Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp xã tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay

VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 109-114  
THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ  
TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG Ở TỈNH THÁI BÌNH  
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY  
Trần Thị Thu Hương - Nguyễn Trung Tiến  
Trường Đại học Thái Bình  
Ngày nhận bài: 20/3/2019; ngày chỉnh sửa: 15/4/2019; ngày duyệt đăng: 08/5/2019.  
Abstract: Managing staff fostering is an important activity in political schools. The article presents  
the results of surveying the current status of management activities for fostering key officials at  
commune level in training and retraining institutions in Thai Binh province. This current situation  
will help managers, schools to properly assess, adjust management activities to be more  
appropriate, improve the quality of training.  
Keyword: Management, training, fostering, key officials at commune level.  
1. Mở đầu  
2. Nội dung nghiên cứu  
Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cơ sở, 2.1. Khách thể và phương pháp nghiên cứu  
nơi thực hiệntrực tiếp và cụthể các chủ trương của Đảng,  
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, việc quan  
tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở xã, phường, thị trấn  
(gọi tắt là cán bộ cấp xã) nói chung, cán bộ chủ chốt cấp  
xã (CCCX) nói riêng có đủ phꢀm chất, năng lực là nhiệm  
vụ thường xuyên, có ý nghĩa hết sức quan trọng cả trước  
mắt cũng như lâu dài trong sự nghiệp cách mạng của  
Đảng. Để đội ngũ cán bộ CCCX có đủ trình độ chuyên  
môn, nghiệp vụ hoàn thành tốt công việc tại địa phương  
thì cần không ngừng bồi dưỡng thường xuyên. Để hoạt  
động bồi dưỡng mang lại hiệu quả cao thì việc quản lí  
(QL) hoạt động đó giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.  
Hoạt động bồi dưỡng cán bộ CCCX có thể diễn ra ở các  
Để tìm hiểu thực trạng QL hoạt động bồi dưỡng cán  
bộ CCCX tại các cơ sở ĐT, BD ở tỉnh Thái Bình trong bối  
cảnh hiện nay, chúng tôi khảo sát 430 cán bộ quản lí  
(CBQL), giảng viên và cán bộ CCCX (học viên) tại các cơ  
sở ĐT, BD cán bộ CCCX của tỉnh Thái Bình bằng nhiều  
phương pháp nghiên cứu khác nhau, như: Điều tra bằng  
phỏng vấn, tọa đàm, xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS...  
2.2. Kết quả nghiên cứu  
2.2.1. Nhận thức của cán bộ quản lí, giảng viên và cán bộ  
chủ chốt cấp xã tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở tỉnh  
Thái Bình về tầm quan trọng của công tác quản lí bồi  
dưỡng cán bộ chủ chốt cấp xã trong bối cảnh hiện nay  
Bảng 1. Nhận thức của CBQL, giảng viên, học viên  
CBQL, giảng viên Học viên  
Chung  
TT  
Mức độ  
SL  
125  
24  
%
SL  
%
SL  
360  
65  
%
1
2
3
Quan trọng  
83,3  
16,0  
0,7  
235  
41  
83,9  
14,6  
1,4  
83,7  
15,1  
1,2  
Bình thường  
Không quan trọng  
Tổng  
1
4
5
150  
100  
280  
100  
430  
100  
trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, trường Chính  
trị tỉnh, trường đại học… trong phạm vi bài viết này gọi  
chung là các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng (ĐT, BD).  
Kết quả khảo sát cho thấy CBQL, giảng viên, và học  
viên ở các cơ sở ĐT, BD cán bộ CCCX của tỉnh Thái Bình  
đã đánh giá rất cao tầm quan trọng của công tác QL HĐBD  
Bài viết trình bày thực trạng QL hoạt động bồi dưỡng cánbộ CCCX; thể hiệncótới 83,7% ý kiếnđánh giá ởmức  
cán bộ CCCX xã tại các cơ sở ĐT, BD cán bộ CCCX ở độ “quan trọng”, chỉ có 15,1% ý kiến đánh giá “bình  
tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay; tìm hiểu một số thường”, và 1,2% ý kiến cho rằng “không quan trọng”.  
yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng và có những đánh giá Như vậy, qua các ý kiến đánh giá của CBQL, giảng viên và  
chung về thực trạng đó.  
học viên cho thấy đây là hoạt động có vai trò quan trọng  
109  
Email: tranhuong082@gmail.com  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 109-114  
trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực và trình độ chuyên hoạchxâydựngcàngkhoa học,chitiết,bài bản... sẽ giúpcho  
môn, nghiệp vụ cũng như kĩ năng công tác cho cán bộ cấp việc thực hiệncác bước tiếptheo được dễ dàng, thuậnlợi.  
xã nói chung và cán bộ CCCX nói riêng.  
- Thực trạng tổ chức công tác bồi dưỡng: có 90,45%  
2.2.2. Thực trạng quảnlí bồi dưỡngcán bộchủchốt cấpxã số người được hỏi đều đánh giá tốt và rất tốt về kết quả  
tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở tỉnh Thái Bình trong bối thực hiện nội dung này, chỉ có 2,59% ý kiến cho rằng  
cảnh hiện nay  
công tác này chưa được thực hiện tốt.  
Bảng 2. Thực trạng QL bồi dưỡng cán bộ CCCX tại các cơ sở ĐT,BD  
Rất tốt  
Tốt  
Chưa tốt  
Điểm  
trung bình  
(ĐTB)  
Thứ  
bậc  
TT  
Nội dung đánh giá  
LS  
%
LS  
%
LS  
%
Xây dựng kế hoạch  
bồi dưỡng  
1
2
3
160  
37,67  
33,48  
29,3  
248  
57,67  
20  
41  
25  
4,65  
2,65  
2,59  
2,61  
1
4
3
Tổ chức công tác bồi  
dưỡng  
144  
126  
245  
279  
56,97  
64,88  
9,53  
5,81  
Chỉ đạo công tác bồi  
dưỡng  
Kiểm tra, đánh giá  
kết quả hoạt động bồi  
dưỡng  
4
122  
28,37  
299  
69,53  
9
2,09  
2,63  
2
Bảng 2 cho thấy, nội dung được đánh giá tốt nhất là  
xây dựng kế hoạch bồi dưỡng ĐTB = 2,65, xếp thứ 1,  
tiếp đến là nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động  
bồi dưỡng ĐTB = 2,63, xếp thứ 2; Chỉ đạo công tác bồi  
dưỡng có ĐTB = 2,61, xếp thứ 3 và cuối cùng là tổ chức  
công tác bồi dưỡng với ĐTB = 2,59, xếp thứ 4, cụ thể các  
nội dung được đánh giá như sau:  
+ Tổ chức về nguồn nhân lực: Các cơ sở ĐT, BD cán  
bộCCCXcủa tỉnhThái Bìnhcũngnhưcác đơnvị liênquan  
đều thành lập bộ phận đầu mối, phân công các cá nhân phụ  
trách một cách rõ ràng, cụ thể theo đúng chức năng, nhiệm  
vụ đảm bảo các công việc được vận hành khoa học theo kế  
hoạch đã xây dựng từ ban đầu. Xác định con người là yếu  
tố then chốt quyết định sự thành bại của mọi hoạt động,  
chính vì vậy việc bố trí, sắp xếp, phân công nhân sự đảm  
đương từng khâu trong chuỗi công việc bồi dưỡng vô cùng  
- Thực trạng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng: Công tác  
xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cán bộ CCCX bao gồm:  
xác định mục tiêu, nội dung, phương thức, thời gian, địa quan trọng. Tuy nhiên, vẫn còn hiện tượng một số cán bộ  
điểm tổ chức bồi dưỡng; dự kiến nội dung chương trình,  
đội ngũ QL, giảng viên/ báo cáo viên, dự kiến kinh phí,  
hệ thống cơ sở vật chất... phục vụ khóa bồi dưỡng.  
liên quan đến công tác bồi dưỡng cán bộ CCCX vẫn chưa  
làm hết trách nhiệm với công việc của bản thân, làm việc  
qua loa, dễ dãi với học viên vì cho rằng người học đều đã  
trưởngthành nên để họ tựgiác..., điều đó đôi khi ảnh hưởng  
tới kết quả chung của quá trình bồi dưỡng.  
ĐasốCBQL,giảngviên,vàcánbộCCCXđềuchorằng  
việc thực hiện nội dung này ở mức độ tốt và rất tốt (chiếm  
95,34%), chỉ có 4,65% số CBQL, giảng viên và học viên  
đánh giá việc thực hiện này chưa tốt. Qua trao đổi, các ý  
kiến đều cho rằng kế hoạch bồi dưỡng được xây dựng bài  
bản, khoa học, chi tiết, cụ thể rõ ràng, chỉ một số ý kiến cho  
rằngkế hoạchđược banhànhtácđộngtới thựctiễncôngtác  
của một số xã, phường, thị trấn trong tỉnh, điều này bắt  
nguồn từ việc kế hoạch bồi dưỡng do được xây dựng theo  
từng năm hành chính, chứ chưa được xây dựng theo giai  
đoạnvàinămmột.Quatraođổi,chúngtôinhậnthấynguyên  
nhân nội dung xây dựng kế hoạch bồi dưỡng được đánh giá  
ởthứ bậc số 1 bởi vì hầu hết các ý kiếnđều chorằng đối với  
mỗi một hoạt động, việc xây dựng kế hoạch sẽ góp phần rất  
lớn trong việc thành công hay thất bại của hoạt động đó, kế  
+ Tổ chức về thời gian, địa điểm, cơ sở vật chất:  
Được thực hiện nghiêm túc và đảm bảo thuận tiện, phù  
hợp cho học viên và các lực lượng tham gia bồi dưỡng.  
+ Tổ chức triển khai bồi dưỡng: Thực hiện theo đúng  
quy định, quy trình.  
Qua điều tra, khảo sát cho thấy: Công tác tổ chức bồi  
dưỡng cán bộ CCCX tại các cơ sở ĐT,BD ở tỉnh Thái  
Bình đã bước đầu đi vào nền nếp và có kết quả, để hiệu  
quả hoạt động này ngày càng được nâng cao hơn nữa thì  
CBQL cần chỉ đạo sát sao hơn, các lực lượng liên quan  
cần nâng cao thêm tinh thần trách nhiệm hơn đối với  
công việc mình được giao.  
110  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 109-114  
- Thực trạng chỉ đạo công tác bồi dưỡng: có 94,18% số quan, chính xác, thực chất. Các kết quả thu được ngay  
ýkiếnđượchỏiđềuđánhgiátốtvàrấttốtvềkếtquảthựchiện sau khóa bồi dưỡng đã phản ánh phần lớn những phꢀm  
nội dung này, 2,61% ý kiến cho rằng thực hiện chưa tốt. chất, năng lực thực tiễn của đối tượng được bồi dưỡng,  
TrongviệcchỉđạocôngtácbồidưỡngcánbộCCCX,CBQL Tuy chưa thật đầy đủ những cũng giúp nhà QL có định  
các cơ sởĐT, BDcũng nhưlãnh đạocác đơn vị liênquan đã hướng trong việc tổ chức thực hiện, đưa ra các biện pháp  
thực hiệncác nội dungcủa công tác chỉ đạo nhưsau:  
chỉ đạo qua những lần bồi dưỡng tiếp theo.  
- Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động  
bồi dưỡng: Được thực hiện nghiêm túc, bài bản với mục  
đích giúp cho các CBQL và cơ quan QL nắm bắt được  
đầy đủ, chính xác những thông tin cần thiết, so sánh,  
đối chiếu các nội dung liên quan phục vụ công tác bồi  
dưỡng. Công tác này không chỉ tập trung vào thời gian  
cuối của khóa bồi dưỡng (kiểm tra, thi...) mà được thực  
hiện suốt cả quá trình bồi dưỡng với mục đích kiểm tra  
để phát hiện kịp thời những hạn chế để có biện pháp  
khắc phục ngay tránh ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình  
bồi dưỡng.  
+ Chỉ đạo việc thực hiện nội dung bồi dưỡng: Theo  
đúng quy định về chương trình bồi dưỡng đối với cán bộ  
CCCX, cũng như sự chỉ đạo, kế hoạch của các đơn vị  
liên quan.  
+ Chỉ đạo về thời gian, địa điểm bồi dưỡng: Được thực  
hiện vào các thời điểm khác nhau trong năm, về cơ bản  
tươngđốiphùhợpvớitìnhhình, điềukiệnthựctếtrongtỉnh.  
+ Chỉ đạo về lực lượng, đối tượng bồi dưỡng: Theo  
quy định chung, theo kế hoạch đã được xây dựng và  
thống nhất. Việc chỉ đạo, giám sát quá trình thực hiện  
hoạt động bồi dưỡng đã được CBQL các đơn vị liên quan  
sâu sát, tuy nhiên vẫn còn có tình trạng học viên vắng  
mặt (mặc dù đều có lí do cụ thể), điều này đã ảnh hưởng  
đến hiệu quả bồi dưỡng. Nguyên nhân của vấn đề này là  
do học viên tham gia bồi dưỡng đều đang giữ những vị  
trí quan trọng tại địa phương nên đôi khi phát sinh những  
công việc đột xuất tại cơ sở cần giải quyết gấp.  
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng quản lí  
bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp xã tại các cơ sở đào tạo,  
bồi dưỡng ở tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay  
2.3.1. Yếu tố chủ quan (xem bảng 3)  
Nhậnxét:Theo đánh giácủa CBQL, giảng viênvà học  
viên về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến  
việc QL hoạt động bồi dưỡng (HĐBD) cán bộ CCCX mà  
các cơ sở ĐT, BD đã và đang triển khai ở mức độ trung  
+ Về kết quả bồi dưỡng: CBQL các đơn vị liên quan  
luôn chỉ đạo việc bồi dưỡng phải đảm bảo kết quả khách  
Bảng 3. Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến việc QL HĐBD cán bộ CCCX  
CBQL, giảng viên  
Học viên  
Chung  
TT  
Nội dung  
Tổng X (TB  
điểm chung)  
Thứ  
bậc  
Tổng X (TB  
điểm chung)  
Thứ  
bậc  
Tổng X (TB  
điểm chung)  
Thứ  
bậc  
Uy tín thương hiệu  
của cơ sở ĐT, BD  
1
2
371  
2,47  
2
673  
2,40  
5
1,044  
2,43  
3
Môi trường sư  
phạm của cơ sở  
ĐT,BD  
359  
2,39  
4
682  
2,44  
2
1,041  
2,42  
4
Điều kiện cơ sở vật  
chất  
3
4
348  
367  
2,32  
2,45  
5
3
680  
681  
2,43  
2,43  
3
3
1,028  
1,048  
2,39  
2,44  
5
2
Trình độ, phꢀm chất,  
năng lực của CBQL  
Trình độ, nhận  
thức, năng lực của  
lực lượng tham gia  
BD (người dạy)  
5
6
375  
367  
2,50  
1
3
694  
681  
2,48  
1
3
1,069  
1,048  
2,49  
1
2
Đối tượng được bồi  
dưỡng (học viên)  
2,45  
2,38  
2,43  
2,41  
2,44  
2,40  
Tổng trung bình  
chung  
111  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 109-114  
2.3.2. Yếu tố khách quan (xem bảng 4)  
bình, điểm trung bình chung là  
. Mức độ ảnh  
X 2,40  
Nhậnxét:Theo đánh giácủa CBQL, giảng viênvà học  
viên về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến  
QLHĐBDcánbộCCCXmàcáccơsởĐT,BDđã và đang  
triển khai ở mức độ trung bình khá, điểm trung bình chung  
hưởng của các nội dung trên không đồng đều nhau và xếp  
theothứbậcnhưsau:Nộidung“Trìnhđộ, nhậnthức,năng  
lực của lực lượng tham gia bồi dưỡng (người dạy)” được  
đánh giá ảnh hưởng nhất, với điểm trung bình X 2,49  
X 2,61 . Mức độ ảnh hưởng của các nội dung trên  
không đồng đều nhau và xếp theo thứ bậc như sau: Nội  
dung “Cơ chế QL” được đánh giá ảnh hưởng nhất, với  
xếp bậc 1/6, xếp thứ bậc thứ 2 với X=2,44 là nội dung  
“Trình độ, phꢀm chất, năng lực của CBQL” và nội dung  
“Đối tượng được bồi dưỡng (học viên)”, điều này cũng phù  
hợp, bởi quyết định tới sự thành công hay thất bại của bất kì  
hoạt động nào đều do nhân tố con người, khi mọi điều kiện  
đều đảm bảo, nhưng con người không nỗ lực, cố gắng,  
quyếttâmthựchiệnthìkếtquảcũngkhôngthểtốtđược,còn  
khi con người quyết tâm thực hiện nhiệm vụ với mong  
muốn công việc đạt hiệu quả cao nhất thì sẽ chủ động, sáng  
tạo,kếthợpgiữacácbộphậnliênquancùngnhaukhắcphục  
khó khăn tìm ra giải pháp tối ưu nhất để thực hiện.  
điểm trung bình  
xếp bậc 1/5. Nội dung “Khoa  
X 2,64  
học công nghệ” xếp ở vị trí 5/5 với  
X
= 2,58.  
Ngày nay, công tác bồi dưỡng cán bộ cấp xã nói  
chung, cán bộ CCCX nói riêng đã được quy định khá rõ  
ràng trong các văn bản quy phạm pháp luật, đó là những  
căn cứ pháp lý quan trọng để triển khai công tác này.  
2.4. Đánh giá chung  
Thực tế, giảng viên của những cơ sở ĐT, BD cán bộ cấp  
xãcònthiếutínhliêntục và kế thừadẫnđếnthiếuđồngbộvề  
cơ cấu và độ tuổi, giảng viên trẻ vừa thiếu kinh nghiệm QL  
vừachưa được đàotạotheođúng chuyênngànhsâunênphải  
bỏnhiềucôngsứcchoviệctựbồidưỡngđểgiảngdạycáclớp  
bồi dưỡng cán bộ cấp xã (trong đó có lớp bồi dưỡng cán bộ  
CCCX). Điều đó dẫn đến tình trạng soạn bài, giảng bài vẫn  
cònmangtínhlíluậnhànlâm,tínhthựctiễncònhạnchế,chưa  
đápứngyêucầucủa ngườihọc vàyêucầucủacáccơsởĐT,  
BD cũng như yêu cầu của cấp xã, phường, thị trấn. Một số  
giảngviêntrẻchưa thực sựtâm huyết với nghề, nghiệpvụsư  
phạm còn yếu, ít đi thực tế cơ sở hoặc dự giờ để trau dồi cho  
bài giảng, tăng vốn sống, vốn hiểu biết. Bên cạnh đó, giảng  
viênmờigiảng:cóhọc hàmhọcvịcaonhưngvìthờigianbồi  
dưỡnghạn hẹp nênchưa truyềntải hết những kiếnthức cũng  
nhưthông điệp tới người học.  
2.4.1. Ưu điểm  
Trong quá trình triển khai bồi dưỡng cán bộ CCCX,  
luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp từ  
UBND tỉnh, Sở Nội vụ, các cơ sở ĐT, BD cán bộ CCCX  
đến huyện, xã, phường, thị trấn trên tất cả các khâu chỉ  
đạo, chuꢀn bị, lên kế hoạch, tổ chức triển khai và kết thúc  
quá trình bồi dưỡng.  
Công tác cán bộ đã được chính quyền cấp xã,  
phường, thị trấn quan tâm đến công tác quy hoạch, ĐT,  
BD cán bộ. Cơ chế phân cấp, ủy quyền trong lĩnh vực  
QL cán bộ, công chức; trong tuyển dụng và sử dụng quỹ  
tiền lương, tiền công được từng bước thực hiện.  
Công tác ĐT, BD cán bộ được phân cấp hợp lý; tích  
cực đổi mới nội dung, hình thức ĐT, BD gắn với thực tế  
và yêu cầu tiêu chuꢀn cán bộ.  
Bảng 4. Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến việc QL HĐBD cán bộ CCCX  
CBQL, giảng viên  
Học viên  
Chung  
TT  
Nội dung  
Tổng  
điểm chung)  
X (TB  
Thứ  
bậc  
Tổng X (TB  
điểm chung)  
Thứ  
bậc  
Tổng  
X (TB Thứ  
điểm chung) bậc  
1
2
Cơ chế QL  
395  
400  
2,63  
2,67  
2
742  
733  
2,65  
2,62  
1
2
1,137  
1,133  
2,64  
2,63  
1
2
Chính trị, pháp luật  
1
Kinh tế và văn hóa  
xã hội  
3
4
5
390  
392  
389  
2,60  
2,61  
2,59  
2,62  
4
3
5
733  
722  
722  
2,62  
2,58  
2,58  
2,61  
2
3
3
1,123  
1,114  
1,111  
2,61  
2,59  
2,58  
2,61  
3
4
5
Toàn cầu hóa và  
hội nhập quốc tế  
Khoa học công  
nghệ  
Tổng trung bình  
chung  
112  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 109-114  
Đội ngũ cán bộ được từng bước được chuꢀn hóa, đã đạt chuꢀn quy định. Hệ thống phòng học và giảng đường  
có sự chuyển biến mạnh về phong cách làm việc, trách cũng thiếu chưa đáp ứng với yêu cầu dạy và học. Các  
nhiệm và chất lượng phục vụ nhân dân. Chất lượng cán trường đều nối mạng internet và cài đặt các phần mềm hỗ  
bộ, công chức ngày càng được nâng cao; nhất là cấp xã, trợ giảng dạy nhưng tốc độ đường truyền chưa cao, khi có  
phường, thị trấn đã từng bước được nâng cao hơn trước, nhiều người cùng truy cập là bị quá tải, hệ thống máy tính  
đã bước đầu phát huy hiệu quả trong thực tiễn.  
đều ở cấu hình thấp nên khi học thực hành còn nảy sinh  
nhiều sự cố. Về thư viện: các cơ sở đều có thư viện, tuy  
nhiêntài liệu, sách trong thư viện thường đã cũ, chưa được  
cập nhật những tài liệu mới nhất. Các cơ sở ĐT, BD đều  
cókếhoạchbổsungđầusáchhàngnăm,tuynhiên,dokinh  
phí hạn hẹp nên số lượng bổ sung hạn chế. Về thiết bị dạy  
học, nhìn chung cũng thiếu nhiều và chưa đồng bộ, chưa  
cập nhật các thiết bị hiện đại, hệ thống máy chiếu đều đã  
sử dụng lâu năm nên chất lượng không còn tốt, dẫn đến  
hình ảnh chiếu nên bị mờ, chính vì vậy việc đổi mới  
phương pháp hiệu quả chưa cao. Nguồn ngân sách chi cho  
công tác bồi dưỡng còn hạn hẹp, chưa có cơ chế đặc thù  
cho HĐBD cán bộ cấp xã.  
Bản thân cán bộ CCCX cũng tự nhận thấy tầm quan  
trọng của việc bồi dưỡng, tự bồi dưỡng để nâng cao trình  
độ chuyên môn, nghiệp vụ, kĩ năng cho bản thân mình  
để phục vụ cho chính công việc ở địa phương.  
2.4.2. Hạn chế  
Tuy chất lượng cán bộ CCCX có được nâng cao hơn  
trước, song số cán bộ chủ chốt có trình độ, kĩ năng  
chuyên môn, tính chuyên nghiệp cao chưa nhiều.  
Hiện nay, còn nhiều cơ quan, tổ chức, việc tuyển  
dụng, bổ nhiệm, sử dụng và QL cán bộ còn nặng về văn  
bằng, chứng chỉ, chưa chú trọng nhiều đến năng lực của  
cán bộ; việc ĐT, BD chưa gắn với nhu cầu sử dụng; chưa  
có cơ chế và chính sách phù hợp để thúc đꢀy việc nâng  
cao chất lượng và QL cán bộ.  
Bên cạnh đó, nhu cầu được học bồi dưỡng của học  
viên có nhiều biến động. Một số lượng không nhỏ cán bộ  
CCCX có nhu cầu được học bồi dưỡng cấp chứng chỉ  
cũng như bồi dưỡng cập nhật các chuyên đề ngắn ngày  
hằng năm nhưng các cơ sở ĐT, BD vẫn chưa đáp ứng đủ.  
Có những xã, phường, thị trấn phải tự bỏ kinh phí và chủ  
động mời các chuyên gia về bồi dưỡng. Nhưng vẫn còn  
số ít học viên chưa coi trọng việc bồi dưỡng, họ đi học  
cho xong, họ đến lớp với tinh thần “đánh trống ghi tên”,  
ý thức học không cao, mục tiêu chính là nhận tấm chứng  
chỉ cho “hoàn thiện hồ sơ”.  
Phạm vi chuyên môn của giảng viên trong các cơ sở  
ĐT, BD cán bộ cấp xã còn hạn chế, chậm được cập nhật,  
ít có cơ hội tiếp cận với các thành tựu mới về khoa học  
QL của thế giới, về công nghệ mới trong ĐT, BD; chưa  
được đầu tư thích đáng các điều kiện cho nghiên cứu  
khoa học... Năng lực của CBQL, giảng viên, công nhân  
viên các cơ sở ĐT, BD chưa đáp ứng được với yêu cầu  
và nhiệm vụ thực tiễn đặt ra, thể hiện ở: CBQL còn ôm  
đồm nhiều việc, cùng lúc QL nhiều hoạt động khác nhau  
của cơ sở ĐT, BD; số đông giảng viên, đặc biệt là giảng  
viên trẻ chưa có kinh nghiệm thực tiễn dẫn đến tình trạng  
soạn bài, giảng bài còn mang tính lí luận hàn lâm, xa rời  
thực tế; giáo viên chủ nhiệm lớp còn nể nang vì tất cả học  
viên đều là những cán bộ CCCX, là những người trưởng  
thành đi học. Chính điều đó dẫn đến việc QL chuyên cần  
của lớp học đôi khi còn “nề hà”, lỏng lẻo, ảnh hưởng đến  
chất lượng bồi dưỡng.  
Những hạn chế nói trên làm cho hoạt động công vụ  
chưa đạt hiệu quả cao, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động  
của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong quá trình phục vụ  
nhân dân. Việc thiếu tinh thần trách nhiệm, yếu kém về  
năng lực, chuyên môn… trong một bộ phận cán bộ làm  
cho bộ máy hành chính hoạt động trì trệ, kém hiệu quả;  
tình trạng quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân  
vẫn tồn tại trong một bộ phận cán bộ.  
Một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa chủ động  
trong việc phối hợp với cơ sở mở lớp, dẫn đến còn lớp  
trong kế hoạch nhưng không triển khai kịp. Trong chiêu  
sinh còn cử cán bộ không đúng đối tượng, tiêu chuꢀn,  
hay cử số lượng đi bồi dưỡng quá hoặc thiếu chỉ tiêu  
được phân bổ tham gia bồi dưỡng.  
Nội dung ĐT, BD thiếu sinh động, thiếu thực tế, chưa  
linh hoạt, tính cập nhật chưa cao. Chất lượng HĐBD còn  
chưa theo kịp với những yêu cầu của xã hội. Nguyên  
nhân do: nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng còn  
thiếu tính hệ thống: nặng về kiến thức hàn lâm, hạn chế  
về tính thực tiễn của công tác QL; phương pháp bồi  
dưỡng còn chậm đổi mới: nặng về thuyết trình, chưa sử  
dụng và khai thác triệt để phương pháp dạy học hiện đại.  
Mục tiêu bồi dưỡng vẫn còn nhiều điểm chưa phù  
hợp, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; nội dung và cấu  
trúc kiến thức của từng chuyên đề trong chương trình bồi  
dưỡng cán bộ cấp xã, phường, thị trấn còn những điều  
bất hợp lí, thiếu nhất quán, còn thiếu thực tiễn.  
Cơ sở vật chất trang thiết bị của các cơ sở ĐT, BD cán  
bộ CCCX những năm gần đây mặc dù đã được đầu tư  
trang bị song thực tế chưa đủ chất lượng để đáp ứng cho  
Giữa chương trình, nội dung bồi dưỡng và những đòi  
hoạt động ĐT, BD được như mong muốn, ví dụ: Diện tích hỏi thực tiễn phát sinh trong công tác lãnh đạo, QL luôn  
của các cơsởĐT, BDtrênđịa bàntỉnhThái Bìnhcònchưa có khoảng cách. Trong khi đại bộ phận học viên là những  
113  
VJE  
Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt Kì 2 tháng 5/2019, tr 109-114  
người trực tiếp hoạt động thực tiễn thì thiếu lí luận, còn phù hợp, đồng bộ; những hạn chế trong việc QL HĐBD  
giáo trình thì chỉ thuần tuý lí luận mà ít có những tình cán bộ CCCX tại các cơ sở ĐT, BD ở tỉnh Thái Bình có  
huống phát sinh sinh động như trong thực tế. Cơ chế nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Để  
tương tác giữa người dạy và người học nhằm khai thác khắc phục tình trạng này, các nhà QL cần có sự chuyển  
những kinh nghiệmthực tiễn trong công tác lãnh đạo, QL biến thực sự về nhận thức trong công tác QL HĐBD cán  
của họ vào chính ngay quá trình xây dựng chương trình bộ CCCX nói riêng và công tác QL nói chung.  
và biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy chưa được chú  
trọng đúng mức.  
CBQL, giảng viên, và cán bộ CCCX đang tham gia  
bồi dưỡng tại các cơ sở ĐT, BD trên địa bàn tỉnh Thái  
Sự quan tâm, đầu tư của cơ sở ĐT, BD cho ĐT, BD  
cán bộ CCCX chưa tương xứng, quá chú trọng mở rộng  
quy mô, đa dạng hóa các chuyên ngành đào tạo chính  
quy, với đối tượng ngày càng mở rộng; coi nhẹ việc bồi  
dưỡng chức danh, chuyên môn, nghiệp vụ sâu.  
Bình có nhận thức khá rõ về vai trò của công tác này đối  
với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho  
cán bộ CCCX.  
Cónhiềuyếutốkháchquanvàchủquanảnhhưởngđến  
QL hoạt động bồi dưỡng cán bộ CCCX trong bối cảnh hiện  
nay, trong đó các yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất là năng  
lực của CBQL, đội ngũ giảng viên/báo cáo viên và của  
chính cán bộ CCCX trực tiếp tham gia khóa bồi dưỡng.  
Phương pháp giảng dạy, mặc dù đã đưa phương pháp  
giảng dạy tích cực vào triển khai và bước đầu thu được  
những thành công nhất định, nhưng kết quả mang lại  
chưa tương xứng với mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.  
Điều kiện cơ sở vật chất, kĩ thuật như nhà ở, căng tin,  
thư viện, phòng học, phòng thảo luận nhóm… còn thiếu,  
chưa đáp ứng nhu cầu; thiết bị phục vụ giảng dạy hiện có  
chưa đồng bộ về chủng loại và thế hệ công nghệ, chất  
lượng các thiết bị kỹ thuật hạn chế nên việc truyền dẫn  
thông tin, hình ảnh, âm thanh thiếu chuꢀn, gây ức chế cho  
học viên và giảng viên. Hệ thống thư viện chưa được cập  
nhật thường xuyên nên tài liệu không đáp ứng nhu cầu học  
tập, nghiên cứu. Kết cấu hạ tầng phục vụ ăn, ở cho học  
viên trong các kí túc xá, cơ sở phục vụ thể thao, rèn luyện  
sức khỏe cho học viên đã có nhưng vẫn còn thiếu, hạn chế.  
Tài liệu tham khảo  
[1] Tỉnh ủy Thái Bình (2007). Báo cáo số 83-BC/TU,  
ngày 5/9 về sơ kết 5 năm thực hiện Đề án 26 của  
Ban Thường vụ Tỉnh ủy về đào tạo cán bộ xã,  
phường, thị trấn có trình độ cao đẳng đại học.  
[2] Tỉnh ủy Thái Bình (2009). Đề án 02-ĐA/TU của về  
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lí giai  
đoạn 2009-2020.  
[3] UBND tỉnh Thái Bình. Quyết định số 1671, ngày  
10/7/2018 về việc phê duyệt Đề án phát triển nguồn  
nhân lực tỉnh Thái Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến  
năm 2030.  
Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng bồi dưỡng:  
Việc đánh giá kết quả học tập của học viên hầu như chỉ  
mới dừng lại ở công đoạn cuối cùng là kiểm tra, thảo luận,  
viết thu hoạch nên chưa khuyến khích được học viên tích  
cực tham gia vào quy trình dạy học theo phương pháp dạy  
tiên tiến; chưa thực sự đánh giá chính xác năng lực học tập  
và ý thức của học viên trong cả quá trình học tập. Việc  
đánhgiá đôilúcchưathật kháchquan, đôi khicònnể nang.  
[4] UBND tỉnh Thái Bình. Kế hoạch số 96/KH- UBND  
tỉnh Thái Bình, triển khai thực hiện Đề án phát triển  
nguồn nhân lực tỉnh Thái Bình đến năm 2025, tầm  
nhìn đến năm 2030.  
[5] Chính phủ. Nghị định 114/2003/NĐ-CP, ngày  
10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã,  
phường, thị trấn.  
Phương pháp thực hiện đánh giá sau quá trình bồi  
dưỡng chức danh cán bộ CCCX chưa được triển khai,  
chưa có kế hoạch chi tiết, đồng bộ của cơ sở ĐT, BD và  
địa phương.  
[6] Chính phủ. Nghị định số 121/2003/NĐ-CP, ngày  
21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối  
với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.  
[7] Chính phủ. Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, ngày  
01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán  
bộ, công chức, viên chức.  
3. Kết luận  
Trong những năm qua, các cơ sở ĐT, BD cán bộ  
CCCX trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã có nhiều cố gắng  
trong công tác QL HĐBD cán bộ cấp xã nói chung, cán  
bộ CCCX nói riêng. Bên cạnh những ưu điểm, thành tựu  
đạt được thì vẫn còn những tồn tại cần khắc phục; công  
tác tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá ở một số khâu  
chưa mang lại hiệu quả cao; hình thức tổ chức các hoạt  
động bồi dưỡng chưa phong phú, thiếu các biện pháp QL  
[8] Bộ Nội vụ. Thông tư số 01/2018 TT-BNV hướng dẫn  
một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP  
ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi  
dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.  
[9] Trần Kim Dung (2005). Giáo trình Quản trị  
nguồn nhân lực. NXB Giáo dục.  
114  
pdf 6 trang yennguyen 11920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cấp xã tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_quan_li_hoat_dong_boi_duong_can_bo_chu_chot_cap_x.pdf