Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ: Trường hợp nghiên cứu điển hình

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ  
TỰ KỶ: TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH, NGUYỄN THỊ THUÝ HẰNG  
1 Khoa Tâm lý – Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế  
2 Học viên Cao học Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế  
Tóm tắt: Khiếm khuyết về giao tiếp là một trong những đặc trưng của trẻ rối  
loạn phổ tự kỷ (tự kỷ). Chương trình can thiệp sớm tăng cường về hành vi  
(EIBI) đã được chứng minh là rất hiệu quả trong phát triển kỹ năng giao tiếp  
cho trẻ tự kỷ. Đề tài đã thiết kế hệ thống bài tập phát triển kỹ năng giao tiếp  
theo EIBI và tiến hành thực nghiệm trên một trẻ tự kỷ ở thành phố Huế. Kết  
quả cho thấy trẻ có sự tiến bộ rõ rệt về kỹ năng ngôn ngữ tiếp nhận, ngôn ngữ  
biểu đạt và thể hiện sự lựa chọn sau thời gian can thiệp. Trẻ chiếm lĩnh được  
kỹ năng hiểu tên gọi, kỹ năng tìm hiểu về hành động và kỹ năng lựa chọn ít  
mang tính tương tác. Kỹ năng tìm hiểu về nơi chốn cũng đã gần đạt được mức  
hoàn thiện. Kỹ năng tìm hiểu về cảm xúc cũng đã có nhiều tiến bộ, song vẫn  
còn hạn chế. Trẻ chưa có kỹ năng đặt câu đơn giản và kỹ năng ghép 2-3 từ để  
lựa chọn mang tính tương tác. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tiềm năng của hệ  
thống bài tập trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ.  
Từ khoá: rối loạn phổ tự kỷ, kỹ năng giao tiếp, can thiệp sớm tăng cường về  
hành vi  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trong thập kỷ qua, số lượng trẻ rối loạn phổ tự kỷ (gọi tắt là trẻ tự kỷ) đang gia tăng ở mức  
báo động [4]. Khiếm khuyết về giao tiếp là một trong những đặc trưng của trẻ tự kỷ. Trẻ tự  
kỷ thiếu các hành vi phi ngôn ngữ khi tương tác xã hội, từ khả năng hợp nhất giao tiếp có  
lời và giao tiếp không lời nghèo nàn đến ngôn ngữ cơ thể và tương tác mắt bất thường, hoặc  
thiếu khả năng nhận hiểu và khả năng biểu lộ qua nét mặt và ngôn ngữ cơ thể [1]. Phần lớn  
trẻ tự kỷ không phát triển ngôn ngữ nói [6]. Một số trẻ có thể phát triển ngôn ngữ nói nhưng  
lại có sự chậm trꢀ đáng kể và thiếu hụt ở một số khía cạnh của lĩnh vực ngôn ngữ [8]. Khiếm  
khuyết về ngôn ngữ và giao tiếp có mối quan hệ gần gũi với suy yếu trong quan hệ xã hội  
và dẫn đến nhiều khó khăn cho các em trong hoà nhập cộng đồng [5]. Can thiệp sớm về  
giao tiếp là luôn là một trong những ưu tiên trong các chương trình hỗ trợ trẻ tự kỷ.  
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rꢁng việc tham gia vào các chương trình can thiệp sớm  
sꢂ mang lại rất nhiều lợi ích cho trẻ tự kỷ [8]. Với các bꢁng chứng ngày càng gia tăng,  
chương trình can thiệp sớm tăng cường về hành vi (Early Intensive Behavioral Intervention  
– EIBI) được xem như là một trong những hướng can thiệp có hiệu quả nổi trội đối với trẻ  
tự kỷ [7], [8], [9]. ꢃnh hưởng của EIBI đến giao tiếp của trẻ tự kỷ cũng đã được ghi nhận  
ở các nghiên cứu khác nhau. Đã có nhiều bꢁng chứng cho thấy EIBI có khả năng làm giảm  
các triệu chứng tự kỷ và cải thiện chức năng cho trẻ có hội chứng này [7], [8], [9]. Các nhà  
Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế  
ISSN 1859-1612, Số 03(47)/2018: tr. 65-74  
Ngày nhận bài: 03/12/2017; Hoàn thành phản biện: 13/12/2017; Ngày nhận đăng: 29/12/2017  
66  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH, NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG  
nghiên cứu đã chứng minh rꢁng EIBI có hiệu quả trong việc cải thiện ngôn ngữ và giao tiếp  
ở những trẻ có khuyết tật đáng kể về ngôn ngữ như trẻ tự kỷ [9]. Trẻ tự kỷ tuổi mẫu giáo  
sau khi tham gia vào EIBI có thể gia tăng chỉ số thông minh IQ và phát triển ngôn ngữ biểu  
đạt tốt hơn so với những trẻ tự kỷ tham gia vào các chương trình can thiệp sớm ít mang tính  
chuyên sâu [8]. Ngoài ra, trẻ tự kỷ tham gia EIBI cũng đạt điểm số cao hơn trong các thang  
đo về hành vi xã hội tích cực ở các đánh giá đầu ra sau khi được can thiệp [9].  
Số lượng trẻ tự kỷ được phát hiện ở Việt Nam hiện nay đang có chiều hướng gia tăng dù  
chưa được thống kê đầy đủ. Trên đꢄa bàn thành phố Huế hiện có nhiều trẻ tự kỷ đang  
được can thiệp tại các trung tâm, trường chuyên biệt, gia đình hoặc không nhận được sự  
can thiệp nào. Tuy nhiên, việc áp dụng các chương trình can thiệp sớm dựa trên mô hình  
EIBI cho trẻ tự kỷ vẫn còn rất nhiều hạn chế.  
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiꢀn, đề tài đã xây dựng hệ thống bài tập phát triển  
kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ dựa trên việc tham khảo có chọn lọc các chương trình can  
thiệp sớm theo EIBI. Hệ thống bài tập tập trung vào một số kỹ năng giao tiếp thiết yếu  
đối với trẻ tự kỷ trước tuổi đi học, chẳng hạn như (1) ngôn ngữ tiếp nhận, (2) ngôn ngữ  
biểu đạt, (3) thể hiện sự lựa chọn, (4) “đọc, viết” dưới dạng nhận biết cơ bản và (5) một  
số kỹ năng khác. Các bài tập đối với mỗi nhóm kỹ năng được chia nhỏ thành các giai  
đoạn từ thấp đến cao. Ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt là hai nhóm kỹ năng có  
mối quan hệ với nhau rất chặt chꢂ. Bởi vậy, bên cạnh những bài tập phát triển riêng từng  
kỹ năng, nhóm nghiên cứu còn xây dựng các bài tập phát triển kỹ năng giao tiếp tổng  
hợp, theo đó, trẻ cần cả ngôn ngữ tiếp nhận và biểu đạt để thành thục kỹ năng này. Mặc  
dù là các bài tập riêng rꢂ song chúng lại có mối quan hệ với nhau rất chặt chꢂ. Việc học  
được các kỹ năng ở bài tập này sꢂ hỗ trợ cho việc học các kỹ năng ở các bài khác.  
Bài viết trình bày kết quả thực nghiệm áp dụng hệ thống bài tập để phát triển kỹ năng giao  
tiếp cho một trẻ tự kỷ ở thành phố Huế. Phương pháp thực nghiệm cũng được nêu rõ để  
thấy được việc vận dụng EIBI trong dạy trẻ tự kỷ được tiến hành như thế nào. Bài viết hy  
vọng cung cấp cho các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, phụ huynh trẻ tự kỷ và những người  
quan tâm một cơ sở lý luận và thực tiꢀn trong việc can thiệp sớm cho nhóm trẻ đặc biệt này.  
2. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM  
2.1. Lý do lựa chọn phương pháp thực nghiệm  
Đề tài tiến hành thực nghiệm hệ thống bài tập phát triển kỹ năng giao tiếp được xây dựng trên  
một trẻ tự kỷ. Phương pháp thực nghiệm theo dạng trường hợp điển hình là phương pháp  
nghiên cứu hoàn toàn phù hợp khi cần đánh giá hiệu quả của việc áp dụng những kỹ thuật,  
chương trình, biện pháp mới vào thực tiꢀn theo chiều sâu [3]. Bên cạnh đó, việc can thiệp  
theo hình thức cá nhân cũng là một trong những đặc trưng của phương pháp can thiệp sớm  
cho trẻ tự kỷ theo EIBI, được khẳng đꢄnh là cách làm hiệu quả trong giáo dục trẻ tự kỷ [5].  
2.2. Đối tượng thực nghiệm  
Đối tượng thực nghiệm là một bé trai tự kỷ, được 4 tuổi 5 tháng 10 ngày vào thời điểm  
bắt đầu can thiệp. Trẻ sống cùng gia đình tại thành phố Huế. Trẻ theo học tại một trường  
Mầm non trong thành phố Huế từ khi hơn 2 tuổi. Trẻ được can thiệp cá nhân tại nhà bởi  
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ…  
67  
một giáo viên chuyên ngành tâm lý - giáo dục từ khi trẻ hơn 3 tuổi và kéo dài đến thời  
điểm can thiệp.  
Vào thời điểm bắt đầu can thiệp, trẻ có mức độ tự kỷ ở mức trung bình nhẹ (trẻ đạt 36  
điểm theo thang đo CARS - gần chạm ngưỡng mức tự kỷ nặng). Kết quả đánh giá từ thang  
đo Vineland cho thấy kỹ năng giao tiếp của trẻ ở mức thiếu hụt trung bình (trẻ đạt 53  
điểm chuẩn). Các kỹ năng tiếp nhận, biểu đạt và đọc viết của trẻ đều ở mức thấp (với số  
điểm 22, 9 và 0 tương ứng), trong đó kỹ năng tiếp nhận của trẻ tốt hơn so với hai kỹ năng  
còn lại. Cụ thể, ngôn ngữ tiếp nhận của trẻ rất đơn giản so với tuổi thực. Chẳng hạn, trẻ  
chỉ mới hiểu được một số câu mệnh lệnh đơn giản (ví dụ như: đưa cái này cho cô), có thể  
lắng nghe câu chuyện ít nhất 5 phút, chỉ được các bộ phận của cơ thể khi được hỏi (như  
mắt, mũi, bụng, tay, chân, đầu, miệng, chân, tay…), hiểu được một số danh từ (như cam,  
nho, chó, mèo, gà, bàn, ghế, táo, xe…), hiểu được một số động từ (như ăn, ngủ, đi, tắm,  
chạy…) và nói được tên mình khi được hỏi. Ngôn ngữ diꢀn đạt của trẻ cũng chỉ mới ở  
mức đơn giản chưa tương xứng với độ tuổi. Cụ thể, trẻ có ngôn ngữ nhưng chỉ nói được  
từng từ đơn; gọi được tên một số danh từ, động từ nhưng các âm của trẻ không rõ và  
thường mất các âm đầu; thường yêu cầu bꢁng cách kéo tay người lớn đến vật mình muốn  
hoặc chỉ vào vật; chưa biết cách sử dụng các cụm từ “nhưng”, “hoặc”; chưa kể lại được  
câu chuyện, đặt câu hỏi; không biết sử dụng ngôn ngữ cơ thể như (lắc đầu, gật đầu) để  
diꢀn tả không hoặc đồng ý. Điểm đặc biệt là trẻ rất hứng thú với học chữ. Trẻ đã có thể  
đọc thuộc một số chữ cái trong bảng chữ cái và thuộc được các con số đến 10.  
Để làm cơ sở lựa chọn các bài tập phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ, đề tài đồng thời  
đánh giá khả năng giao tiếp của trẻ qua bảng kiểm kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ. Trẻ có  
kỹ năng tìm hiểu về những người thân quen rất tốt, đạt đến giai đoạn hoàn thiện của kỹ  
năng. Kỹ năng hiểu tên gọi của trẻ ở giai đoạn 2: trẻ có thể đưa đúng thẻ tranh của đồ vật  
được yêu cầu. Kỹ năng biểu đạt tên gọi của trẻ cũng ở giai đoạn 2: trẻ có thể gọi tên được  
nhiều hơn hai đồ vật khác nhau trong hình. Tương tự, kỹ năng tìm hiểu về hành động của  
trẻ cũng ở giai đoạn 2, theo đó, trẻ có thể gọi tên được đúng hành động trong thẻ tranh.  
Đối với kỹ năng lựa chọn ít mang tính tương tác, trẻ chỉ mới ở giai đoạn 1: trẻ biết chỉ  
vào đồ vật/thức ăn mình muốn. Kỹ năng lựa chọn mang tính tương tác của trẻ lại tiến bộ  
hơn, ở giai đoạn 3: trẻ biết đưa ra yêu cầu bꢁng cách nói từ đơn. Những kỹ năng khác  
theo bảng kiểm trẻ đều không thực hiện được.  
2.3. Chương trình thực nghiệm  
Đề tài sử dụng hệ thống bài tập phát triển kỹ năng giao tiếp được xây dựng trên cơ sở  
EIBI làm chương trình thực nghiệm. Chương trình thực nghiệm tập trung vào việc phát  
triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ ở hai nhóm kỹ năng cơ bản: (1) ngôn ngữ tiếp nhận và  
ngôn ngữ biểu đạt và (2) kỹ năng thể hiện sự lựa chọn. Căn cứ vào kết quả đánh giá đầu  
vào, nhóm nghiên cứu lựa chọn bài tập dạy cho trẻ bắt đầu từ giai đoạn liền kề với các  
giai đoạn trẻ đã thành thục, hoặc giai đoạn đầu tiên của kỹ năng trẻ chưa thực hiện được  
(dựa vào bảng kiểm kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ).  
Đềtàivậndụngcác yêu cầu củaEIBItrongviệcdạytừngbài tậptrongchươngtrìnhthựcnghiệm.  
Mỗi lần thử (mỗi lần dạy) được phân thành 4 giai đoạn: (1) Người dạy nêu yêu cầu, (2) Người  
68  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH, NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG  
dạy gợi ý khi cần thiết, (3) Trẻ phản ứng, (4) Người dạy khích lệ trẻ. Đây cũng là sự vận dụng  
mối quan hệ giữatácnhân (antecedent) –hành vi (behavior)– kết quả (consequence) của phương  
pháp phân tích hành vi ứng dụng (Applied Behavior Analysis) trong dạy trẻ có nhu cầu đặc biệt.  
2.4. Thời gian, thời lượng thực nghiệm  
Thời gian thực nghiệm kéo dài 2 tháng. Trong quá trình thực nghiệm, do các điều kiện  
khách quan nên chương trình thực nghiệm bꢄ gián đoạn 2 tuần. Trẻ được can thiệp bởi  
giáo viên trong 1h30’/buổi, 4 buổi/tuần tại phòng can thiệp sớm. Bên cạnh đó, mỗi ngày  
trẻ còn được phụ huynh can thiệp khoảng 1h/ngày tại gia đình.  
2.5. Địa điểm thực nghiệm  
Trẻ được can thiệp tại phòng can thiệp sớm của giáo viên và ở gia đình của trẻ. Phòng  
can thiệp cho trẻ được bố trí theo khuyến khích của các chương trình can thiệp sớm theo  
EIBI [10]. Phòng can thiệp có một cái bàn phù hợp với tầm vóc của trẻ, hai cái ghế (1 cho  
giáo viên/cha mẹ và 1 cho trẻ). Dụng cụ để dạy được đặt ở nơi giáo viên/cha mẹ dꢀ dàng  
lấy nhưng xa tầm với của trẻ. Phần thưởng cho trẻ được đặt ở gần giáo viên/cha mẹ nhưng  
xa tầm với của trẻ. Những đồ chơi được sử dụng làm phần thưởng cho trẻ trong khi can  
thiệp thì được để riêng, trẻ không được chơi những đồ chơi này vào những thời điểm khác  
để gia tăng hứng thú của trẻ đối với việc học. Ngoài ra, đꢄa điểm can thiệp còn được mở  
rộng ra ở các khu vực sinh hoạt khác của trẻ khi trẻ được can thiệp bởi phụ huynh.  
2.6. Cách đánh giá quá trình thực nghiệm  
Việc đánh giá trẻ được tiến hành trước, trong và sau khi kết thúc quá trình thực nghiệm. Trước  
khi tiến hành thực nghiệm, trẻ được đánh giá bꢁng thang lượng giá tự kỷ ở trẻ em (Childhood  
Autism Rating Scale – CARS) để xác đꢄnh mức độ tự kỷ, thang đo hành vi thích ứng  
(Vineland 1 – chỉ sử dụng nội dung đánh giá về kỹ năng giao tiếp) và bảng kiểm kỹ năng giao  
tiếp cho trẻ tự kỷ để đánh giá khả năng giao tiếp của trẻ. Thông tin thu được sꢂ được sử dụng  
để xác đꢄnh mục tiêu can thiệp và lựa chọn bài tập. Trong quá trình thực nghiệm, trẻ được  
đánh giá bꢁng bảng kiểm kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ để kꢄp thời điều chỉnh chương trình  
can thiệp khi cần. Phản ứng của trẻ đối với những lần thử của giáo viên đều được ghi lại vào  
phiếu nhận xét buổi học ở ba nhóm: (1) đúng, (2) đúng, cần gợi ý, (3) không phản ứng. Để  
đánh giá mức độ thành thục đối với mỗi kỹ năng, mỗi buổi học, trẻ cần được học 10 lần (10  
lần thử) cho một bài tập. Nếu trẻ làm đúng 8/10 lần thử mà không cần có sự gợi ý của người  
dạy, trẻ được xem là đã thành thục bài tập đó và cần được học tiếp với bài tập ở mức cao hơn.  
Trẻ còn được đánh giá bꢁng bảng kiểm kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ sau khi kết thúc chương  
trình thực nghiệm để làm cơ sở so sánh, đối chiếu với khả năng ban đầu.  
2.7. Người thực nghiệm  
Người tiến hành thực nghiệm là giáo viên đã dạy trẻ từ khi hơn 2 tuổi cho đến thời điểm  
thực nghiệm. Đây là giáo viên chuyên ngành Tâm lý – Giáo dục, có nhiều năm kinh  
nghiệm trong can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ và đã từng tham gia nhiều khoá tập huấn chuyên  
môn về giáo dục trẻ khuyết tật. Trước khi tiến hành can thiệp cho trẻ, giáo viên này được  
tập huấn về phương pháp can thiệp sớm theo EIBI để đảm bảo nội dung chương trình can  
thiệp sớm được thực nghiệm theo đúng nguyên tắc thiết kế.  
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ…  
69  
Việc lựa chọn người thực nghiệm là giáo viên đã có thời gian dạy trẻ trước đó giúp quá trình  
thực nghiệm diꢀn ra thuận lợi hơn. Trẻ tự kỷ thường gặp nhiều khó khăn trong tiếp xúc với  
người lạ [5]. Gia đình trẻ cũng đã có nhiều thời gian phối hợp với giáo viên trong chăm sóc  
giáo dục trẻ. Trong quá trình thực nghiệm, phụ huynh và giáo viên thường xuyên phối hợp  
để đảm bảo trẻ có thể được học các bài tập trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, không chỉ giới  
hạn trong thời gian can thiệp trực tiếp với giáo viên. Đây là một trong những tiêu chí giúp  
nâng cao sự thành công của việc can thiệp sớm cho trẻ, theo đó, sự tham gia của gia đình  
đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp trẻ có thể khái quát hoá các kỹ năng được học [10].  
3. KẾT QUꢃ THỰC NGHIỆM BÀI TẬP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO  
TRẺ TỰ KỶ  
3.1. Kỹ năng ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt  
Bảng 1. Tổng hợp quá trình can thiệp kỹ năng ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt  
Phản ứng  
Số  
buổi  
học  
Số  
lần  
thử  
Đúng cần  
gợi ý  
Không phản  
ứng  
Kỹ  
năng  
Đúng  
TT  
Bài tập  
SL  
TL  
SL  
TL  
SL  
TL  
(lần)  
7
(%)  
(lần)  
(%)  
30  
0
(lần)  
(%)  
Giai đoạn 3.1 (3 vật thật)  
Giai đoạn 3.2 (4 vật thật)  
Giai đoạn 3.3 (6 vật thật)  
Giai đoạn 3.4 (3 tranh)  
1
1
1
1
10  
10  
10  
10  
70  
3
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
10  
10  
10  
100  
100  
100  
Hiểu  
tên  
0
1
0
gọi  
Giai đoạn 3.5 (4 tranh)  
Giai đoạn 3.6 (6 tranh)  
2
2
20  
20  
20  
20  
100  
100  
0
0
0
0
0
0
0
0
Đặt  
câu  
2
3
Giai đoạn 1 (vật thật)  
2
20  
0
0
0
0
20  
100  
đơn  
giản  
Tìm  
hiểu  
về  
Giai đoạn 3 (diễn tả hành động theo yêu cầu)  
Giai đoạn4 (gọitênhànhđộng đangthực hiện)  
6
5
60  
50  
51  
40  
85  
80  
9
15  
20  
0
0
0
0
10  
hành  
động  
Giai đoạn1 (hiểu têngọi cảmxúc)  
4
6
5
40  
60  
50  
39  
59  
0
97,5  
98,3  
0
1
1
0
0,5  
0,7  
0
0
0
0
0
Tìm  
hiểu  
về  
cảm  
xúc  
Giai đoạn 2 (gọi tên cảm xúc trong thẻ tranh)  
Giai đoạn 3 (diễn tả cảm xúc theo yêu cầu)  
Giai đoạn 4 (gọi tên cảm xúc trên nét mặt  
người thật)  
4
5
50  
100  
4
40  
0
0
0
0
40  
100  
Giai đoạn 1 (đưa thẻ tranh)  
4
4
40  
40  
40  
38  
74  
96  
70  
0
100  
95  
0
2
0
5
0
0
0
0
Giai đoạn 2 (gọi tên ở thẻ tranh)  
Tìm  
hiểu  
về nơi  
chốn  
Giaiđoạn3(đếnnơitheoyêucầu)  
8
80  
92,5  
80  
6
7,5  
19,1  
0
0
0
Giai đoạn 4 (nói về nơi cần đến)  
12  
7
120  
70  
23  
0
1
0,9  
0
Giai đoạn 5 (nói việc có thể làm ở từng nơi)  
Giai đoạn 6 (nói đồ vật tìm thấy ở từng nơi)  
100  
0
0
2
20  
10  
50  
10  
50  
Lưu ý: SL: số lượng; TL: tỷ lệ  
70  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH, NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG  
Quá trình can thiệp nhꢁm phát triển kỹ năng ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt cho  
trẻ được thể hiện ở bảng 1.  
- Mỗi bài tập được thử qua nhiều buổi. Mặc dù tổng tỷ lệ % lần phản ứng đúng của trẻ có  
thể < 80%, trẻ vẫn được đánh giá thành thục bài tập nếu làm đúng 8/10 lần thử trong một  
buổi học mà không cần gợi ý của người dạy.  
Nhìn vào bảng 1 có thể thấy kỹ năng ngôn ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt của trẻ có  
nhiều tiến bộ sau quá trình can thiệp. Trẻ hoàn toàn chiếm lĩnh kỹ năng hiểu tên gọi và  
kỹ năng tìm hiểu về hành động. Kỹ năng tìm hiểu về nơi chốn của trẻ cũng đã gần đạt  
được mức hoàn thiện (ở giai đoạn 5). Kỹ năng tìm hiểu về cảm xúc của trẻ cũng đã có  
nhiều tiến bộ, song vẫn còn rất hạn chế (chỉ ở giai đoạn 2). Trẻ vẫn chưa có kỹ năng đặt  
câu đơn giản sau nhiều lần thử. Biểu hiện cụ thể của trẻ như sau:  
Đối với kỹ năng hiểu tên gọi sau khi đánh giá ban đầu, giáo viên bắt đầu dạy trẻ ở giai đoạn  
3.1 (trẻ đưa được hai đồ vật/tranh theo đúng trình tự yêu cầu). Ban đầu, giáo viên sử dụng  
3 vật thật và yêu cầu trẻ lấy 2 trong 3 đồ vật đặt trên bàn đưa cho người dạy. Sau những lần  
thử đầu tiên, trẻ thường đáp ứng ngược thứ tự yêu cầu nên người dạy đã tìm cách gợi ý cho  
trẻ. Sau khi nêu yêu cầu, người dạy chờ đáp ứng từ trẻ. Nếu thấy trẻ lấy đồ vật thứ hai trước  
thì người dạy sꢂ cầm tay trẻ đặt vào đồ vật thứ nhất sau đó đến đồ vật thứ hai. Sau những  
lần gợi ý, trẻ đã có thể lấy 2 đồ vật theo đúng trình tự yêu cầu. Trẻ tiếp thu khá nhanh và có  
thể thực hiện đúng 70% yêu cầu sau 10 lần thử. Do vậy, giáo viên tiếp tục chuyển sang dạy  
giai đoạn 3.2 và 3.3 (lấy hai trong số 4 và 6 đồ vật) thì thấy trẻ phản ứng đúng với tất cả các  
lần thử. Giáo viên đã tăng mức độ khó lên bꢁng cách sử dụng tranh và yêu cầu trẻ lấy 2  
trong số 3, 4 và 6 tranh (giai đoạn 3.4, 3.5 và 3.6) thì thấy trẻ tiếp tục phản ứng đúng với tất  
cả các lần thử. Trong quá trình thực nghiệm, mặc dù không đặt mục tiêu dạy về lĩnh vực  
biểu đạt tên gọi, song giáo viên đã yêu cầu trẻ gọi tên đồ vật/tranh mình đang cầm trong tay  
để đồng thời giúp phát triển kỹ năng này cho trẻ. Trẻ đáp ứng tốt điều này với tất cả các lần  
thử. Việc dạy kết hợp giữa kỹ năng ngôn ngữ tiếp nhận và biểu đạt là một điều nên làm,  
bởi chúng có mối quan hệ với nhau rất chặt chꢂ [4].  
Ở kỹ năng đặt câu đơn giản, trẻ hoàn toàn chưa chiếm lĩnh được (100% lần trẻ không  
phản ứng với yêu cầu). Người dạy đã gợi ý bꢁng rất nhiều cách và sử dụng nhiều phần  
thưởng trẻ thích để củng cố nhưng đều không thành công. Có thể lý giải rꢁng, mức độ  
phát triển về ngôn ngữ của trẻ đang ở giai đoạn từ đơn, bởi vậy để dạy trẻ đặt câu cần có  
nhiều thời gian can thiệp.  
Đối với kỹ năng tìm hiểu về hành động, trước khi bắt đầu chương trình thực nghiệm trẻ  
đã thành thạo việc hiểu và gọi tên các hành động trong thẻ tranh, vì vậy, giáo viên bắt đầu  
dạy kỹ năng này ở giai đoạn 3 (diꢀn tả hành động theo yêu cầu). Sau những lần thử đầu  
tiên, trẻ đáp ứng tốt nhưng để chắc chắn giáo viên đã tiến hành thử tiếp ở những buổi dạy  
tiếp theo, không chỉ ở trong phòng thực nghiệm mà còn ở các đꢄa điểm khác. Sau 6 buổi  
học, trẻ đã thành thạo kỹ năng này (85% lần phản ứng đúng). Trẻ được chuyển lên học  
giai đoạn khó hơn (giai đoạn 4: gọi tên hành động đang thực hiện). Ở những lần thử đầu  
tiên, trẻ không đáp ứng với bài tập này nên người dạy đã sử dụng các gợi ý như nhắc, chờ  
đợi và mớm lời… cùng với việc sử dụng các phần thưởng. Sau 5 buổi học, trẻ đã thành  
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ…  
71  
thạo và vượt qua được giai đoạn này (80% lần phản ứng đúng).  
Kỹ năng tìm hiểu về cảm xúc được bắt đầu dạy cho trẻ từ giai đoạn 1 (hiểu tên gọi của  
các cảm xúc) và dần tiến lên giai đoạn 2 (gọi tên các cảm xúc trong thẻ tranh). Trẻ có đáp  
ứng tốt với việc học kỹ năng này, mức độ gợi ý của giáo viên cũng rất ít. Trẻ thành thục  
hai giai đoạn đầu của kỹ năng này sau 6 buổi học với trên 97% lần phản ứng đúng. Tuy  
nhiên, khi tăng dần mức độ khó, yêu cầu trẻ diꢀn tả cảm xúc theo yêu cầu (giai đoạn 3)  
thì sau 50 lần thử ở nhiều buổi học khác nhau, trẻ đều không có phản ứng với bài tập này  
(100% lần không phản ứng sau 5 buổi học). Người dạy đã tìm cách gợi ý làm mẫu, sử  
dụng gương hay các phần thưởng trẻ thích song kết quả vẫn không đổi. Mặc dù vậy, giáo  
viên quyết đꢄnh chuyển sang dạy trẻ cách gọi tên cảm xúc trên nét mặt của người thật  
(giai đoạn 4) để xem phản ứng của trẻ và cũng để kiểm chứng mức độ phù hợp của hệ  
thống bài tập trong dạy trẻ tự kỷ. Kết quả vẫn tương tự, trẻ không có đáp ứng với bài tập  
này (100% lần không phản ứng sau 4 buổi học). Với các trẻ tự kỷ, việc diꢀn tả và đọc  
được cảm xúc của người khác là điều vô cùng khó khăn [5]. Các nghiên cứu não bộ chỉ  
ra rꢁng phần não bộ có chức năng nhận diện khuôn mặt và biểu cảm của người tự kỷ có  
hình thái hoạt động khác so với người bình thường, do đó các phần não khác tham gia  
vào quá trình hoạt động xã hội cũng bꢄ ảnh hưởng [2].  
Trẻ được học kỹ năng tìm hiểu về nơi chốn bắt đầu từ giai đoạn đầu tiên, đơn giản nhất  
(giai đoạn 1: đưa đúng thẻ tranh theo yêu cầu). Trẻ phản ứng đúng ở tất cả các lần thử.  
Sau 4 buổi học, giáo viên dạy trẻ ở gọi tên các đꢄa điểm trong thẻ tranh (giai đoạn 2). Ở  
hai lần thử đầu tiên, trẻ còn cần người dạy gợi ý bꢁng cách nhắc từ nhưng ở các lần thử  
sau trẻ đã tự hoàn thành bài tập (95% lần phản ứng đúng sau 4 buổi học). Giai đoạn 3  
(tiến đến đúng nơi theo yêu cầu) được dạy trong 8 buổi và cần đến sự gợi ý của giáo viên  
thì trẻ mới dần chiếm lĩnh được kỹ năng này. Cụ thể, ban đầu, sau khi đưa yêu cầu, chờ  
khoảng 5 giây, nếu không thấy trẻ phản ứng, giáo viên cầm tay trẻ dắt đến nơi theo yêu  
cầu; về sau, giáo viên sử dụng đồ chơi và yêu cầu trẻ cầm đồ chơi đó đem đến các đꢄa  
điểm theo yêu cầu thì trẻ phản ứng đúng 80% lần thử. Giáo viên quyết đꢄnh chuyển trẻ  
lên học ở giai đoạn 5 (gọi tên việc có thể làm được ở từng đꢄa điểm). Trẻ có đáp ứng tốt  
từ những lần thử đầu tiên. Giáo viên tiếp tục dạy kỹ năng này không chỉ ở phòng can thiệp  
mà còn ở gia đình trẻ. Khi chuyển sang giai đoạn 6 (gọi tên các đồ vật có thể tìm thấy ở  
từng đꢄa điểm), trẻ chưa chiếm lĩnh được kỹ năng này. 50% lần trẻ cần giáo viên gợi ý  
(mớm lời, nhắc nhở) và 50% lần trẻ không phản ứng với yêu cầu.  
3.2. Kỹ năng thể hiện sự lựa chọn  
Kỹ năng thể hiện sự lựa chọn cũng được đưa vào chương trình can thiệp giao tiếp cho trẻ  
bởi đây là một trong những kỹ năng cực kỳ cần thiết giúp trẻ biết thể hiện nhu cầu của  
mình. Kết quả thực nghiệm cho thấy trẻ đã có thể đạt đến giai đoạn hoàn thiện của kỹ  
năng lựa chọn ít mang tính tương tác (xem bảng 2). Trẻ vẫn chưa chiếm lĩnh được kỹ  
năng ghép 2-3 từ để thể hiện sự lựa chọn mang tính tương tác. Kết quả cụ thể được trình  
bày ở bảng 2.  
72  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH, NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG  
Bảng 2. Tổng hợp quá trình can thiệp kỹ năng thể hiện sự lựa chọn  
Phản ứng  
Đúng cần  
gợi ý  
Không  
phản ứng  
Số  
Số  
Đúng  
STT Kỹ năng  
Bài tập  
buổi lần  
học thử  
SL  
TL  
SL  
TL  
SL  
TL  
(lần) (%) (lần) (%) (lần) (%)  
Giai đoạn 2 (gọi tên  
đồ vật/thức ăn mình  
muốn khi đặt trước  
mặt)  
Giai đoạn 3 (gọi tên  
đồ vật/thức ăn mình  
muốn khi cần)  
5
50  
50  
100  
0
0
0
0
Lựa chọn  
ít mang  
tính tương  
tác  
1
2
2
6
20  
60  
20  
0
100  
0
0
0
0
0
0
0
Lựa chọn  
mang tính  
tương tác  
Giai đoạn 4 (ghép 2-3  
từ)  
60  
100  
Lưu ý: SL: số lượng; TL: tỷ lệ  
Trước khi bắt đầu chuỗi các bài tập này, giáo viên đã tìm hiểu sở thích của trẻ và biết  
được thức ăn, đồ vật nào trẻ thích để sử dụng trong bài tập này. Khi bắt đầu dạy kỹ năng  
lựa chọn ít mang tính tương tác ở giai đoạn 2, trẻ đã biết yêu cầu thức ăn/đồ vật mình  
muốn khi để trước mặt trẻ ở những lần thử đầu tiên. Trẻ đã thành thạo kỹ năng này và  
được kiểm tra lại thường xuyên qua 5 buổi học ở những hoàn cảnh khác nhau (100% lần  
phản ứng đúng). Khi trẻ thành thạo ở giai đoạn gọi tên thức ăn, đồ vật mình muốn khi  
đặt ở trước mặt, giáo viên chuyển lên giai đoạn khó hơn là yêu cầu trẻ gọi tên thức ăn, đồ  
vật mình muốn khi có nhu cầu (giai đoạn 3). Khi bắt đầu bài tập này, người dạy đoán ý  
trẻ và hỏi vào những lúc trẻ đang thật sự cần thức ăn hoặc đồ vật đó nên đã có đáp ứng  
tốt từ trẻ ở những lần thử đầu tiên. Bài tập này được dạy qua 2 buổi học và trẻ đều có  
phản ứng đúng với tất cả các lần thử.  
Ở kỹ năng lựa chọn mang tính tương tác, giáo viên bắt đầu dạy trẻ bꢁng việc yêu cầu trẻ  
ghép 2 – 3 từ với nhau để thể hiện yêu cầu (giai đoạn 4). Tuy nhiên, trẻ không phản ứng  
ở tất cả các lần thử. Mặc dù người dạy đã cố gắng sử dụng các hoạt động trẻ thích, trẻ chỉ  
đáp ứng lại với các từ khóa (như vẽ, màu, bánh, uống…) chứ chưa ghép được 2 – 3 từ.  
Mức độ ngôn ngữ hiện tại của trẻ đang ở giai đoạn từ đơn nên cần luyện tập thời gian dài  
hơn để trẻ có thể chiếm lĩnh giai đoạn này.  
4. KẾT LUẬN  
Hệ thống bài tập phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ được xây dựng dựa trên các  
chương trình can thiệp sớm theo EIBI đã có hiệu quả trong can thiệp cho một trẻ tự kỷ ở  
thành phố Huế. Sự tiến bộ của trẻ thể hiện rõ rệt sau hai tháng thực nghiệm theo hình thức  
can thiệp cá nhân kết hợp với hỗ trợ của gia đình. Đa số các kỹ năng thuộc nhóm ngôn  
ngữ tiếp nhận và ngôn ngữ biểu đạt của trẻ đều đã đạt được giai đoạn cao hơn so với trước  
khi can thiệp. Trẻ đã hoàn toàn chiếm lĩnh được kỹ năng hiểu tên gọi và kỹ năng tìm hiểu  
về hành động. Kỹ năng tìm hiểu về nơi chốn của trẻ cũng đã gần đạt được mức hoàn thiện.  
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ…  
73  
Kỹ năng tìm hiểu về cảm xúc của trẻ cũng đã có nhiều tiến bộ, song vẫn còn rất hạn chế.  
Bên cạnh đó, kỹ năng thể hiện sự lựa chọn ít mang tính tương tác của trẻ cũng đã đạt đến  
mức độ hoàn thiện sau thời gian can thiệp. Tuy nhiên, trẻ vẫn chưa có kỹ năng đặt câu  
đơn giản và kỹ năng ghép 2-3 từ để thể hiện sự lựa chọn mang tính tương tác.  
Như vậy, hệ thống bài tập được xây đựng đã chứng tỏ tiềm năng của mình trong việc phát  
triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ. Trong quá trình can thiệp, việc phối hợp giữa cha  
mẹ và giáo viên để can thiệp tại nhà cho trẻ là rất quan trọng, góp phần giúp trẻ có thể  
chiếm lĩnh được kỹ năng nhanh hơn và khái quát được kỹ năng được học qua các môi  
trường khác nhau. Phụ huynh cần được tập huấn về chương trình can thiệp để có kỹ năng  
can thiệp cho trẻ. Việc sử dụng gợi ý ở mức độ giảm dần, sử dụng hệ thống phần thưởng  
khích lệ hợp lý cũng là điều cần hết sức cân nhắc trong quá trình dạy trẻ. Bên cạnh đó,  
việc đánh giá khả năng ban đầu của trẻ và đánh giá, kiểm tra thường xuyên những kỹ  
năng đã học (dù trẻ đã chiếm lĩnh) cũng là điều rất cần thiết. Đặc biệt, để đảm bảo kết quả  
đạt kết quả tốt, thời gian can thiệp cần liên tục, nhất quán và phù hợp với tình hình trẻ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
[2]  
[3]  
[4]  
American Psychiatric Association (2013). Diagnostic and statistical manual of mental  
disorder (5th ed.), Washington, DC: American Psychiatric Association.  
Autism Spectrum Australia (2017). Hướng dẫn phát triển kỹ năng xã hội và cảm xúc  
(nhóm RUBIC dịch), NXB Thế giới  
Creswell, J. W., (2012). Educational research: planning, conducting, and evaluating  
quantitative and qualitative research (4ed), Pearson Education, Upper Boston, MA.  
Hattier, M. A. & Matson, J. L. (2012). An examination of the relationship between  
communication and socialization deficits in children with autism and PDD- NOS,  
Research in Autism Spectrum Disorders, 6, 871–880.  
[5]  
[6]  
[7]  
Janzen, J. E. (2003). Understanding the nature of autism: a guide to the autism  
spectrum disorder, Texas: PsychCorp, Harcourt.  
Pierangelo, R. (2012). Assessment in special education – a practical approach, Upper  
Saddle River, New Jersey: Pearson.  
Reed, P. & Osborne, L. (2012). Impact of severity of autism and intervention time-  
input on child outcomes: comparison across several early interventions, British Journal  
of Special Education, 39, (3), 130-136.  
[8]  
[9]  
Rogers, S. J. & Vismara, L. A. (2008). Evidence-based comprehensive treatments for  
early autism, Journal of Clinical Child and Adolescent Psychology, 37(1), 8-38.  
Sallows, G. O. & Graupner, T. D. (2005). Intensive behavioral treatment for children  
with autism: Four-year outcome and predictors, American Journal of Mental  
Retardation, 110(6), 417-438.  
[10] Young, R. L., Partington, C., & Goren, T. (2010). SPECTRA: Structured Program for  
Early Childhood Therapists Working with Autism, Camberwell, VIC: ACER Press.  
74  
NGUYỄN THỊ QUỲNH ANH, NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG  
Title: DEVELOPING COMMUNICATION SKILLS FOR CHILDREN WITH AUTISM  
SPECTRUM DISORDER: A CASE STUDY  
Abstract: Communication deficits are one of the core characteristics of children with Autism  
Spectrum Disorder (ASD), limiting their ability to integrate into the community. Early Intensive  
Behavioral Intervention (EIBI) has proven to be very effective for developing communication  
skills for children with ASD. This study designed a communication exercise system for children  
with ASD based on EIBI and used them for intervening a child with ASD in Hue city. Results of  
the study show that the child made marked improvements in his receptive language, expressive  
language and making choice skills after the experiment. The child mastered the receptive label,  
understanding action and less-spontaneous requesting skills and nearly mastered the completed  
stage of the understanding place skill. The child’s understanding emotion skill did improve but  
was still very limited. The child did not improve skill in making simple sentence or using 2-3  
words to make spontaneous requesting. Research results indicate the potential of the exercise  
system in developing communication skills for childrewn with ASD.  
Keywords: Autism Spectrum Disorder, communication skills, Early Intensive Behavioral  
Intervention  
pdf 10 trang yennguyen 23340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ rối loạn phổ tự kỷ: Trường hợp nghiên cứu điển hình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_ky_nang_giao_tiep_cho_tre_roi_loan_pho_tu_ky_truo.pdf