Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động dạy học ở trường Giáo dưỡng số 4

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG  
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG SỐ 4  
Nguyễn Thành Công1  
TÓM TẮT  
Tại trường Giáo dưỡng số 4, hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm, cơ bản  
bên cạnh các hoạt động khác như hướng nghiệp, học nghề, lao động, sinh hoạt, vui  
chơi giải trí... nhằm giáo dục lại những người đã có hành vi vi phạm pháp luật trở  
thành những người lương thiện, những công dân có ích cho xã hội. Qua việc tìm hiểu  
thực trạng công tác dạy và học cũng như các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy và học  
tác giả đã đề xuất năm biện pháp giúp nâng cao chất lượng hoạt động dạy học của  
trường Giáo dưỡng số 4 ngày càng phát triển trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Hoạt động dạy học, trường giáo dưỡng  
1. Mở đầu  
Trường Giáo dưỡng số 4 trực thuộc  
niên vi phạm pháp luật, nhà trường đã  
vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng  
danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang  
nhân dân [1].  
Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở  
giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng -  
Bộ Công an tiền thân là trường Phổ  
thông Công nông nghiệp Xuân An,  
được thành lập ngày 28 tháng 6 năm  
1977, đóng quân trên địa bàn xã An  
Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng  
Nai. Năm 1996, thực hiện quy định của  
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính,  
nhà trường được đổi tên thành trường  
Giáo dưỡng số 4 cho đến nay. Trường  
có nhiệm vụ tiếp nhận, tổ chức quản lý,  
giáo dục người chưa thành niên có  
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng  
và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng theo  
đúng chủ trương, đường lối của Đảng,  
chính sách, pháp luật của Nhà nước và  
các quy định của Bộ Công an. Trải qua  
hơn 40 năm vì sự nghiệp trồng người,  
nhà trường đã quản lý, giáo dục, chăm  
sóc, nuôi dưỡng, dạy văn hóa, dạy nghề  
cho trên 16.000 học sinh tiến bộ ra  
trường tái hòa nhập cộng đồng góp  
phần vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc  
gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Do có  
thành tích đặc biệt xuất sắc trong công  
tác quản lý, giáo dục người chưa thành  
Trong những năm gần đây, tình  
hình người chưa thành niên vi phạm  
pháp luật diễn biến rất phức tạp.  
Trường Giáo dưỡng số 4 đã tiếp nhận  
hàng nghìn học sinh thuộc các tỉnh  
thành khu vực Nam Trung Bộ và Nam  
Bộ. Học sinh vào trường đã có các hành  
vi vi phạm pháp luật với tính chất mức  
độ ngày càng đa dạng, phức tạp, có  
trình độ văn hóa thấp, nhiều em đã bỏ  
học lâu ngày, nhiều em chưa biết chữ  
(mù chữ chiếm 11,7%; từ lớp 1 đến lớp  
5 chiếm 33,6%, từ lớp 6 đến lớp 9  
chiếm 51,3%, trên lớp 9 chiếm 3,4%)  
[2, tr. 14]. Khi vào trường các em đều  
quá tuổi học theo theo từng khối lớp mà  
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Sau  
khi nhà trường tiếp nhận, học sinh được  
quản lý, giáo dục, chăm sóc, nuôi  
dưỡng theo chế độ, chính sách của nhà  
nước đối với học sinh trường giáo  
dưỡng. Các em được học văn hóa, học  
nghề, được tham gia các hoạt động giáo  
dục bổ trợ, được vui chơi, giải trí, sinh  
hoạt văn hóa, thể thao nhằm phát triển  
1Trường Giáo dưỡng số 4  
20  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
lành mạnh về thể chất và tinh thần để  
khi ra trường sẽ trở thành những người  
lương thiện có ích cho xã hội.  
sinh có trình độ THCS chiếm đa số.  
Trước khi vào trường các em thường  
sao nhãng học tập, thậm chí bỏ học đã  
lâu nên kiến thức bị hổng nhiều, vì vậy  
khi vào trường các em phải học lại kiến  
thức, đây là những khó khăn đối với cả  
học sinh và giáo viên (học sinh đã có  
hành vi bỏ học chiếm 88% [4]). Ngoài  
việc học văn hóa, học sinh còn được  
học chương trình giáo dục công dân,  
chương trình giáo dục giới tính - tình  
dục và sức khỏe sinh sản và chương  
trình kỹ năng sống đã được Bộ Công an  
phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo  
biên soạn dành riêng cho học sinh các  
trường giáo dưỡng.  
Học sinh của trường Giáo dưỡng số  
4 được cấp phát sách, vở và văn phòng  
phẩm thiết yếu phục vụ cho học tập. Khi  
vào trường, học sinh được quản lý chặt  
chẽ, ăn, ở nội trú tập trung, sinh hoạt,  
học tập được rèn luyện theo nếp sống  
quân sự hóa nên rất thuận lợi cho công  
tác quản lý. Học sinh thường xuyên thực  
hiện tốt các yêu cầu của giáo viên và nội  
quy học tập theo quy định, các em chuẩn  
bị đầy đủ sách, vở, đồ dùng học tập và  
chuẩn bị bài học trước khi lên lớp. Trên  
lớp học sinh chú ý nghe giảng bài và  
tham gia phát biểu xây dựng bài. Buổi  
tối học sinh được tổ chức tự học ở đội  
nhưng có sự kiểm tra, giám sát của giáo  
viên. Sau giờ học các em được tham gia  
các hoạt động ngoại khóa, hằng tháng  
nhà trường tổ chức thi kiểm tra đánh giá  
kết quả học tập của học sinh để có căn  
cứ xếp loại thi đua của các em theo quy  
định. Trong năm học nhà trường đều tổ  
chức thi học sinh giỏi và tổ chức thi vở  
sạch, chữ đẹp ở các khối lớp.  
Trong các trường giáo dưỡng nói  
chung và trường Giáo dưỡng số 4 nói  
riêng, hoạt động dạy học (HĐDH) có  
những nội dung, phương pháp, hình  
thức, biện pháp đặc biệt và khó khăn,  
phức tạp hơn nhiều so với việc quản lý  
dạy học ở các trường bình thường. Sự  
khác biệt về độ tuổi, hoàn cảnh sống,  
nhận thức, kiến thức văn hóa, pháp luật,  
kinh nghiệm, thói quen, hành vi đạo  
đức, v.v… làm cho việc tiếp thu kiến  
thức rất khác nhau ở mỗi học sinh. Từ  
cuộc sống tự do, các em được đưa vào  
môi trường học tập, rèn luyện có kỷ  
cương, kỷ luật chặt chẽ là điều không  
dễ dàng, đòi hỏi công tác tổ chức, quản  
lý HĐDH của nhà trường phải rất khoa  
học, sâu sắc, tỉ mỉ và phát huy được sức  
mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố mới có  
thể đem lại chất lượng, hiệu quả thiết  
thực. Do vậy, việc nghiên cứu các biện  
pháp nhằm nâng cao chất lượng HĐDH  
là vấn đề cấp thiết nhằm góp phần thiết  
thực nâng cao chất lượng và hiệu quả  
công tác quản lý, giáo dục toàn diện học  
sinh ở trường Giáo dưỡng số 4.  
2. Nội dung  
2.1.Thực trạng học sinh và hoạt  
động học tập  
Học sinh trường giáo dưỡng là  
những người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18  
tuổi đã có hành vi vi phạm pháp luật,  
được tòa án nhân dân cấp huyện ra  
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng.  
Nhiệm vụ học tập văn hóa là bắt buộc  
đối với những học sinh chưa được phổ  
cập giáo dục tiểu học [3].  
Khảo sát thực trạng cho thấy học  
21  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Hình 1: Biểu đồ tỷ lệ kết quả học tập của học sinh trường Giáo dưỡng số 4  
giai đoạn 2012-2017 [4]  
Qua biểu đồ hình 1 trên ta thấy tỷ lệ  
học sinh khá, giỏi của trường luôn ở  
mức trên 50%, tỷ lệ học sinh yếu kém  
giảm dần, năm sau thấp hơn năm trước.  
2.2.Thực trạng giáo viên và hoạt  
động dạy  
Giáo viên dạy học trong các trường  
giáo dưỡng được Bộ Công an tuyển  
dụng và bố trí công tác, đây là những  
thầy, cô khá đặc biệt, ngoài trình độ sư  
phạm như thông thường thì các thầy cô  
giáo ở đây còn được trang bị thêm  
nghiệp vụ công an nhân dân. Khi làm  
việc với học sinh các thầy cô đều mang  
trang phục cảnh sát nhân dân. Giáo viên  
dạy văn hóa được ưu tiên lựa chọn, là  
những người vững về chính trị, giỏi về  
nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức tốt, hiểu  
biết về tâm lý tr , nhiệt tình, tâm huyết  
với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao,  
thực sự là những tấm gương sáng để  
học sinh noi theo.  
Hình 2: Biểu đồ trình độ của  
giáo viên trực tiếp, quản lý  
giáo dục học sinh  
Hình 3: Biểu đồ thâm niên công tác  
của giáo viên trực tiếp, quản lý  
giáo dục học sinh  
22  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Giáo viên thường xuyên được tập  
huấn, bồi dưỡng về phương pháp giảng  
dạy, phương pháp giáo dục lại, giáo dục  
đồng đẳng, kỹ năng sống, về tư vấn…,  
được giao lưu học hỏi kinh nghiệm, dự  
giờ, thăm lớp ở các trường trên địa bàn.  
Giáo viên có điều kiện thường xuyên  
gặp gỡ học sinh, nắm bắt được hoàn  
cảnh gia đình, quá trình thực hiện hành  
vi vi phạm pháp luật cũng như tâm tư,  
nguyện vọng và những vướng mắc của  
học sinh để kịp thời tháo gỡ và có biện  
pháp quản lý, giáo dục phù hợp. Qua  
khảo sát 39 đồng chí là cán bộ, giáo  
viên trực tiếp giảng dạy, giáo dục học  
sinh cho thấy lực lượng này có trình độ  
đại học là chủ yếu (84,6%) và có nhiều  
kinh nghiệm trong công tác (87% đã có  
thâm niên từ 10 năm trở lên).  
đảm bảo, trật tự kỷ cương, lễ tiết, tác  
phong, nếp sống văn hóa trong trường  
giáo dưỡng được duy trì thực hiện nề  
nếp, tạo cho học sinh môi trường xanh,  
sạch, đẹp, an toàn, lành mạnh, bình  
đẳng để các em yên tâm học tập tốt, rèn  
luyện tiến bộ, sớm trở về hòa nhập cùng  
gia đình và xã hội.  
2.4. Một số hạn chế trong hoạt  
động dạy học của nhà trường  
Học sinh vào trường đã có các hành  
vi vi phạm với tính chất, mức độ của  
ngày càng đa dạng, nguy hiểm, phức  
tạp, nhiều em đã sa ngã vào các tệ nạn  
xã hội như: cờ bạc, ma túy, mại dâm,  
nhiều em mắc các bệnh hiểm nghèo như  
HIV, lao…, một số em có ý thức chấp  
hành nội quy kém, chưa từ bỏ được các  
thói hư tật xấu, thường lôi kéo đánh  
nhau, mang vật cấm vào trường, trốn  
tránh, chống phá… là những khó khăn,  
thách thức lớn đối với công tác dạy học  
của nhà trường.  
Trước khi vào trường học sinh  
thường sao nhãng học tập, thậm chí bỏ  
học đã lâu nên kiến thức bị mai một đi  
nhiều. Khi vào trường phải học lại, kiến  
thức không liên tục do vậy khi giảng  
kiến thức mới giáo viên phải củng cố,  
ôn tập lại kiến thức cũ bị hổng nên rất  
vất vả cho cả giáo viên và học sinh.  
Công tác quản lý, giáo dục học sinh  
của một số giáo viên còn làm theo kinh  
nghiệm thiếu lý luận. Một số giáo viên  
tr  thiếu kinh nghiệm, một số ít chậm  
đổi mới phương pháp dạy học.  
2.3. Thực trạng cơ sở vật chất và  
điều kiện dạy học  
Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy học  
được nhà nước đảm bảo. Phòng ở của  
học sinh sạch sẽ, thoáng mát, đủ ánh  
sáng, có quạt, ti vi, giá sách, tủ đựng đồ.  
Học sinh được cấp phát đầy đủ quần áo,  
tư trang và các đồ dùng sinh hoạt cá  
nhân khác theo quy định. Trang thiết bị  
phục vụ cho việc dạy học được đầu tư  
mua sắm đầy đủ, thư viện được trang bị  
nhiều đầu sách với hơn 10.000 cuốn.  
Các khu vui chơi giải trí đảm bảo cho  
các hoạt động thể dục thể thao, văn  
nghệ của các em. Các chế độ về ăn,  
mặc, ở, khám chữa bệnh của học sinh  
được thực hiện đầy đủ theo quy định  
của pháp luật.  
Chương trình xóa mù chữ và giáo  
dục tiếp tục sau khi biết chữ mà các  
trường giáo dưỡng đang áp dụng có  
Môi trường giáo dục thường xuyên  
được củng cố, mục tiêu giáo dục được  
23  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
nhiều nội dung chủ yếu dành cho người  
lớn nên chưa thật phù hợp với đối tượng  
là học sinh trường giáo dưỡng.  
Một là tăng cường nhận thức và sự  
lãnh đạo, quản lý của Đảng ủy, Ban  
Giám hiệu đối với HĐDH ở trường  
Giáo dưỡng số 4. Do vị trí, vai trò của  
Đảng ủy, Ban Giám hiệu là người lãnh  
đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện đối  
với HĐDH ở trường Giáo dưỡng số 4  
nên Đảng ủy, Ban Giám hiệu vừa là hạt  
nhân lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành,  
trung tâm đoàn kết; đồng thời vừa là  
người tổ chức thực hiện mọi chủ  
trương của Đảng, Nhà nước, nhằm hiện  
thực hóa các nhiệm vụ quản lý, giáo  
dục học sinh. Bởi vậy, tăng cường  
nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo  
quản lý của Đảng ủy, Ban Giám hiệu  
đối với công tác quản lý HĐDH là nội  
dung rất quan trọng, cần thiết. Với  
trách nhiệm của mình, Đảng ủy, Ban  
Giám hiệu cần phải nắm vững đường  
lối, quán triệt quan điểm của Đảng,  
chính sách, pháp luật Nhà nước và các  
vấn đề liên quan đến công tác quản lý,  
giáo dục học sinh trường giáo dưỡng  
nói chung và HĐDH nói riêng; trên cơ  
sở đó cụ thể hóa thành các chủ trương  
biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát với tình  
hình của nhà trường.  
Học sinh trường giáo dưỡng rất đặc  
thù và có nhiều khác biệt với học sinh  
của các trường tiểu học và các trường  
phổ thông bình thường nhưng các quy  
định về đánh giá học lực, xếp loại hạnh  
kiểm đối với học sinh trường giáo dưỡng  
hiện tại vẫn đang dùng chung nên gây rất  
nhiều khó khăn cho giáo viên.  
Nguyên nhân của hạn chế trên là:  
Về mặt mặt khách quan, điều kiện kinh  
tế xã hội của đất nước còn khó khăn,  
tình hình an ninh trật tự trên địa bàn có  
những diễn biến phức tạp, làm ảnh  
hưởng tiêu cực đến công quản lý, giáo  
dục học sinh của nhà trường nói chung  
và của công tác dạy học nói riêng. Một  
số quy định về công tác dạy học trong  
trường giáo dưỡng chưa phù hợp với  
thực tiễn, hệ thống văn bản hướng dẫn  
thực hiện chuyên môn chưa toàn diện.  
Về mặt chủ quan, một số giáo viên ngại  
học tập, việc đổi mới phương pháp dạy  
học còn mang tính chất hình thức, chưa  
tạo hứng thú, hiệu quả cho học sinh học  
tập, rèn luyện. Cán bộ chưa được đào  
tạo chính quy về quản lý giáo dục còn  
làm theo kinh nghiệm, thiếu lý luận về  
khoa học quản lý giáo dục nên chưa chủ  
động, sáng tạo trong quản lý.  
Hai là quan tâm nâng cao chất  
lượng đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng  
dạy văn hóa. Thường xuyên giáo dục  
chính trị tư tưởng, giáo dục đạo đức, lối  
sống trong sáng, gương mẫu, tạo sự  
thống nhất trong nhận thức và hành  
động của mỗi cán bộ, giáo viên về mục  
tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp quản  
lý, giáo dục học sinh. Nâng cao tinh  
thần trách nhiệm, chủ động, sáng tạo,  
tận tụy trong công việc. Tuyển chọn,  
2.5. Một số biện pháp nhằm nâng  
cao chất lượng hoạt động dạy học  
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng  
của HĐDH tại trường Giáo dưỡng số 4,  
tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm  
giúp nhà trường nâng cao chất lượng  
HĐDH cụ thể như sau:  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
bồi dưỡng, đề cao vai trò nêu gương,  
tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo, chỉ  
huy. Rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn  
thiện quy chế làm việc, quy trình, chế  
độ công tác nhằm kịp thời khắc phục  
những sơ hở, thiếu sót trong việc thực  
hiện nghiệp vụ chuyên môn; xây dựng  
và tổ chức thực hiện chương trình, kế  
hoạch công tác cụ thể trên cơ sở chức  
năng, nhiệm vụ được giao. Tăng cường  
công tác kiểm tra việc chấp hành điều  
lệnh công an nhân dân và thực hiện quy  
chế làm việc, quy trình công tác, tinh  
thần trách nhiệm, tư thế, lễ tiết, tác  
phong, văn hóa giao tiếp ứng xử của cán  
bộ, giáo viên. Đổi mới đánh giá cán bộ,  
giáo viên làm cơ sở để phân công, bố trí  
hợp lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, giúp họ  
phát huy năng lực, sở trường công tác,  
cống hiến tài năng, sức lực cho sự  
nghiệp của nhà trường. Ngoài ra, cần  
quan tâm và thực hiện tốt công tác quy  
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình  
độ, kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ  
cho cán bộ, giáo viên, nhất là các giáo  
viên trực tiếp tham gia giảng dạy văn  
hóa cho học sinh.  
Ba là tăng cường quản lý hoạt động  
học tập, rèn luyện của học sinh. Trong  
công tác quản lý hoạt động học tập trên  
lớp của học sinh, cần nắm chắc các  
thông tin cơ bản về tình hình học tập,  
rèn luyện của học sinh như: thái độ đối  
với việc học tập, sự phát triển trí lực,  
các thói quen lao động, học tập, rèn  
luyện, việc tự giác trong học tập, sự  
phát triển thể chất ngay từ đầu năm học.  
Xây dựng đội ngũ cán bộ lớp có khả  
năng tự quản tốt để phụ giúp thầy, cô  
trong việc quản lý học sinh. Hằng ngày  
cần thường xuyên kiểm tra, theo dõi  
việc chấp hành nội quy học tập của học  
sinh, bồi dưỡng tinh thần tự giác học  
tập và hướng dẫn các em phương pháp  
tự học.  
Tăng cường quản lý hoạt động học  
tập tại đội của học sinh: Hoạt động học  
tập tại đội vào buổi tối chủ yếu để giúp  
học sinh ôn bài cũ, làm bài tập về nhà,  
chuẩn bị cho những nội dung của buổi  
học tiếp theo. Việc quản lý hoạt động  
này phải phân công cho giáo viên thay  
phiên nhau trực tiếp kiểm tra, hướng  
dẫn. Ngoài ra, cần tổ chức cho học sinh  
trong ban tự quản đôn đốc, kiểm tra sĩ số  
và trật tự học tập của học sinh.  
Phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm  
và các lực lượng giáo dục khác để quản  
lý việc học tập, rèn luyện của học sinh.  
Phải có quy định cụ thể về sự phối hợp  
giữa các bộ phận trong nhà trường để  
thống nhất việc giáo dục học sinh. Phối  
hợp với phụ huynh học sinh trong việc  
động viên, khuyên bảo học sinh khi  
thăm gặp, giúp các em học tập, rèn  
luyện tốt hơn. Thường xuyên giữ mối  
quan hệ tốt với các cơ quan, tổ chức  
trên địa bàn, với chính quyền địa  
phương nhằm chủ động có tác động  
đúng và tranh thủ được sự ủng hộ giúp  
đỡ, phối hợp trong công tác dạy học,  
giáo dục học sinh.  
Bốn là tích cực đổi mới phương  
pháp dạy học nhằm cải tiến những  
phương pháp dạy học kém hiệu quả, sử  
dụng những phương pháp dạy học hiệu  
quả hơn để nâng cao chất lượng dạy  
học, phát huy tính tích cực, sáng tạo và  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 13 - 2019  
ISSN 2354-1482  
phát triển năng lực của học sinh. Nhà  
trường cần có kế hoạch cụ thể về đổi  
mới phương pháp dạy học. Tăng cường  
tuyên truyền, quán triệt đến tất cả giáo  
viên về vai trò, vị trí, ý nghĩa của việc  
đổi mới phương pháp dạy học đối với  
việc nâng cao chất lượng giáo dục. Tổ  
chức bồi dưỡng các phương pháp dạy  
học tích cực cho cán bộ và giáo viên.  
Tập trung xây dựng động cơ, thái độ  
học tập đúng đắn, phát huy tính tích  
cực, độc lập, sáng tạo trong học tập cho  
học sinh. Tăng cường ứng dụng công  
nghệ thông tin vào dạy học, hướng dẫn  
giáo viên vận dụng các phần mềm tiện  
ích hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học  
nhằm lôi cuốn, kích thích học sinh tham  
gia học tập tích cực, trang bị các thiết bị  
dạy học hiện đại phục vụ cho thực hiện  
đổi mới phương pháp dạy học. Xây  
dựng tiêu chí đánh giá giờ dạy đổi mới  
phương pháp dạy học, đổi mới hình  
thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập  
của học sinh. Tạo cơ chế động viên,  
khuyến khích về tinh thần và vật chất  
nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới  
phương pháp dạy học có hiệu quả.  
giác tìm tòi, sáng tạo trong việc tự làm  
đồ dùng dạy học. Bảo quản tốt, khai  
thác tối đa năng lực cơ sở vật chất hiện  
có, sử dụng có hiệu quả các trang thiết  
bị đã được trang bị, bố trí sắp xếp trang  
thiết bị dạy học gọn gàng, ngăn nắp, an  
toàn dễ sử dụng. Sử dụng hết tính  
năng, công suất phòng học, phòng thực  
hành, bảo trì, bảo dưỡng các trang thiết  
bị đã được trang bị trước đây như bàn  
ghế, bảng, sách, vở, tài liệu. Tập trung  
xây dựng, sửa chữa phòng học, phòng  
làm việc của giáo viên, sân chơi, phòng  
thực hành đã xuống cấp. Tăng cường  
vệ sinh sạch sẽ, trồng thêm cây xanh,  
trang bị quạt, ánh sáng đảm bảo phòng  
học thoáng mát đủ ánh sáng cho học  
sinh học tập. Xây dựng cảnh quan,  
khuôn viên xanh, sạch, đẹp.  
3. Kết luận  
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết  
thực tiễn HĐDH, tổng hợp các số liệu  
khảo sát cho thấy HĐDH tại trường  
Giáo dưỡng số 4 trong những năm qua  
đã đạt được những kết quả tốt. Tuy  
nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế do  
nhiều nguyên nhân khách quan và chủ  
quan. Trong phạm vi bài báo này tác giả  
đã đề xuất năm biện pháp nhằm nâng  
cao chất lượng, hiệu quả HĐDH ở  
trường Giáo dưỡng số 4. Mỗi biện pháp  
có vị trí, vai trò, ý nghĩa riêng, nhưng  
chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau,  
bổ sung cho nhau. Vì thế, trong tổ chức  
thực hiện tùy theo điều kiện thực tế của  
nhà trường trong từng giai đoạn mà vận  
dụng linh hoạt và phải tiến hành đồng  
bộ, tránh đề cao, tuyệt đối hóa bất cứ  
biện pháp nào. Mặt khác, các biện pháp  
Năm là hoàn thiện cơ sở vật chất  
hỗ trợ HĐDH: tăng cường đầu tư mua  
sắm mới các trang thiết bị dạy học theo  
yêu cầu của từng môn học, từng khối  
học, đảm bảo học sinh có đủ điều kiện  
thực hành, thí nghiệm các bài học lý  
thuyết trên lớp theo hướng chuẩn hóa,  
hiện đại, đồng bộ phù hợp với nhu cầu  
thực tiễn và năng lực tài chính của  
trường. Phát động phong trào làm đồ  
dùng dạy học trong giáo viên, thường  
xuyên động viên, khích lệ tinh thần tự  
26  
pdf 7 trang yennguyen 18420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động dạy học ở trường Giáo dưỡng số 4", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_hoat_dong_day_hoc_o_tru.pdf