Bước đầu sử dụng vạt cơ xương vai lưng tái tạo khuyết hổng xương hàm dưới

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
BƯỚC ĐẦU SỬ DỤNG VẠT CƠ XƯƠNG VAI LƯNG  
TÁI TẠO KHUYẾT HỔNG XƯƠNG HÀM DƯỚI  
2
1
2
3
NGÔ THỊ XUÂN THẮM , LÊ THANH TUẤN , NGUYỄN DUY NHẬT , NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG  
TÓM TẮT  
Tổng quan: Tiêu chuẩn vàng cho việc tái tạo xương hàm dưới ngày nay vẫn là vạt xương mác tự do.  
Tuy nhiên, vạt cơ xương vai lưng là một lựa chọn hứa hẹn cho tái tạo xương hàm dưới, và có thể là lựa  
chọn đầu tiên trong một số trường hợp nhất định khi bệnh nhân không đủ khả năng hoặc cơ sở điều trị  
không đủ tài nguyên để thực hiện phẩu thuật vạt tự do.  
Kết quả: Có 6 bệnh nhân phẫu thuật cắt xương hàm dưới do bệnh lý bướu lành tính (2), K nướu răng  
(2), K niêm mạc má (1), Sarcoma xương (1) được tạo hình bằng vạt cơ xương vai lưng; khuyết hổng  
xương trung bình 7,5cm (6 – 10cm), có 2 ca tháo khớp thái dương hàm. Không có trường hợp nào nhiễm  
trùng hay dò vết mổ. 4/6 trường hợp đánh giá nhai nuốt tốt sau phẫu thuật và 2/6 ca đánh giá trung bình.  
Chưa ghi nhận biến chứng hay di chứng nơi cho vạt.  
Kết luận: Vạt cơ xương vai lưng là một lựa chọn tốt cho tái tạo khuyết hổng xương hàm dưới và có  
thể là lựa chọn thay thế cho các trường hợp vạt tự do thất bại; hoặc cơ sở điều trị không đủ tài nguyên để  
thực hiện vi phẫu.  
Keywords: Vạt cơ xương vai lưng, tái tạo xương hàm dưới.  
nhưng vẫn xuất hiện nhiều biến chứng hoại tử  
xương ghép sau mổ4.  
GIỚI THIỆU  
Phẫu thuật cắt xương hàm dưới do bướu lành  
Angrigiani và cộng sự mô tả giải phẫu học của  
động mạch vai sau cả nhánh sâu và nhánh nông,  
sử dụng vạt được nuôi bởi nhánh nông này như là  
một vạt có cuống để tái tạo khuyết hổng vùng đầu1.  
Vào năm 2008, Vacher đã mô tả vạt cơ xương vai  
lưng, bao gồm cả các mốc giải phẫu cung cấp một  
sự lựa chọn tuyệt vời cho việc tái tạo xương hàm  
dưới2,3. Từ đó áp dụng vạt cơ xương vai để tái tạo  
khuyết hỗng xương hàm dưới có kích thước lớn hơn  
và loại trừ được vấn đề hoại tử xương do thiếu  
mạch máu nuôi.  
tính hoặc ác tính đều gây ra những biến dạng về cấu  
trúc và ảnh hưởng đến chức năng nhai nuốt của  
bệnh nhân; vì thế phẫu thuật tái tạo khuyết hỗng  
xương hàm dưới là một thử thách cho phẫu thuật  
viên. Ngày nay, tiêu chuẩn vàng của tái tạo xương  
hàm dưới vẫn là vạt xương mác tự do. Một số vạt tự  
do khác cũng đươc sử dụng như vạt vai ngoài, vạt  
cánh tay ngoài kèm một phần xương quay.  
Tuy nhiên không phải trường hợp nào hay cơ sở  
điều trị nào cũng có điều kiện tiến hành phẫu thuật vi  
phẫu, do đó vạt cơ xương có cuống là một lựa chọn  
phù hợp tiếp theo cho ngưới bệnh khi vạt tự do  
không thể thực hiện.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
Báo cáo loạt ca.  
Một số trường hợp sử dụng mãnh xương ghép  
(không mạch máu) như ghép xương chậu đã được  
báo cáo từ lâu nhưng vẫn có một số hạn chế: khuyết  
hổng nhỏ (< 6cm), chủ yếu phải nằm cành ngang…  
Các bệnh nhân có khuyết hổng xương hàm  
dưới được phẫu thuật từ 8/2019 đến 10/2020, có tái  
tạo khuyết hổng bằng vạt cơ xương vai (bảng 1).  
Địa chỉ liên hệ: Ngô Thị Xuân Thắm  
Ngày nhận bài: 12/10/2020  
Ngày phản biện: 03/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020  
1 BSCKII. Phó Trưởng Khoa Ngoại đầu cổ, hàm mặt - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
2 Bác sĩ điều trị Khoa Ngoại đầu cổ, hàm mặt - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
3 ĐDCKI. Điều dưỡng Trưởng Khoa Ngoại đầu cổ, hàm mặt - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
103  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Tiêu chuẩn chọn bệnh  
định bờ xương vai, tách cơ và tiến hành cưa xương  
từ gai vai đến đáy xương vai với bề sâu khoảng  
2cm, đoạn xương có thể thu hoạch có thể lên đến  
>12cm. Bóc tách dọc theo cuống vạt và thu nhỏ dần  
sao cho bảo tồn được bó mạch vai sau. Việc bóc  
tách cuống mạch khá đơn giản đối với mọi phẫu  
thuật viên do giải phẫu động mạch dưới vai tương  
đối hằng định, cuống mạch khá và dễ tìm1. Khi  
cuống vạt đã đủ chiều dài để đưa lên khuyết hổng,  
bảo vệ vạt bằng bao ni-lông vô trùng nhằm đảm bảo  
vô trùng cho vạt trong lúc dịch chuyển bệnh nhân.  
Chuyển đổi tư thế bệnh nhân về nằm ngữa, kê gối  
dưới vai, tiến hành phẫu thuật cắt rộng sang thương  
xương hàm dưới có hoặc không có kèm nạo hạch  
cổ. Vạt được đưa vào khuyết hổng để tái tạo kết hợp  
xương, cẩn thận không làm cuống vạt quá căng  
trong lúc tái tạo, phải kiểm tra độ căng vạt trước khi  
đóng da ở cổ và lưng. Trường hợp tháo khớp thái  
thương hàm thì đầu xương vai sẽ được treo vào ổ  
khớp.  
Khuyết hỗng cành ngang/cành lên xương hàm  
dưới, không mất niêm mạc quá rộng (< 5cm), không  
thực hiện được vi phẫu.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Khuyết hỗng vùng trung tâm.  
Chấn thương gãy xương vai, đã nạo hạch cổ  
tận gốc trước đó…  
Kỹ thuật phẫu thuật  
Kỹ thuật lấy vạt  
Theo tác giả Vacher2,3, bệnh nhân được đặt ở  
tư thế nằm sấp ôm gối, cùng bên với khuyết hỗng  
xương hàm dưới, sát khuẩn và trải săn vô trùng,  
đánh dấu đường đi phẫu thuật và cuống mạch bằng  
viết vô khuẩn. Rạch da từ đỉnh xương vai dọc theo  
bờ trong xương vai tới đáy xương vai (hình 1), cắt  
và bóc tách cơ thang ra ngoài. Cơ trám sẽ được thu  
hoạch kèm xương vai để tạo vạt cơ xương và đảm  
bảo an toàn mạch máu. Nâng vạt lên, bóc tách  
xuống dưới bờ dưới xương tránh làm tổn thương  
cuống mạch máu động mạch vai sau (Hình 2). Xác  
Sau phẫu thuật bệnh nhân được nằm đầu trung  
tính, hơi nghiêng về phía tái tạo, nuôi ăn qua sonde  
trong khoảng 1 tuần.  
Chẩn đoán  
Khuyết hổng  
cành ngang+ cành lên (P)  
cành ngang XHD (P)  
Tuổi  
50  
Giới tính  
Nam  
Nam  
Nam  
Nam  
Nữ  
Kết quả  
K nướu răng T4N1M0  
Vạt sống. Không biến chứng  
Vạt sống. Không biến chứng  
Vạt sống. Không biến chứng  
Vạt sống .Không biến chứng  
Vạt sống. Không biến chứng  
Vạt sống .Không biến chứng  
K nướu răng T4N0M0  
43  
K niêm mạc má T4N0M0  
Bướu xương hàm dưới (T)  
Sarcom xương hàm dưới (P)  
Bướu xương hàm dưới (P)  
cành ngang XHD (P)  
66  
cành ngang + 1 phần cành lên XHD (T)  
cành ngang và cành lên (P)  
cành ngang XHD (P)  
36  
69  
41  
Nam  
Bảng 1. 6 bệnh nhân được phẫu thuật  
Hình 2. Vạt sau khi được thu hoạch  
Hình 1. Vạt và đường mổ được đánh dấu trên da  
trước phẫu thuật  
104  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
KẾT QUẢ  
Có 6 bệnh nhân (2 K nướu răng, 1 K niêm mạc  
má, 1 Sarcom xương hàm dưới, 2 bướu nguyên bào  
tạo men) được tái tạo bằng vạt cơ xương vai, trong  
đó có 5 năm, 1 nữ. Kích thước mất xương trung  
bình là 7,5cm (từ 6 – 10cm), có 2 trường hợp tháo  
khớp thái dương hàm với chiều dài mất xương  
10cm. Thời gian lấy vạt trung bình 55 phút.  
xương chỉ nên tái tạo vùng thân trước đến cành  
ngang xương hàm dưới kèm khuyết hổng da niêm  
lớn, cuống vạt thường không thể lên quá cao và dễ  
căng khi đưa lên xương hàm dưới. Trong khi đó, vạt  
cơ xương vai lợi thế hơn trong việc tái tạo cành  
ngang đến cành lên xương hàm dưới do có đủ chiều  
dài. Trong thực tiễn phẫu thuật của tác giả có thể thu  
hoạch chiều dài xương lên đến >12cm, giống với  
nghiên cứu của Vacher3. Động mạch vai sau thường  
không nằm trong phẫu trường phẫu thuật nạo hạch  
cổ tận gốc biến đổi, và có thể hoàn toàn bảo tồn,  
nên phù hợp để thực hiện điều trị trong bệnh lý  
ung thư.  
Tất cả vạt đều sống (100%), không ghi nhận  
biến chứng rò, hoại tử vạt 1 phần hay toàn phần.  
Không có bệnh nhân nào than phiền về cử động tay  
hay vai khó khăn; 4 bệnh nhân đánh giá khả năng  
nhai, cử động hàm tốt đạt 9-10/10 so với trước  
bệnh, 2 bệnh nhân đánh giá khả năng nhai, cử động  
hàm đạt 5 và 6/10 so với trước bệnh. Thời gian đặt  
sonde nuôi ăn trung bình 6 ngày sau phẫu thuật.  
Tuy nhiên, vạt cơ xương vai, không có da, nên  
phù hợp với các khuyết hổng chủ yếu ở xương mà  
phần niêm mạc hay da không mất nhiều, và đó cũng  
chính là khuyết điểm của vạt đối với các phẫu thuật  
có kèm khuyết hổng niêm mạc hay da nhiều5,6,7  
.
Bệnh nhân được chụp phim Panorex hoặc  
CTscan XHD 6 – 8 tháng sau phẫu thuật, có  
4 trường hợp ghi nhận có hình ảnh tạo can xương,  
2 trường hợp chưa đủ thời gian và đang điều trị  
hóa xạ.  
Ngoài ra, do bề dầy xương vai khá mỏng nên không  
thể cắm implant cho bệnh nhân sau phẫu thuật  
(độ dày của xương để có thể implant được là độ cao  
10mm, độ dày là 5.75mm4. Trong khi đó độ dày  
xương của vạt tác giả ghi nhân được là khoảng từ 2  
- 4mm cũng giống như tác giả Vacher2,3).  
Bảng 2. Đánh giá chức năng của bệnh nhân  
Sự nhai, cử  
đông  
Thời gian  
rút sonde  
N_G  
Bệnh nhân tự  
đánh giá độ  
hài lòng  
miệng  
K nướu răng  
T4N1M0  
6/10  
5/10  
6 ngày  
7 ngày  
5 ngày  
6 ngày  
8/10  
9/10  
9/10  
9/10  
K nướu răng  
T4N0M0  
K niêm mạc  
má T4N0M0  
10/10  
9/10  
Bướu xương  
hàm dưới (T)  
Sarcom  
xương hàm  
dưới (P)  
10/10  
9/10  
6 ngày  
7 ngày  
8/10  
9/10  
Bướu xương  
hàm dưới (P)  
BÀN LUẬN  
Mặc dù, tiêu chuẩn vàng tái tạo khuyết hổng  
xương hàm dưới vẫn là vạt xương mác tự do;  
nhưng vẫn không thể bỏ qua được vai trò của vạt có  
cuống trong ngành phẫu thuật tái tạo5,6,7. Ngoài vạt  
cơ xương vai vẫn còn một số vạt có cuống khác để  
tái tạo xương hàm dưới như: vạt cơ ngực lớn kèm  
xương ức, vạt cơ ngưc lớn kèm mãnh xương sườn  
(sườn thứ 5)5,6,7. Tuy nhiên, mỗi vạt đều có lợi điểm  
lẫn khuyết điểm riêng. Hầu hết mỗi vạt chỉ phù hợp  
để tái tạo một khuyết hổng ở 1 vị trí nhất định tại  
xương hàm dưới. Ví dụ như vạt cơ ngực lớn kèm  
Hình 3. Xquang răng toàn cảnh Sarcom xương hàm  
dưới bên (P) trước và sau phẫu thuật 6 tháng.  
105  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
khuyết hổng xương hàm dưới mà không thể tái tạo  
bằng vạt tự do, dễ dàng chấp nhận cho bệnh nhân  
có tài nguyên ít, hoặc đối với cơ sở điều trị không đủ  
khả năng thực hiện phẫu thuật vi phẫu; thì đây là  
một trong những lựa chọn đáng tin cậy.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Angrigiani C, Grilli D, Karanas YL, et al. The  
dorsal scapular island flap: an alternative for  
head, neck, and chest reconstruction. Plast  
Reconstr Surg. 2003; 111: 67Y78.  
2. Vacher C. The osteo-muscular dorsal scapular  
(OMDS) flap. Anatomic basis of a new pedicled  
flap for mandibular reconstruction. Surg Radiol  
Anat. 2008; 30:233Y238.  
Hình 4. Hình ảnh bệnh nhân cử động nhai,  
mở miệng, cử động vai và sẹo mổ sau phẫu thuật  
6 tháng  
Trong 6 bệnh nhân được phẫu thuật, chúng tôi  
ghi nhận khuyết hổng xương hàm dưới trung bình  
từ 6cm đến 10cm. Chiều dài xương vai lấy được từ  
8 - 10cm phù hợp cho tái tạo khuyết hổng ở cành  
ngang. Theo kinh nghiệm các tác giả chỉ nên tái tạo  
từ cành ngang xương hàm dưới đến cành lên,  
không nên tái tạo đoạn thân trước do sự hạn chế  
của cuống vạt và mức độ bền vững của xương vai  
khi độ dày chỉ khoảng 4mm.  
3. Vacher C, Lkah C. The osteomuscular dorsal  
scapular (OMDS) flap: an alter - native technique  
of mandibular reconstruction. J Plast Reconstr  
Aesthet Surg. 2010; 63: 198Y204.  
4. Frodel, Jr JL, et al. "Osseointegrated implants: a  
comparative study of bone thickness in four  
vascularized  
bone  
flaps."  
Plastic  
and  
reconstructive surgery 92.3 (1993): 449 - 55.  
5. Chen WL, Chang SH, Ye JT, et al. A pedicled  
mandibular osteomuscular flap for reconstructing  
composite mandibular defects. Oral Surg. 2010;  
3: 16Y21.  
Đánh giá sẹo mổ: Sẹo mổ vai không ảnh hưởng  
thẩm mỹ, đồng thời còn dấu được, không ảnh  
hưởng giao tiếp của bệnh nhân, can xương hình  
thành 6 – 8 tháng sau phẫu thuật cho thấy khả năng  
lành tốt đầy hứa hẹn của vạt.  
6. Cuono CB, Ariyan S. Immediate reconstruction  
of a composite mandibular defect with a regional  
osteomusculocutaneous flap. Plast Reconstr  
Surg. 1980; 65:477Y484.  
Về nơi cho vạt, nghiên cứu của chúng tôi tương  
tự tác giả Vacher3 và các tác giả khác, đều không  
ghi nhận biến chứng về cử động tay hay vai của  
bệnh nhân sau phẫu thuật. Điều này cũng dễ hiểu do  
vùng lấy vạt không có nhiều thần kinh chi phối quan  
trọng và cơ trám ít vai trò về chức năng cử động hơn  
là cơ thang.  
7. Pereira MD, Marques AF, Brenda E, et al.  
Immediate reconstruction of the central segment  
of  
the  
mandible  
using  
the  
masseter  
osteomuscular flap. Plast Reconstr Surg. 1997;  
99: 1749Y1754.  
Nuôi ăn bằng sonde là cần thiết cho bệnh nhân  
để đảm bảo sự lành thương, tránh nhiễm trùng vùng  
miệng sau phẫu thuật nhất là trường hợp mất một  
phần niêm mạc miệng.  
8. Nthumba, Peter M. "Use of the osteomuscular  
dorsal scapular flap in the reconstruction of  
mandibular defects." Annals of Plastic Surgery  
70.1 (2013): 53 - 56.  
KẾT LUẬN  
Vạt cơ xương vai là một sự lựa chọn hợp lý và  
có thể là lựa chọn đầu tiên cho nhưng bệnh nhân có  
106  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ABSTRACT  
Objection: The gold standard for mandibular defect reconstruction is the fibular free flap. Nevertheless, the  
pedicled osteomuscular dorsal scapular flap as a reconstructive tool offers promise for mandibular defect  
reconstruction, and may be a first choice if hospital factors have resource-limited settings as patient don’t have  
enough resource to make a microsurgery.  
Results: In 6 patients, mandibular defects resulting from the excision of benign tumors (2), carcinoma lower  
gingiva (1), carcinoma mucosa (1) and sarcoma mandibula were reconstructed by using the pedicled osteomuscular  
dorsal scapular flap; average defects is 7.5cm (6 - 10cm), with two cases had remove temporal joint; There were no  
cases had infection and fistula. 4/6 patients were satisfied with chewing and swallowed after reconstruction, 2/6  
patiens evaluated as average. No flaps had complain or sequelae.  
Conclusion: The pedicled osteomuscular dorsal scapular flap is an excellent choice for mandibular  
reconstruction; it may serve as the primary choice in patients with vascular pathology that precludes free tissue  
transfer, as well as in resource-limited environments, as a secondary choice after a failed free flap reconstruction  
Keywords: The pedicled osteomuscular dorsal scapular flap, mandibular reconstruction.  
107  
pdf 5 trang yennguyen 19380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu sử dụng vạt cơ xương vai lưng tái tạo khuyết hổng xương hàm dưới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_su_dung_vat_co_xuong_vai_lung_tai_tao_khuyet_hong_x.pdf