
tốt góp phần nâng cao thành tích học tập và thậm chí cả khả năng kinh tế của trẻ trong
tương lai.
Việc cho trẻ bú mẹ là phổ biến ở Việt Nam, nhưng chỉ có 19,6% trẻ nhỏ được bú
mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Ở An Giang NCBSM cũng là thực hành chủ yếu của
các bà mẹ, nhưng bên cạnh đó vẫn còn nhiều thói quen chưa đúng nhất là trong 6 tháng
đầu đời của trẻ như nặn bỏ sữa non, không cho trẻ bú sớm ngay sau khi sinh, cho trẻ
uống thêm nước hoặc các loại sữa khác... Việc nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn
(NCBSMHT) trong 6 tháng đầu hiện nay đang có khuynh hướng giảm dần theo thời gian do
sự tác động của quảng cáo về sản phẩm dinh dưỡng, sữa cho trẻ khiến không ít các bà
mẹ nghĩ rằng để con thông minh và phát triển tốt thì họ phải cho con ăn sữa ngoài bổ
sung ngay từ những tháng đầu đời. Vì thế, họ sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng được
14
chế xuất thay cho sữa mẹ. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển cũng như làm
giảm sức đề kháng, gia tăng bệnh tật ở trẻ.
Do vậy, để đảm bảo tất cả các bà mẹ đều NCBSM trong giờ đầu tiên sau khi sinh,
NCBSMHT trong vòng 6 tháng đầu đời và tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ kết hợp cho trẻ ăn
bổ sung với các thực phẩm giàu dinh dưỡng cho tới năm trẻ hai tuổi, chương trình Phòng
chống suy dinh dưỡng Quốc gia đã giới thiệu mô hình thúc đẩy NCBSM và áp dụng triển
khai tại một số tỉnh, trong đó có An Giang. Nếu mô hình thành công sẽ được chương trình
Phòng chống suy dinh dưỡng Quốc gia chia sẻ, mở rộng phạm vi áp dụng cho các địa
phương khác.
2. Mục tiêu
2.1. Mục tiêu chung: Nâng cao hiểu biết và thực hành NCBSM của bà mẹ có con nhỏ
dưới 24 tháng tuổi thông qua mô hình “Tăng cường thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
dựa vào cộng đồng”.
2.2. Mục tiêu cụ thể
1. Xây dựng được một mô hình hỗ trợ phù hợp tại tuyến thôn/ấp dựa trên các bà mẹ nòng
cốt để thúc đẩy việc nâng cao hiểu biết và thực hành của các bà mẹ về việc NCBSM.
2. Đạt được hiệu quả mô hình thể hiện ở:
- Tăng tỷ lệ hiểu biết về lợi ích NCBSM của bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi từ 5-
10% hàng năm.
- Tăng tỷ lệ cho trẻ bú sớm sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh từ 5-10% hàng năm.
- Tăng tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu từ 5-10% hàng năm.
- Giảm tỷ lệ cho trẻ ăn, uống thêm ngoài sữa mẹ trong 6 tháng đầu từ 5-10% hàng năm.
- Tăng tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ là chính trong 6 tháng đầu từ 5-10% hàng năm.
- Tăng tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sau 12 tháng tuổi từ 5-10% hàng năm.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi ở xã Phú Thọ và xã Bình
Thạnh Đông, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
3.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp tại cộng đồng – đánh giá trước và
sau can thiệp.
Mô tả mô hình “Tăng cường thực hành NCBSM dựa vào cộng đồng”:
Hai xã Bình Thạnh Đông và Phú Thọ, huyện Phú Tân là hai xã nông thôn của
tỉnh An Giang được đưa vào nghiên cứu can thiệp. Có 847 bà mẹ có con nhỏ dưới 24
tháng tuổi và 402 phụ nữ có thai. Địa bàn hành chính gồm 160 tổ, 11 ấp.
15
Các nhân tố thực hiện mô hình bao gồm: nhân viên y tế xã (10 người), tình
nguyện viên bao gồm tổ y tế ấp, cán bộ hội phụ nữ, đoàn thanh niên (16 người) và bà
mẹ nòng cốt là những bà mẹ trong xã đã từng NCBSM thành công, thích giao tiếp, có
hiểu biết và có niềm tin về NCBSM, tình nguyện tham gia (24 người). Các đối tượng
này được tập huấn về kiến thức, kỹ năng truyền thông NCBSM.
Tại các ấp thành lập các nhóm bà mẹ nòng cốt hoạt động với sự giúp đỡ của các
tình nguyện viên.
Thiết lập cơ chế phối hợp hoạt động giữa tình nguyện viên và nhóm bà mẹ nòng
cốt. Tình nguyện viên đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát, hỗ trợ, kịp thời bổ
sung kiến thức, kỹ năng cho nhóm bà mẹ nòng cốt.
Truyền thông lan tỏa giữa các bà mẹ nòng cốt với các bà mẹ có thai và bà mẹ có
con nhỏ về việc thực hành NCBSM tại cộng đồng bằng các hình thức: họp nhóm, vãng
gia, tranh thủ các cơ hội gặp nhau (như đi chợ, làm ruộng, làm việc, đi đám tiệc, dẫn trẻ
vui chơi giải trí…) để phổ biến kiến thức và hỗ trợ thiết thực việc NCBSM.
3.3. Phương pháp theo dõi đánh giá mô hình
Để đánh giá hiệu quả của mô hình, các cuộc điều tra cắt ngang được tiến hành tại
các thời điểm khác nhau trên địa bàn 2 xã (thời điểm trước và sau khi triển khai mô hình
hoạt động). Dưới đây là các thông tin chi tiết liên quan đến các cuộc điều tra.
3.3.1. Cỡ mẫu: Trong phạm vi can thiệp này, chúng tôi xem hai xã Bình Thạnh Đông và
Phú Thọ là một cộng đồng chung được can thiệp. Số lượng mẫu chung được xác định để
đánh giá sử dụng theo công thức: n = 1.962p(1-p)/d2
Với p = 0,12 (p là tỷ lệ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu năm 2009); d = 0,05
Thay vào công thức tính được n = 162. Như vậy, mỗi đợt điều tra phỏng vấn ít
nhất 162 bà mẹ.
3.3.2. Phương pháp chọn mẫu: Chọn 30 cụm theo phương pháp chọn mẫu chùm (trong
cả hai xã), mỗi cụm chọn 6-7 bà mẹ có con nhỏ dưới 24 tháng tuổi.
3.3.3. Thu thập số liệu
-
Công cụ: Sử dụng bộ câu hỏi được soạn sẵn (dựa vào bộ câu hỏi của Viện Dinh
dưỡng Quốc gia, có bổ sung cho phù hợp với địa phương). Riêng về thực hành
NCBSMHT, thông tin được thu thập và tính toán dựa trên định nghĩa của Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO) trong đó chỉ hỏi bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi và
hỏi thông tin trẻ ăn uống trong 24 giờ qua.
-
-
Người phỏng vấn: Các cán bộ Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh
An Giang được tập huấn về phương pháp điều tra.
Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ có con từ 01 ngày
tuổi đến 24 tháng tuổi tại hộ gia đình theo phiếu điều tra được thiết kế trước.
16
3.3.4. Thời gian điều tra: tiến hành 3 đợt điều tra: Điều tra ban đầu vào tháng 08/2009,
điều tra sau 1 năm: tháng 10/2010; điều tra sau 2 năm: tháng 10/2011
3.3.5. Xử lý kết quả: Kết quả điều tra được xử lý bằng phần mềm Epi Info 6.04. So sánh
kết quả điều tra ban đầu với điều tra sau 1 năm, 2 năm bằng kiểm định thống kê phù hợp.
4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận
4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Phần lớn các bà mẹ có độ tuổi từ 17 đến 35 (91,5%), biết đọc biết viết (trình độ
học vấn từ cấp I trở lên chiếm 91,5%) và nghề nghiệp chính là nội trợ, làm ruộng
(77,5%). Có thể thấy rằng đây là nhóm đối tượng đang ở độ tuổi lao động, có sức khỏe
tốt, có thể đọc và tiếp nhận các thông điệp truyền thông bằng nhiều kênh khác nhau như
truyền thông trực tiếp, truyền thông gián tiếp. Tuy nhiên cần lựa chọn các tiếp cận phù
hợp cho nhóm các bà mẹ không biết chữ.
4.2. Tình hình tiếp nhận thông tin NCBSM của bà mẹ
Bảng 1: Nguồn tiếp nhận thông tin NCBSM của bà mẹ
2009
Số người
2011
Số người
Nguồn
p
Tỷ lệ
Tỷ lệ
n=180
(%)
n=200
(%)
Truyền thông trực tiếp
Từ cán bộ y tế
135
27
0
75
15
0
176
164
36
88
82
18
Từ tình nguyện viên
Từ nhóm bà mẹ nòng cốt
Truyền thông gián tiếp
Truyền hình
< 0,05
< 0,05
131
52
9
72,8
28,9
5
162
74
81
37
27
Loa truyền thanh của xã
Tài liệu truyền thông
54
Trong 2 năm thực hiện mô hình, các hoạt động truyền thông triển khai đã được
đối tượng tiếp nhận, đặc biệt là vai trò của tình nguyện viên và bà mẹ nòng cốt. Nguồn
thông tin về NCBSM nhận được từ tình nguyện viên và từ nhóm bà mẹ nòng cốt tăng
dần sau 2 năm (p<0,05). Với truyền thông gián tiếp, các bà mẹ tiếp nhận thông tin nhiều
nhất từ truyền hình, tiếp đến là từ loa truyền thanh của xã và từ các tài liệu truyền thông.
Các tài liệu truyền thông cũng đến tay bà mẹ ngày càng nhiều hơn.
17
4.3. Hiệu quả của mô hình sau 2 năm triển khai hoạt động
Bảng 2: Hiệu quả của mô hình
2009
2011
Số người
Hiệu quả
p
Số người
Tỉ lệ
Tỉ lệ
n=180
(%)
n=200
(%)
1. Hiểu biết về NCBSM
136
75,6
195
97,5
<0,05
<0,05
2. Cho trẻ bú mẹ sớm trong
vòng 1 giờ đầu sau sinh
94
52,2
149
74,5
3. NCBSMHT 6 tháng đầu
0
0
14
27,5
<0,05
4. Cho trẻ ăn uống thêm ngoài sữa mẹ trong 6 tháng đầu
- Nước
38
19
6
74,5
37,3
11,8
70,6
27
14
1
52,9
27,5
2
- Sữa bò
<0,05
- Mật ong, nước đường
5. NCBSM là chính trong 6
36
48
94,1
<0,05
<0,05
tháng đầu
6. Cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài
sau 12 tháng tuổi
64
77,2
88
89,8
Kết quả bảng 3 cho thấy tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành đúng theo các
khuyến cáo về NCBSM của bà mẹ được nâng cao hàng năm. Cụ thể: Hiểu biết về
NCBSM tăng từ 75,6% lên 97,5%; Thực hành cho trẻ bú sữa mẹ sớm sau sinh tăng từ
52,2% lên 70% (sau 1 năm can thiệp) và 74,5% (sau 2 năm can thiệp). Tỷ lệ này cao hơn
tỷ lệ cho trẻ bú sớm sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sanh tại bệnh viện Phụ sản Nhi bán
công Bình Dương năm 2009 (29,7%). Tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu từ 0% lên
13% (sau 1 năm can thiệp) và 27,5% (sau 2 năm can thiệp). Các thực hành khác như cho
trẻ bú sữa mẹ là chính, cho trẻ bú kéo dài sau 12 tháng tuổi cũng được cải thiện đáng kể.
100
90
80
70
60
50
40
30
20
10
0
Tỷ lệ cho trẻ bú sớm sữa mẹ trong
vòng 1 giờ đầu sau sanh
tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn
trong 6 tháng đầu
tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ là chính
trong 6 tháng đầu
tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sau
12 tháng tuổi
Trung bình cả nước
Thực hành NCBSM của
mô hình tại AG(năm
(năm 2010)
2011)
Biều đồ 1: So sánh các thực hành NCBSM với trung bình cả nước
18
Theo biểu đồ 1, các tỷ lệ thực hành NCBSM năm 2011 cao đều cao hơn mặt
bằng cả nước năm 2010 (Tỷ lệ cho trẻ bú sớm sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sanh là
74,5% so với trung bình cả nước là 61,7%, tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu là 27,5%
so với trung bình cả nước là 19,6%, tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ là chính trong 6 tháng đầu là
94,1% so với trung bình cả nước là 30,8%, tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sau 12 tháng
tuổi là 89,8% so với trung bình cả nước là 77%).
Tuy nhiên, hiện tại tỷ lệ thực hành NCBSM vẫn chưa cao. Để hiệu quả mô hình
tốt hơn nữa cần vượt qua các rào cản sau:
-
Thói quen cho bé uống nước, sử dụng thêm sữa ngoài, thôi bú sớm… vẫn còn
phổ biến.
-
-
-
Niềm tin của bà mẹ về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu chưa vững vàng.
Quảng cáo các loại sữa ngoài sữa mẹ còn thường xuyên.
Lực lượng bà mẹ nòng cốt còn mỏng và thiếu kiến thức, kỹ năng.
Tính thích hợp và khả năng tồn tại của mô hình:
-
-
-
Mô hình bước đầu đã được cộng đồng chấp nhận và ủng hộ.
Mô hình đã tồn tại từ năm 2009 và ngày càng phát triển đến nay.
Những chi phí chính hàng năm (tập huấn, sản xuất tài liệu truyền thông, hỗ trợ các
buổi họp nhóm của bà mẹ nòng cốt…) để duy trì mô hình là không lớn, có khả năng
trang trải từ kinh phí chương trình Dinh dưỡng của trung ương và địa phương trong
tương lai gần.
-
-
Mô hình đã được nhiều đoàn của các tỉnh bạn đến học tập chia sẻ kinh nghiệm, đặc
biệt Chương trình phòng chống Suy dinh dưỡng trẻ em Quốc gia đã mời trình bày
mô hình này trong các hội nghị khác nhau ở cấp quốc gia.
Mô hình đang được khuyến khích nhân rộng ra các huyện khác trong tỉnh.
5. Kết luận và kiến nghị
5.1. Kết luận
-
Mô hình “Tăng cường thực hành nuôi con bằng sữa mẹ dựa vào cộng đồng” tại 2
xã Bình Thạnh Đông và Phú Thọ huyện Phú Tân tỉnh An Giang thực hiện từ năm
2009 – 2011 là một mô hình trong đó nhóm các bà mẹ nòng cốt được xây dựng ở
từng thôn ấp đồng thời xây dựng cơ chế phối hợp giữa tình nguyện viên với nhóm
bà mẹ nòng cốt, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông lan tỏa giữa bà mẹ nòng cốt
với bà mẹ có con nhỏ và phụ nữ có thai.
-
Sau hơn 2 năm triển khai mô hình tỷ lệ hiểu biết về lợi ích NCBSM của bà mẹ có
con dưới 24 tháng tuổi tăng (75,6% → 97,5%), tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ trong vòng 1
giờ đầu sau sanh tăng (52,2% →74,5%), tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6
19
tháng đầu tăng (0%→27,5%), tỷ lệ cho trẻ ăn uống thêm ngoài sữa mẹ giảm (nước:
74,5%→52,9%, sữa bò: 37,3%→27,5%, mật ong hoặc nước đường: 11,8%→2%),
tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ là chính tăng (70,6%→94,1%) và tỷ lệ cho trẻ bú sữa mẹ kéo
dài sau 12 tháng tuổi tăng (77,2%→89,8%) .
-
-
Mô hình đã đáp ứng được mục tiêu đề ra ban đầu.
Hoạt động của mô hình giúp các bà mẹ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp cận
thông tin và chuyển đổi hành vi NCBSM theo hướng có lợi, góp phần thực hiện tốt
mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại địa phương, đảm bảo sự sống còn
và phát triển của trẻ nhỏ.
5.2. Kiến nghị
Mô hình đang phát huy tác dụng, tuy nhiên vẫn còn nhiều rào cản. Cần tiếp tục
đẩy mạnh các hoạt động truyền thông thường xuyên, liên tục. Xin đề xuất vài kiến nghị:
1. Tăng cường tập huấn kỹ thuật NCBSM cho bà mẹ nòng cốt và phát triển lực
lượng bà mẹ nòng cốt trong mỗi ấp để mở rộng cơ hội tiếp cận và giúp đỡ nhiều
bà mẹ hơn.
2. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động truyền thông về NCBSM, đa dạng hóa các hình
thức truyền thông như: truyền thông đại chúng, truyền thông trực tiếp của cán bộ
y tế, của tình nguyện viên, của bà mẹ nòng cốt và sản xuất nhiều loại tài liệu
truyền thông về NCBSM.
3. Phối hợp hoạt động với các chương trình y tế quốc gia, phòng chống suy dinh
dưỡng trẻ em, dân số - kế hoạch hóa gia đình… để phát huy hiệu quả và đảm bảo
tính bền vững cho mô hình.
4. Mở rộng hoạt động của mô hình đến các huyện còn lại trong tỉnh.
5. Cần có kinh phí và chính sách hỗ trợ cho tình nguyện viên và bà mẹ nòng cốt từ
dự án của UNICEF và chính quyền địa phương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo điện tử Phụ nữ, Chỉ có 10% trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, ngày 20/7/2010.
2. Huỳnh Văn Tú, Nguyễn Vũ Linh (2009), Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong
thời gian nằm viện sau sinh tại bệnh viện Phụ sản Nhi bán công Bình Dương 2009.
3. Unicef – Bài phát biểu của bà Lotta Sylwander –Lễ phát động tuần lễ NCBSM 2011
tại Việt Nam ngày 31/7/2011.
4. Unicef và Alive & Thrive, Kéo dài kỳ nghỉ thai sản lên 6 tháng. Đầu tư hôm nay cho
tương lai vững mạnh mai sau, Tháng 04/2012.
5. Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Điều tra Dinh dưỡng năm 2010.
6. Việt báo – Báo điện tử, Chỉ có 10% trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu, ngày
24/11/2006.
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Kỷ yếu các Đề tài nghiên cứu khoa học của hệ truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2013", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tai_lieu_ky_yeu_cac_de_tai_nghien_cuu_khoa_hoc_cua_he_truyen.pdf

