Quy trình xây dựng chuẩn đánh giá năng lực trong dạy học môn Công nghệ ở trường Trung học Phổ thông

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 57-62  
QUY TRÌNH XÂY DỰNG CHUẨN ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC  
TRONG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  
Ngô Văn Tới - Viện Sư phạm kĩ thuật, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội  
Ngày nhận bài: 16/01/2019; ngày sửa chữa: 29/01/2019; ngày duyệt đăng: 31/01/2019.  
Abstract: Teaching, testing and assessing in the direction of developing learners' competency is  
the goal of innovation in education in general and general education in particular. In order to  
achieve this objective, it is necessary to build a specific scientific and theoretical basis for each  
subject. In this article, we analyze the characteristics of Technology in the high school and show  
theories about the development zone - Lev Vygotsky, the question of response theory and the  
Rasch model - Georg Rasch, Robert Glaser's theory of competency development line. On that  
basis, we propose a process of developing standards for competence assessment in teaching  
Technology in high school.  
Keyword: Competency, standards, test, assessment.  
giản đến phức tạp. Tùy theo NL của mỗi HS mà giáo viên  
cóthể chọn những nhiệmvụ phù hợp. Bảnthân HScũngcó  
thể chọn những công cụ này để tự đánh giá NL của mình,  
từ đó có hướng phấn đấu, rèn luyện nâng cao khả năng.  
Thang đo trong đánh giá NL được quy chuẩn theo  
mức độ phát triển NL của người học, chứ không quy  
chuẩn theo việc người đó có đạt hay không một nội dung  
đã được học. Do đó, đánh giá NL tập trung vào mục tiêu  
đánh giá sự tiến bộ của người học so với chính họ hơn là  
mục tiêu đánh giá, xếp hạng giữa các người học với nhau.  
1. Mở đầu  
Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn  
diện GD-ĐT có mục tiêu là chuyển đổi giáo dục sang  
hướng phát triển năng lực (NL) người học. Đây là một  
trong những chuyển biến căn bản, có thể khắc phục được  
một số tồn tại của giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông  
nói riêng. Cùng với việc dạy học theo định hướng phát  
triển NL người học, thì công tác kiểm tra, đánh giá kết  
quả học tập cũng cần phải được đổi mới sang hướng tiếp  
cận NL. Để thực hiện được mục tiêu này đối với từng  
môn học cụ thể cần phải xây dựng được chuẩn NL.  
Bài viết phân tích đặc điểm môn Công nghệ ở trung  
học phổ thông, trình bày các lí thuyết về vùng phát triển  
- Lev Vygotsky, lí thuyết đáp ứng câu hỏi và mô hình  
Rasch - Georg Rasch, lí thuyết về đường phát triển NL  
của Robert Glaser, từ đó đề xuất quy trình xây dựng  
chuẩn đánh giá NL trong dạy học môn Công nghệ. Đây  
là cơ sở để xây dựng chuẩn NL cho từng NL cụ thể.  
Thời điểm đánh giá: Đánh giá ở mọi thời điểm của  
quá trình dạy học, chú trọng đến đánh giá trong khi học.  
Kết quả đánh giá: NL người học phụ thuộc vào độ khó  
của nhiệmvụ/câuhỏi/bài tậpđã hoànthành; thực hiện nhiệm  
vụ càng khó, càng phức tạpsẽ được coi là có NLcao hơn.  
2.1.2. Nguyên tắc đánh giá năng lực  
Mục đích đánh giá phải rõ ràng và phù hợp với hoàn  
cảnh, đánh giá phải nhằm mục đích phát triển khả năng  
học tập của HS chứ không chỉ là khâu cuối cùng của quá  
trình dạy học/giáo dục, thực hiện mục đích giải trình.  
Chứng cứ thu thập phải chứng minh được rằng người học  
có thể thực hiện theo các tiêu chuẩn cụ thể. Cách thức  
đánh giá xuất phát từ các đặc điểm kĩ thuật của tập hợp  
kết quả đầu ra nêu trong chuẩn NL.  
Đánh giá phải xác thực và có ý nghĩa: Loại bài tập  
lựa chọn cho đánh giá phải gần với hiện thực cuộc sống  
của HS, tương tự như hoạt động học tập trên lớp mà  
không gây áp lực như bài kiểm tra truyền thống.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Bản chất, nguyên tắc đánh giá năng lực  
2.1.1. Bản chất của đánh giá năng lực  
Mục đích của đánh giá NL: Đánh giá khả năng vận  
dụng các kiến thức, kĩ năng đã học được vào giải quyết  
vấn đề thực tiễn của cuộc sống. Đánh giá vì sự tiến bộ  
của người học so với chính mình.  
Ngữ cảnh đánh giá: Gắn với ngữ cảnh học tập và thực  
tiễn cuộc sống của học sinh (HS).  
Nội dung đánh giá: Những kiến thức, kĩ năng, thái độ  
ở nhiều môn học, nhiều hoạt động giáo dục và những trải  
nghiệm xã hội của HS trong cuộc sống được quy chuẩn  
theo các mức độ phát triển NL của người học.  
Côngcụđánhgiá:Làhệthốngcácnhiệmvụ/câuhỏi/bài  
tập trong tình huống bối cảnh thực, từ dễ đến khó, từ đơn  
Các loại hình đánh giá phải đa dạng và bài tập đánh  
giá phải phức hợp: Có nhiều cách giải quyết như sử dụng  
nhiều loại hình, công cụ đánh giá, đặc biệt là dạng tự luận  
ngắn và tự luận mở rộng,... để HS phát huy NL suy ngẫm  
dựa trên trải nghiệm cá nhân, phát huy tính sáng tạo.  
57  
Email: toinv25@gmail.com  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 57-62  
Đánh giá phải đảm bảo độ giá trị mà không mang tính  
+Vùngphát triểngần(ZPD)là vùngnhậnthức mà ởđó  
định kiến: Độ giá trị của mỗi công cụ đánh giá là sự phù hợp các chức năng tâm lí đang trưởng thành nhưng chưa chín  
vàchínhxáctừcácnhậnđịnhđượcrútratừđiểmsốkiểmtra. muồi, thể hiện khi trẻ hoànthành được nhiệmvụ với sựhợp  
tác, hỗ trợ của người khác (giáo viên, bạn bè, người lớn).  
Đánh giá phải đảm bảo độ tin cậy: Độ tin cậy là tính  
ổn định của kết quả đánh giá, tức là có điểm số tương tự  
giữa các lần đo khi không có những tác động đáng kể.  
Kết quả đánh giá phải giúp người đánh giá ra các  
quyết định về việc HS đạt tới mức độ nào của NL và lập  
kế hoạch can thiệp sư phạm để đảm bảo HS có thể cải  
thiện NL bản thân.  
2.2. Chuẩn và cơ sở xây dựng chuẩn đánh giá năng lực  
2.2.1. Chuẩn đánh giá năng lực  
Hình 1. Vùng phát triển hiện tại  
và vùng phát triển gần của HS  
Trong lĩnh vực đánh giá trong giáo dục, Graham  
Maxwell (2002) tổng hợp rằng có ít nhất 5 cách sử dụng  
khác nhau về thuật ngữ “chuẩn” (standard), đó là:  
- Georg Rasch với lí thuyết đáp ứng câu hỏi và mô  
(1) Chuẩn là các quy tắc, hướng dẫn đạo đức (điều  
nên làm) mang tính mong muốn nhưng không bắt buộc;  
(2) Chuẩn là các quy định, quy tắc, nguyên tắc, các  
yêu cầu pháp lí, chế định (điều phải làm) mang tính bắt  
buộc được phê duyệt bởi tổ chức có trách nhiệm;  
hình Rasch [1]:  
+ Đối với 1 câu hỏi, người có NL cao có xác suất trả  
lời đúng lớn hơn người có NL thấp.  
+ Đối với 1 người, câu hỏi khó có xác suất trả lời  
đúng thấp hơn câu hỏi dễ.  
(3) Chuẩn là các mức chuẩn (benchmarks) cần đạt,  
mô tả những gì kì vọng người học sẽ đạt (có thể là định  
tính và/hoặc định lượng) để đáp ứng mục tiêu giáo dục;  
- Robert Glaser đã đề xuất lí thuyết đường phát triển  
NL trên cơ sở “giải thích dựa trên tiêu chí”. Đó là việc tiếp  
nhận các kiến thức có thể được xem như 1 đường liên tục,  
bao gồm sự thành thạo từ thấp đến cao. Các giai đoạn liên  
tục này được xác định bởi các tiêu chí hành vi, trong đó  
chỉ rõ 1 mức độ cụ thể về sự thành thạo. Do đó, mục đích  
của việc giải thích theo tiêu chí là “khuyến khích sự phát  
triển của cá nhân dọc theo đường phát triển NL tăng dần”.  
Vậy giải thích dựa theo tiêu chí là mô tả thành tích của cá  
nhân sau khi họ hoàn thành nhiệm vụ. Trên cơ sở này  
Glaser đưa ra mô hình tổng thể (hình 2) [1]:  
(4) Chuẩn giá trị (merit standards) áp dụng cho đánh  
giá chất lượng/thành tích thực hiện 1 nhiệm vụ hoặc 1  
khóa học. Nó làm tăng sự nhất quán của các định nghĩa  
giữa những người đánh giá để làm cho đánh giá trở lên  
minh bạch - đây là vấn đề của sự điều tiết trong đánh giá;  
(5) Chuẩn phát triển (development standards) cho  
phép xác định tình trạng hiện tại của HS dựa theo đường  
phát triển (biến ẩn) trong học tập [dẫn theo 1].  
Như vậy mục tiêu giáo dục, chuẩn giáo dục và kết  
quả học tập đều mô tả về những gì người học cần phải  
biết và có thể làm.  
KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG  
NL cao  
2.2.2. Cơ sở xây dựng chuẩn đánh giá năng lực  
Đánh giá kết quả học tập theo tiếp cận NL suy cho  
cùng là giúp HS tiến bộ dần trên con đường học tập ngày  
càng phức tạp của kiến thức, kĩ năng và NL. Việc xây  
dựng chuẩn đánh giá NL là cơ sở để đánh giá kết quả học  
tập theo NL. Trong bài viết này, chúng tôi xây dựng  
chuẩn đánh giá kết quả học tập môn Công nghệ dựa trên  
cơ sở kết hợp lí thuyết nền tảng của Lev Vygotsky,  
Robert Glaser và Georg Rasch [1]:  
Chỉ số hành vi  
Chỉ số hành vi  
Chỉ số hành vi  
Chỉ số hành vi  
Đánh giá NL  
thực hiện của  
HS  
Chỉ số hành vi  
Chỉ số hành vi  
Chỉ số hành vi  
Chỉ số hành vi  
Chỉ số hành vi  
- Lev Vygotsky với lí thuyết về vùng phát triển, đã đưa  
ramôhìnhpháttriểncủamỗiHSgồmhaivùng(hình1)[1]:  
+ Vùng phát triển hiện tại (ZAD) là vùng nhận thức  
(kiến thức, kĩ năng) mà ở đó các chức năng tâm lí đạt độ  
chín muồi, trẻ tự giải quyết nhiệm vụ không cần giúp đỡ  
từ bên ngoài.  
Chưa có NL  
Hình 2. Diễn giải tiêu chí  
như đường phát triển NL thực hiện  
58  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 57-62  
Trên cơ sở lí thuyết NL tiềm ẩn (latent trait theory) điểm này thể hiện rất rõtrong nội dung môn học như tính:  
của Andrich (1978) và Master (1982) và mô hình Rasch Cụ thể - phản ánh những đối tượng mà HS có thể tri giác  
với dạng thức đánh giá từng phần, Glaser đưa ra khái trực tiếp trên đối tượng hay mô hình (sản phẩm, vật mẫu,  
niệm “tiêu chí chất lượng” - là việc sắp xếp tất cả các thao tác..); Trừu tượng - các khái niệm, nguyên lí, quá  
hành vi theo các mức độ tăng dần (hình 3). Thành tích trình kĩ thuật - công nghệ không thể trực tiếp tri giác  
được giải thích không chỉ hoàn thành nhiệm vụ mà còn được, để thể hiện các nội dung này trong sách giáo khoa  
cả mức độ chất lượng của nó.  
phải mô phỏng chúng bằng các kí hiệu, hình vẽ, sơ đồ;  
Kiến thức và kĩ năng  
Sự thành thạo cao  
Mức phát triển 5  
Mức phát triển 4  
Tiêu chí hành vi  
Tiêu chí hành vi  
Tiêu chí hành vi  
Tiêu chí hành vi  
Đánh giá  
thực hiện  
của HS  
Mức phát triển 3  
Mức phát triển 2  
Mức phát triển 1  
Tiêu chí hành vi  
Sự thành thạo thấp  
Hình 3. Sơ đồ các mức độ phát triển NL của Glaser  
Tính thực tiễn - là một thuộc tính vốn có của kĩ thuật vì  
mục đích, đối tượng và kết quả nghiên cứu kĩ thuật công  
nghệ đều xuất phát từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn và  
được kiểm nghiệm trong thực tiễn; Tính tổng hợp, tích  
hợp - là môn học ứng dụng, hàm chứa những phần tử  
kiến thức thuộc nhiều môn khoa học khác nhau: Toán,  
Hoá học, Vật lí, Kinh tế học, Xã hội học,… nhưng lại  
liên quan, thống nhất với nhautrong việc phản ánh những  
đối tượng kĩ thuật cụ thể. Ví dụ trong kĩ thuật điện, việc  
chế tạo các thiết bị điện/máy điện đều dựa trên nguyên lí  
cảm ứng điện từ, thiết kế mạch điện phải dựa trên định  
luật Ôm; các linh kiện điện tử đều dựa trên tính chất của  
các lớp tiếp giáp của 2 chất bán dẫn npn. Những đặc điểm  
này cho thấy việc dạy học kiểm tra đánh giá kết quả học  
tập môn Công nghệ theo tiếp cận NL có nhiều thuận lợi.  
Glaser đề xuất tiến trình đánh giá NL như sau:  
(1) Xác định mô hình biến ẩn (là NL cần phát triển ở  
HS);  
(2) Mô tả biến ẩn bởi các minh chứng có thể quan sát,  
đo lường được (tiêu chí);  
(3) Xác định đường phát triển NL gồm nhiều mức độ  
mà sẽ được sử dụng để giải thích minh chứng.  
(4) Đưa ra cách thức đánh giá đảm bảo việc thực hiện  
của HS có thể đạt được trên đường phát triển NL.  
(5) Giám sát tiến trình đánh giá tại nhiều thời điểm  
khác nhau. Điều này được thực hiện bằng cách thu thập  
minh chứng về sự thành thạo, giải thích mức độ trên  
đường phát triển NL.  
2.3. Đặc điểm môn Công nghệ ở trường trung học  
phổ thông  
2.4. Quy trình xây dựng chuẩn đánh giá năng lực trong  
dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông  
Môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông gồm  
hai phân môn là Công nghệ - Công nghiệp và Công nghệ  
- Nông nghiệp. Môn Công nghệ phần Công nghiệp được  
dạy ở lớp 11, 12. Trong bài viết này chỉ áp dụng đối với  
phân môn Công nghiệp.  
Vận dụng các học thuyết vùng phát triển - Lev  
Vygotsky, lí thuyết đáp ứng câu hỏi và mô hình Rasch -  
Georg Rasch, đường phát triển NL của Robert Glaser và  
phương pháp đo lường biến ẩn, chúng tôi đề xuất xây  
Đặc điểm nội dung môn Công nghệ là mang tính cụ dựng chuẩn đánh giá NL trong dạy học môn Công nghệ  
thể, trừu tượng, thực tiễn, tổng hợp, tích hợp. Các đặc trung học phổ thông theo quy trình (hình 4):  
59  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 57-62  
Bước 1: Phát triển bản đồ NL môn Công nghệ  
Bước 2: Thiết kế các nhiệm vụ/câu hỏi thử nghiệm đo lường  
NL dựa trên mạch nội dung môn Công nghệ  
Bước 3: Mô tả phạm vi thực hiện các nhiệm vụ/câu hỏi của HS  
qua hệ thống các tiêu chí chất lượng của từng hành vi  
Bước 4: Thiết lập mô hình đo lường (chẳng hạn IRT) để cân bằng NL với độ khó  
Bước 5: Điều chỉnh lại đường NL và chuẩn NL đã phác thảo ở bước 1  
Hình 4. Quy trình xây dựng chuẩn đánh giá NL trong dạy học môn Công nghệ  
Tên NL  
Nội dung môn Công nghệ  
Thành tố 1  
Thành tố 2  
Nội dung 1  
Nội dung 2  
Nội dung 3  
Nội dung 4  
Lĩnh  
vực: A  
Hành vi 1  
Hành vi 2  
Hành vi ...  
Lĩnh  
vực: B  
Thành tố ....  
Nội dung...  
Nội dung n  
Lĩnh  
vực:C  
Hình 5. Mô hình lồng ghép NL vào nội dung môn Công nghệ  
nhận thức công nghệ, giao tiếp công nghệ, sử dụng công  
nghệ, đánh giá công nghệ, thiết kế kĩ thuật [2].  
Bước 1: Phát triển bản đồ NL môn Công nghệ  
Ở bước này đề cập đến 4 nội dung là: khái niệm và  
cấu trúc NL công nghệ; phác họa đường phát triển NL  
công nghệ; lồng ghép NL công nghệ vào nội dung môn  
Công nghệ ở trung học phổ thông; dự thảo chuẩn đánh  
giá NL công nghệ qua môn Công nghệ.  
(2) Phác họa đường phát triển NL: Trên cơ sởcấu trúc  
NL đã đề xuất ở nội dung (1) đề xuất đường phát triển  
NL dự kiến với các mức độ cụ thể. Các mức độ này dựa  
trên việc xem xét khả năng thực hiện các hành vi, thành  
tố của NL.  
(1) Khái niệm và cấu trúc NL: Ở nội dung này phải  
đưa ra các khái niệm về loại NL đó dựa trên các khái  
(3) Lồng ghép NL công nghệ vào nội dung môn Công  
niệm NL và đặc điểm lĩnh vực học tập. Cấu trúc NL cần nghệ ở trung học phổ thông: Sau khi đã xác định được  
bám sát vào thành phần của NL công nghệ được đề cập cấu trúc và mô tả đường phát triển NL, sẽ tiến hành tích  
trong Chương trình giáo dục phổ thông mới ban hành: hợp NL với nội dung môn Công nghệ hiện hành (hình 5).  
60  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 57-62  
(4) Dự thảo chuẩn đánh giá NL môn Công nghệ: giải pháp khác nhau của vấn đề/nhiệm vụ/câu hỏi đặt ra  
Chuẩn đánh giá NL được xác định theo mức độ NL từ  
thấp đến cao, giữa các lớp có sự giao thoa và những bước  
phát triển.  
Bước 2: Thiết kế các nhiệm vụ/câu hỏi thử nghiệm đo  
lường NL dựa trên mạch nội dung môn Công nghệ  
và số tiêu chí chất lượng tương ứng của hành vi mà nó  
dự kiến đo.  
Bước 4: Thiết lập mô hình đo lường (chẳng hạn IRT)  
để cân bằng NL với độ khó  
Dữ liệu sau khi thu thập, được mã hóa/chấm điểm.  
Sau đó phân tích và xử lí theo mô hình IRT thông qua  
phần mềm Conquest. Quá trình phân tích cần lập bảng  
thông kê các chỉ số đo lường trên bài test gồm các cột thứ  
tự chung (TT-chung) thứ tự câu hỏi bài test theo độ khó  
(TT- câu hỏi bài test), Độ khó câu hỏi, Độ phù hợp với  
mô hình IRT. Các số liệu này được sắp xếp theo thứ tự  
độ khó giảm dần của các câu hỏi. Cụ thể được nêu như  
bảng mẫu (bảng 2):  
(1) Thiết kế công cụ: Mục đích chính là thử nghiệm  
chuẩn đánh giá NL trong dạy học môn Công nghệ, công  
cụ sẽ được thiết kế dựa trên chuẩn đề ra ở bước 1. Nhiều  
loại công cụ có thể dùng để thử nghiệm như test, bảng  
quan sát hành vi, thực hành, trình diễn....  
(2) Bảng mô tả quan hệ giữa mức độ NL và thành tố,  
hành vi được xây dựng gồm 2 chiều: 1 chiều là các thành  
tố, chiều còn lại là mức độ NL trên đường phát triển NL  
dự kiến (bảng 1).  
Bảng 1. Bảng mô tả quan hệ giữa mức NL và thành tố, hành vi  
Mức  
1
2
3
4
5
Thành tố  
Thành tố 1  
Thành tố 2  
..................  
Thành tố n  
Hành vi 11  
Hành vi 12  
………..  
Hành vi 21  
Hành vi 22  
……….  
Hành vi 31  
Hành vi 32  
………….  
Hành vi 3n  
Hành vi 41  
Hành vi 42  
…………  
Hành vi 4n  
Hành vi 51  
Hành vi 52  
……………  
Hành vi 5n  
Hành vi 1n  
Hành vi 2n  
(3) Thiết kế nhiệm vụ/câu hỏi: Mỗi nhiệm vụ/câu hỏi  
được thiết kế/định vị theo ba trục: kiểu tình huống thực  
tiễn (cuộc sống cá nhân, nhà trường, cộng đồng, khoa  
học); ý tưởng bao quát/nội dung công nghệ (vẽ kĩ thuật,  
cơ khí, động cơ đốt trong, kĩ thuật điện tử, kĩ thuật điện);  
mức độ NL cần đo (hình 6 trang bên).  
Bảng 2. Bảng kết quả phân tích  
và xử lí câu hỏi theo mô hình IRT  
Độ khó  
Độ phù hợp  
TT -  
câu hỏi  
bài test  
câu hỏi  
với mô hình IRT  
Độ  
khó  
Sai  
số  
Khoảng  
biến thiên  
MNSQ  
T
1
...  
n
Bước 3: Mô tả phạm vi thực hiện các nhiệm vụ/câu  
hỏi của HS qua hệ thống các tiêu chí chất lượng của từng  
hành vi  
Phạm vi thực hiện nhiệm vụ/câu hỏi được hiểu là tất  
cả các hướng giải quyết có thể có đối với nhiệm vụ/câu  
hỏi đó. Mô tả phạm vi thực hiện nhiệm vụ/câu hỏi thực  
chất là việc mã hóa cho từng hướng giải pháp mà HS có  
thể đưa ra. Công việc này đòi hỏi phải có nhiều kinh  
nghiệm về chuyên môn và sự hiểu biết về tâm - sinh lí  
HS. Trong các bài test đo lường NL môn Công nghệ,  
chúng tôi sử dụng 2 dạng câu hỏi cơ bản là trắc nghiệm  
và tự luận được mã hóa:  
- Độ khó của câu hỏi được tính theo công thức:  
1
p
  
   
p
là hàm xác suất của đối  
trong đó  
   
1e  
b  
số NL , b là độ khó của câu hỏi.  
+ Yêu cầu: Các câu hỏi cần đủ khó để thí sinh không  
đáp ứng chuẩn sẽ trả lời sai, nhưng đủ dễ để những thí  
sinh đáp ứng chuẩn sẽ trả lời đúng (-2.5 ÷2.5).  
+ Câu hỏi rất dễ và rất khó thường không giúp phân  
biệt được khả năng của HS; câu hỏi có độ khó trung bình  
đánh giá tốt NL tiềm ẩn của HS.  
- Trắc nghiệm khách quan: Mã 1: chọn phương án  
đúng; Mã 0: chọn các phương án khác; Mã 8: chọn từ hai  
phương án trở lên; Mã 9: không lựa chọn phương án nào.  
- Chỉ số phù hợp với mô hình IRT: Đối với câu hỏi,  
người có NL cao thì sẽ có xác suất trả lời đúng lớn hơn  
người có NLthấp. Đối với thí sinh, câu hỏi khó có xác suất  
trả lời đúng thấp hơn câu hỏi dễ. MNSQ là chỉ số đánh giá  
- Với câu tự luận: sẽ được mã hóa nhiều hơn 2 loại  
phản ứng của HS, số lượng mã hóa tùy thuộc vào hướng  
61  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số 450 (Kì 2 - 3/2019), tr 57-62  
Nội dung môn  
Công nghệ  
NV1: các câu hỏi  
Mức độ  
NL cần đo  
NV2: các câu hỏi  
Bối cảnh thực tiễn  
Hình 6. Mô hình thiết kế nhiệm vụ/câu hỏi đo lường NL  
Độ khó  
3
2
1
0
Điểm cắt n  
Điểm cắt 2  
-1  
-2  
-3  
Điểm cắt 1  
Câu 1  
Câu 2  
Câu 3 Câu 4  
Câu n  
Câu hỏi  
Hình 7. Xác định điểm cắt trên thang đo độ khó của các nhiệm vụ/câu hỏi  
thống kê mức độ phù hợp của câu hỏi với mô hình IRT. ước tính giữa hai điểm cắt xấp xỉ bằng 1, nếu m là số  
Chỉ số MNSQ (Mean Square) càng gần 1 càng tốt; và điểm cắt thì sẽ có m+1 mức độ phát triển NL.  
T 2  
.
- Mô tả kĩ năng đo lường của các câu hỏi theo từng  
thành tố NL: dựa vào ma trận đề kiểm tra ban đầu xác  
định lại kĩ năng đo lường ở từng câu hỏi theo mức độ NL  
từng thành tố và các điểm cắt xác định ở trên. Cuối cùng,  
khái quát hóa mức độ phát triển NL môn Công nghệ. Thứ  
tự các câu hỏi được sắp xếp theo mức độ tăng hoặc giảm  
độ khó tương ứng (bảng 3).  
Bước 5: Căn cứ vào các nhiệm vụ /câu hỏi (đã được  
cân bằng ở bước 4) điều chỉnh lại đường NL và chuẩn NL  
Quá trình điều chỉnh chuẩn đánh giá NL đọc hiểu  
theo bốn bước sau: Xác định điểm cắt (cut - of score) để  
phân biệt sự phát triển NL theo các mức độ; Mô tả từng  
kĩ năng đo lường của tất cả các câu hỏi; Khái quát hóa  
Bảng 3. Kĩ năng đo lường của các câu hỏi theo từng thành tố  
Độ khó Thành tố 1 Thành tố 2 .......... Thành tố n  
TT-Câu hỏi  
Mức phát triển  
đường phát triển NL đọc hiểu; Điều chỉnh chuẩn đánh  
giá NL giải quyết vấn đề cuối mỗi cấp học (hình 7).  
- Khái quát hóa đường phát triển NL công nghệ: Từ  
các kĩ năng chi tiết ở từng mức độ của mỗi thành tố trong  
bảng, có thể khái quát hóa để được dấu hiệu bản chất cho  
mỗi mức độ phát triển NL. Đường phát triển NL và sự  
phát triển NL của các thành tố được khái quát hóa;  
- Xác định các điểm cắt bằng phương pháp  
Bookmark dựa trên dữ liệu thu thập được từ chính chuẩn  
đánh giá dự kiến, căn cứ vào phân bố độ khó của các câu  
hỏi ở bài test (sắp xếp theo thứ tự tăng dần). Khoảng cắt  
(Xem tiếp trang 56)  
62  
pdf 6 trang yennguyen 18860 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quy trình xây dựng chuẩn đánh giá năng lực trong dạy học môn Công nghệ ở trường Trung học Phổ thông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquy_trinh_xay_dung_chuan_danh_gia_nang_luc_trong_day_hoc_mon.pdf