Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến trợ giá vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội - Sử dụng dữ liệu toàn mạng 2011-2019

Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 2 (02/2021), 180-192  
Transport and Communications Science Journal  
FACTORS ASSOCIATED WITH BUS SUBSIDY IN HANOI - USING  
DATA OF THE WHOLE NETWORK FROM 2011 TO 2019  
Thanh Tung Ha*, Minh Hieu Nguyen  
University of Transport and Communications, No 3 Cau Giay Street, Hanoi, Vietnam  
ARTICLE INFO  
TYPE: Research Article  
Received: 19/10/2020  
Revised: 11/12/2020  
Accepted: 13/12/2020  
Published online: 15/2/2021  
* Corresponding author  
Email: [email protected]; Tel: 0983.052.704  
Abstract. During the recent years, bus subsidy in Hanoi has been increasing while a  
downward trend has been seen for ridership. This leads to a suspect about the effectiveness  
and efficiency of subsidy. The method of subsidy is based on kilometre. This approach  
generally is not involved in the financial outcome of public transport, that is, revenue.  
Therefore, subsidy based on passengers is worth considering. This study analyses factors  
associated with subsidy for one kilometre and one passenger in order to make comparisons.  
The advantages of this research are using longitudinal 10-year data of the whole network and  
deploying ordinal logit modelling. Findings emphasize that impacts of factors on subsidy for  
one kilometre and one passenger are dissimilar. One passenger-based subsidy show a more  
logic in the associations with factors compared with that for one kilometre. However, subsidy  
based on one passenger needs to be improved by counting correctly passengers travelling by  
monthly tickets.  
Keywords: Public transport, Subsidy, Hanoi, Bus, Efficiency.  
© 2021 University of Transport and Communications  
180  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 2 (02/2021), 180-192  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải  
PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRỢ GIÁ VẬN TẢI  
HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT TẠI HÀ NỘI - SỬ  
DỤNG DỮ LIỆU TOÀN MẠNG 2011-2019  
Hà Thanh Tùng*, Nguyễn Minh Hiếu  
Trường Đại học Giao thông vận tải, Số 3 Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
CHUYÊN MỤC: Công trình khoa học  
Ngày nhận bài: 19/10/2020  
Ngày nhận bài sửa: 11/12/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 13/12/2020  
Ngày xuất bản Online: 15/2/2021  
* Tác giả liên hệ  
Email: [email protected]; Tel: 0983.052.704  
Tóm tắt. Trong những năm qua, trợ giá cho hoạt động vận tải hành khách công cộng  
(VTHKCC) bằng xe buýt liên tục tăng tuy nhiên khối lượng vận chuyển có xu hướng giảm.  
Điều này dẫn tới những nghi ngờ về tính hiệu quả của công tác trợ giá. Phương pháp trợ giá  
hiện đang được áp dụng là theo km. Cách thức trợ giá này nhìn chung không gắn với kết quả  
tài chính của hoạt động vận tải là doanh thu. Do đó trợ giá cho hành khách có thể là 1 phương  
pháp khác cần xem xét. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phân tích các yếu tố ảnh  
hưởng đối với trợ giá cho 1 km và 1 hành khách để tiến hành đối chiếu và phân tích. Ưu điểm  
của nghiên cứu này là sử dụng hồi quy thứ tự và dữ liệu toàn mạng trong 10 năm. Kết quả  
nghiên cứu chỉ ra rằng sự ảnh hưởng của các yếu tố đối với trợ giá cho 1 km và 1 hành khách  
là khác nhau. Trợ giá theo 1 hành khách thể hiện mối tương quan mang tính logic hơn tuy  
nhiên cách thức thống kê hành khách, đặc biệt hành khách sử dụng vé tháng cần phải được  
cải thiện.  
Từ khóa: Vận tải hành khách công cộng, Trợ giá, Hà Nội, Xe buýt, Hiệu quả.  
© 2021 Trường Đại học Giao thông vận tải  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Hà Nội đã và đang phát triển hệ thống VTHKCC nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người  
dân, tuy nhiên VTHKCC không phải là một hoạt động kinh doanh thuần tuý mà là một hoạt  
động cung cấp dịch vụ công. Trong những năm gần đây Hà Nội đã có những chính sách, giải  
pháp đồng bộ để xây dựng hệ thống VTHKCC và đã đạt được những thành quả nhất định [1],  
[2]. Trong giai đoạn 2001 - 2010, thành phố đã thành công trong việc tạo ra thói quen đi lại  
181  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 2 (02/2021), 180-192  
bằng phương tiện công cộng xe buýt của người dân (sản lượng tăng 28 lần, đạt mức 420 triệu  
lượt với 65 tuyến và 1.046 phương tiện buýt vào 2010), giai đoạn này xe buýt đã đáp ứng được  
nhu cầu của người dân về chất lượng dịch vụ, giá vé rẻ và an toàn. Giai đoạn 2011-2019, tốc  
độ tăng trưởng bình quân về số lượng tuyến buýt được mở mới là 5,3%/năm; trong đó có sự đa  
dạng hơn về các loại hình buýt: buýt BRT, buýt sử dụng nhiên liệu sạch CNG. Cự ly các tuyến  
được điều chỉnh, tần suất hoạt động đa dạng, phạm vi hoạt động của mạng lưới tuyến buýt được  
mở rộng. Tốc độ tăng trưởng số km xe chạy đạt mức bình quân là 7,4%/năm, so với năm 2011  
thì tổng km xe chạy năm 2019 đã tăng 74,4%. Doanh thu, chi phí của toàn hệ thống đều tăng  
với mức độ tăng trưởng bình quân qua các năm xấp xỉ nhau, khoảng 8,8%; tuy nhiên, số lượng  
hành khách sử dụng xe buýt giảm với tốc độ bình quân 1,1%/năm.  
Do VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội luôn có chi phí lớn hơn doanh thu, nên để phát triển,  
chính quyền hàng năm đã trợ giá cho xe buýt. Trợ giá xe buýt tại Hà Nội cho đến nay vẫn theo  
định hướng trợ giá cho hành khách trên cơ sở một hệ thống giá vé hấp dẫn và thông qua bù đắp  
chi phí vận hành được tính toán trên cơ sở một bộ định mức, đơn giá. Hà Nội đang áp dụng một  
số nguyên tắc cơ bản khi tính toán trợ giá cho VTHKCC như sau: (1) Tính toán trợ giá cần dựa  
trên cơ sở một hệ thống vé quản lý tập trung, thống nhất. (2) Giá vé hấp dẫn thường là thấp hơn  
giá cước. (3) Trợ giá được tính toán linh hoạt theo thực tiễn và điều kiện kinh tế, xã hội các  
biến động khách quan ảnh hưởng đến chi phí vận hành như: lương, giá nhiên liệu, bảo hiểm.  
Tuy nhiên cơ chế chính sách về trợ giá cho xe buýt chưa được cập nhật thường xuyên, quan  
điểm và mục tiêu trợ giá chưa đồng bộ với vai trò xe buýt. Ngoài ra, chưa có tiêu chí đánh giá  
hiệu quả trợ giá cho từng loại hình tuyến, từng đơn vị tham gia VTHKCC bằng xe buýt dẫn đến  
việc áp dụng một đơn giá chung cho hoạt động VTHKCC bằng xe buýt vẫn còn hạn chế.  
Vì công tác trợ giá vận tải công cộng là một vấn đề rất phức tạp, tác động trực tiếp đến hiệu  
quả hoạt động của dịch vụ buýt. Do đó hiểu được các yếu tố tác động tới mức trợ giá và sự thay  
đổi của trợ giá là hết sức quan trọng. Đây là cơ sở để có các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao  
hiệu quả của công tác trợ giá. Bài báo này tập trung vào phân tích các yếu tố tác động tới sự  
thay đổi của mức trợ giá theo hành khách và theo km tại Hà Nội.  
Phần tiếp theo của bài báo được bố cục như sau: Mục 2 trình bày về tổng quan nghiên cứu  
liên quan tới trợ giá trên thế giới trước khi khái quát về tình hình trợ giá cho VTHKCC bằng xe  
buýt được nêu ở mục 3. Mục 4 trình bày về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Mục 5 trình  
bày kết quả của các mô hình hồi quy và biện luận các nhân tố ảnh hưởng. Mục cuối cùng gồm  
các kết luận chính và hướng nghiên cứu tiếp theo.  
2. TỔNG QUAN VỀ TRỢ GIÁ  
Trợ giá được cho là mang lại lợi ích lớn đối với phát triển đô thị và nâng cao chất lượng  
cuộc sống của thị dân. Thứ nhất, VTHKCC phát triển dẫn đến việc hạn chế ô nhiễm môi trường,  
tiếng ồn và tai nạn, điều mà sử dụng phương tiện cá nhân, ngược lại, sẽ làm gia tăng [3]. Thứ  
hai, trợ giá thúc đẩy bình đẳng xã hội vì nó tạo điều kiện cho người thu nhập thấp sử dụng dịch  
vụ đi lại để có thể thực hiện nhu cầu của bản thân theo cách tiết kiệm. Theo cách thức này, trợ  
giá giúp làm hạn chế rào cản về mặt không gian đối với việc tiếp cận các cơ hội về việc làm và  
tiêu dùng [4].  
Trên thực tế, trợ giá là hình thức quan trọng để hỗ trợ các doanh nghiệp vận tải hoạt động  
nhưng nó cũng là hình thức để hỗ trợ việc đầu tư hạ tầng và phương tiện. Chi phí đầu tư ban  
đầu của vận tải lớn [5] và được tính khấu hao vào giá thành dẫn đến giá vé tăng cao. Trợ giá  
được thực hiện có thể coi như 1 hình thức hỗ trợ chi phí đầu tư ban đầu này (khấu hao) trong  
182  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 2 (02/2021), 180-192  
khi hành khách chủ yếu chỉ phải trả chi phí vận hành thực tế của phương tiện [6].  
Tuy nhiên một số quan điểm cho rằng trợ giá là không cần thiết hoặc ít nhất là không phù  
hợp dưới góc độ kinh tế thị trường. Trợ giá được cho là một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy  
sự thiếu hiệu quả của VTHKCC. Karlaftis and McCarthy (1998) nhấn mạnh rằng các doanh  
nghiệp cung ứng dịch vụ VTHKCC có xu hướng phụ thuộc vào trợ giá và thường đòi hỏi các  
mức trợ giá gia tăng theo thời gian qua việc báo cáo sự gia tăng của chi phí vận hành. Sự gia  
tăng này có thể xuất phát từ sự ỷ lại của chính doanh nghiệp. Dù với bất cứ lý do gì, thì sự gia  
tăng của chi phí vận hành và trợ giá cũng dẫn tới sự thiếu hiệu quả ngày càng tăng của dịch vụ  
buýt. Một loạt các nghiên cứu tại các nước phát triển như Pháp, Italy, Mỹ đã chứng minh rằng  
sự gia tăng của trợ giá làm giảm hiệu quả về cả tài chính và vận hành của VTHKCC [8]–[10].  
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí trợ giá để thu hút hành khách từ sử dụng phương tiện cá  
nhân sang phương tiện công cộng là không hiệu quả vì chi phí trợ giá này cần phải tương đương  
với chi phí sử dụng phương tiện cá nhân.  
Trong 1 báo cáo tổng hợp một loạt các trường hợp nghiên cứu ở các nước đang phát triển  
cũng như các nước phát triển, trợ giá được phản ánh như là nguyên nhân gây ra sự thất bại của  
thị trường, đặc biệt đối với các nước đang phát triển [11]. Do điều kiện kinh tế hạn chế, việc trợ  
giá khiến cho ngân sách bị ảnh hưởng và giới hạn khi nhu cầu trợ giá gia tăng. Nếu như trợ giá  
không thể gia tăng, sự hấp dẫn của VTHKCC giảm sút và càng làm tăng thêm giá thành cho  
một đơn vị sản phẩm vận tải. Một cách ngắn gọn, trợ giá không đủ lớn, về cơ bản không khác  
nhiều đối với không trợ giá. Đứng trên góc độ trợ giá để thu hút người sử dụng phương tiện cá  
nhân, đặc biệt là ô tô, thì hiệu quả và tác động của trợ giá không thể so sánh với việc áp thuế và  
phí đối với nhiên liệu cũng như đi vào khu vực trung tâm. Ở góc độ hỗ trợ người thu nhập thấp,  
trợ giá cũng không thể thực sự hiệu quả vì hiếm khi trợ giá đủ lớn để mức giá thấp đến mức  
người thu nhập thấp có thể sử dụng thuận lợi.  
Tổng hợp các nghiên cứu cho thấy có hai trường phái lớn và đối nghịch nhau đối với trợ  
giá cho VTHKCC. Trên thực tế, không có kinh nghiệm nào có thể áp dụng đại trà. Thay vào  
đó, chính sách trợ giá cần được xây dựng trên cơ sở điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, khu  
vực. Nhìn chung, trợ giá thường được nghiên cứu cho các nước phát triển đối với hệ thống  
đường sắt đô thị trong khi hiếm khi được đề cập đối với các nước đang phát triển (trừ Trung  
Quốc) và đặc biệt là đối với dịch vụ buýt [12].  
Về mặt cách thức tiến hành trợ giá, dịch vụ VTHKCC thường bắt đầu được nhận trợ giá  
sau khi có một cuộc cải tổ có tính hệ thống [12]. Trợ giá ban đầu được áp dụng cho khu vực  
trung tâm hay nội thành trước khi dần được mở rộng ra toàn bộ thành phố. Các phương pháp  
tính toán mức trợ giá tương đối đa dạng, nhưng phổ biến là dựa trên hạch toán các chi phí và  
doanh thu. Ngoài ra, trợ giá còn được xem xét hỗ trợ dựa trên chất lượng dịch vụ. Chẳng hạn  
tại thành phố Shenzhen, Trung Quốc, chỉ số chất lượng (SQI-Service Quality Index) được ấn  
định một mức sàn (baseline), nếu doanh nghiệp không thể đáp ứng thì mức trợ giá sẽ giảm 30%.  
Nếu không đạt SQI trong thời gian dài, doanh nghiệp có thể bị dừng hợp động cung ứng dịch  
vụ bởi chính quyền địa phương.  
Trong các nghiên cứu trước đây, các nhân tố ảnh hưởng tới trợ giá thường được xem xét là  
các yếu tố cấu thành nên chi phí vận hành để từ đó đánh giá mức độ hiệu quả của trợ giá thông  
qua các mô hình gói dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) [13, 15]. Tuy nhiên, chưa có  
công trình nào đề cập đến việc nghiên cứu các đặc tính của mạng lưới tuyến tới sự thay đổi của  
mức trợ giá đơn vị. Tại Việt Nam, trợ giá được xem xét trong không nhiều các nghiên cứu lấy  
bối cảnh tại Hà Nội. Trong công trình [16], tác giả đã nêu lên cơ sở lý thuyết phong phú về cách  
183  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 2 (02/2021), 180-192  
thức tiến hành và tính toán trợ giá trên thế giới và đề xuất việc tính toán trợ giá cho VTHKCC  
bằng xe buýt ở Hà Nội như phương pháp đang được áp dụng hiện nay. Hạn chế của công trình  
này là đã được tiến hành tương đối lâu, từ năm 2006. Thêm vào đó, nghiên cứu tập trung vào  
xây dựng kịch bản và ước lượng mức trợ giá hơn là phân tích và đánh giá vai trò của các nhân  
tố ảnh hưởng tới trợ giá. Trợ giá, trong nghiên cứu [17], được đề cập đến như là một chỉ tiêu  
đánh giá hiệu quả của VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội. Cũng giống như nghiên cứu [16], tác  
giả không xem xét tới các nhân tố ảnh hưởng tới mức trợ giá.  
Để khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu nêu trên, chúng tôi thực hiện phân tích thống kê về  
tương quan giữa trợ giá đơn vị với những thông số của mạng lưới tuyến. Từ đó rút ra được  
những kết luận về tác động của mạng đối với hoạt động trợ giá.  
3. KHÁI QUÁT VỀ TRỢ GIÁ CHO VTHKCC BẰNG XE BUÝT Ở HÀ NỘI  
VTHKCC bằng xe buýt của Hà Nội qua các năm đã thu hút được đông đảo người dân sử  
dụng dịch vụ, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng sản lượng hành khách không đều đặn, tỷ lệ doanh  
thu/chi phí có xu hướng giảm như trong “Bảng 1”. Trợ giá xe buýt tăng theo các năm, tuy không  
đồng đều, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân đạt mức 9%/năm. Năm 2011 trợ giá thấp nhất,  
sau đó có sự thay đổi tăng giảm và đặc biệt tăng cao vào năm 2019. Để có thể nhận xét rõ hơn  
cần đối chiếu với số km xe chạy và sản lượng hành khách qua các năm. Có thể dễ dàng thấy tỷ  
lệ trợ giá/km luôn cao hơn so với trợ giá/hành khách; trong đó tốc độ tăng bình quân của tỷ lệ  
trợ giá/km là 2,6%/năm thì tỷ lệ trợ giá/hành khách tăng 10,2%/năm. Qua đây cho thấy: tuy hệ  
thống xe buýt Hà Nội luôn nỗ lực gia tăng phạm vi hoạt động (cả về không gian và thời gian)  
nhưng số lượng hành khách sử dụng xe buýt không tăng tương ứng.  
Bảng 1. Hiện trạng trợ giá VTHKCC bằng xe buýt qua 10 năm.  
Trợ giá bình Trợ giá bình  
quân /1HK quân /1km xe  
Sản lượng hành Tổng km hành  
Tổng trợ giá bình  
Năm  
khách  
trình xe chạy quân năm (103 đồng)  
(đ/HK)  
chạy (đ/km)  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
440,629,503  
453,719,550  
458,847,355  
463,512,702  
431,668,663  
394,583,839  
392,291,048  
404,378,205  
430,114,720  
83,917,579  
86,421,342  
90,129,064  
91,277,317  
93,714,187  
96,766,631  
117,507,192  
135,690,086  
146,371,735  
853,817,489  
994,038,590  
1,127,874,358  
1,070,582,957  
968,991,127  
955,117,931  
1,315,055,947  
1,697,288,120  
1,901,507,058  
1.938  
2.191  
2.458  
2.310  
2.245  
2.421  
3.352  
4.197  
4.421  
10,174  
11,502  
12,514  
11,729  
10,340  
9,870  
11,191  
12,509  
12,991  
Thời điểm năm 2019, trợ giá của xe buýt Hà Nội tăng cao so với những năm trước (tăng  
12% so với năm 2018 và 120% so với năm 2011), tuy nhiên sản lượng hành khách đã tăng trở  
lại sau một thời gian suy giảm (tốc độ tăng của sản lượng hành khách 2019 là 6 % so với 2018  
và giảm 2,4% so với năm 2011).  
Chính sách trợ giá trực tiếp và chủ yếu dựa trên số km xe chạy, chưa đánh giá theo chất  
lượng dịch vụ và năng lực của các doanh nghiệp tham gia. Tỷ lệ phân phối vé tháng liên tuyến  
còn chưa hợp lý (sản lượng vé tháng liên tuyến được chia bình quân cho toàn mạng theo sức  
chứa, cự ly và tần suất các tuyến) dẫn đến chưa đánh giá được chính xác hiệu quả khai thác của  
184  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 2 (02/2021), 180-192  
từng tuyến buýt.  
Phương pháp trợ giá hiện nay là căn cứ theo km xe chạy (bao gồm cả km chạy trên tuyến  
và km huy động) đối với từng tuyến, từng nhóm xe (theo sức chứa và thời gian hoạt động) dựa  
trên công thức: “Trợ giá = Chi phí - Doanh thu”. Trong đó “Chi phí = Chi phí định mức + Chi  
phí thực tế được thanh toán” với “Chi phí định mức = Km hành trình x Đơn giá định mức”.  
- Chi phí định mức được xác định trên cơ sở đơn giá định mức được UBND Thành phố phê  
duyệt theo từng nhóm phương tiện và khối lượng thực hiện được nghiệm thu.  
- Đơn giá định mức: áp dụng theo đơn giá tại Quyết định số 1494/QĐ-UBND ngày  
01/3/2017 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá  
vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn thành phố Hà Nội.  
- Chi phí thực tế được thanh toán: bao gồm lệ phí bến, lệ phí cầu đường, lệ phí điểm đỗ xe,  
phí sử dụng đường bộ, bảo hiểm hành khách thu hộ và chênh lệch giá nhiên liệu.  
+ Doanh thu: là số kinh phí thu được từ hoạt động bán vé xe buýt (vé lượt, vé tháng), giá  
vé áp dụng theo Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND ngày 21/4/2014 của UBND thành phố Hà  
Nội về việc phương án giá vé vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt có trợ giá trên  
địa bàn thành phố Hà Nội. Chỉ tiêu doanh thu hàng năm được xác định trên cơ sở số liệu thực  
hiện của năm trước liền kề và dự báo nhu cầu đi lại trong năm hiện tại.  
- Doanh thu vé lượt: được xác định trên cơ sở sản lượng vé lượt bán được cho từng tuyến  
và giá vé lượt ứng với từng tuyến theo quyết định số 18/2014/QĐ-UBND ngày 21/4/2014 của  
UBND thành phố Hà Nội.  
- Doanh thu vé tháng 1 tuyến: được xác định trên cơ sở sản lượng tem vé tháng 1 tuyến  
(UT1T, BT1T, TT1T) thống kê bán được cho từng tuyến và giá vé tem vé tháng 1 tuyến theo  
quyết định số 18/2014/QĐ-UBND ngày 21/4/2014 của UBND thành phố Hà Nội.  
- Doanh thu vé tháng liên tuyến: được xác định trên cơ sở phương pháp phân bổ sản lượng  
và doanh thu vé tháng liên tuyến đã được thống nhất giữa Trung tâm Quản lý và Điều hành giao  
thông đô thị với các đơn vị vận hành xe buýt.  
Trợ giá được lấy từ ngân sách Thành phố vì trợ giá xe buýt là một trong những giải pháp  
quan trọng nhất và cần thiết để phát triển VTHKCC của Hà Nội. Hiệu quả trợ giá VTHKCC  
của thành phố Hà Nội ở mức trung bình so với các đô thị trên thế giới và phụ thuộc nhiều vào  
cơ chế chính sách phát triển VTHKCC của thành phố. Tuy nhiên hiện nay với phương pháp xác  
định doanh thu chưa chính xác, dẫn đến kết quả trợ giá của từng tuyến chưa phản ánh đầy đủ  
đặc điểm và tính chất của tuyến, chất lượng dịch vụ của tuyến, sức chứa phương tiện, năm hoạt  
động. Do đó, cần thiết phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới trợ giá qua các năm theo đặc  
điểm từng tuyến, từ đó mới đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giá xe buýt của  
Hà Nội.  
4. PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU  
4.1. Phương pháp nghiên cứu  
Trợ giá được thể hiện và đánh giá thông qua hai chỉ tiêu chính là trợ giá theo hành khách  
và trợ giá theo km đối với mỗi tuyến. Đây là các biến phụ thuộc và cần được giải thích bởi các  
biến độc lập là các yếu tố tác động tới hoạt động của VTHKCC bằng xe buýt, liên quan tới đặc  
điểm của tuyến, phương tiện, và các chỉ tiêu khai thác của tuyến.  
185  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 2 (02/2021), 180-192  
Về mặt lý thuyết, mức trợ giá tính cho hành khách và km có thể được coi là biến liên tục  
tuy nhiên việc sử dụng biến liên tục có hạn chế lớn là độ lệch chuẩn tác động lớn để kết quả  
phân tích. Độ lệch chuẩn của mức trợ giá đơn vị nhìn chung có sự thay đổi lớn và độ lệch lớn,  
thậm chí với cùng 1 tuyến qua các năm do điều kiện khai thác thay đổi. Vì vậy chúng tôi không  
sử dụng mức trợ giá như là biến liên tục mà sử dụng chúng như các biến thứ bậc, đại diện cho  
các mức độ trợ giá lớn, trung bình, và thấp. Để phân chia các mức này, chúng tôi sử dụng các  
giá trị phân vị (percentile). Giá trị phân vị được ước lượng trực tiếp từ phân bố của dữ liệu đang  
nghiên cứu. Chẳng hạn phân vị 50th (hay còn gọi là trung vị - median) là giá trị mà tại đó có  
(nhiều nhất) 50% các quan sát có giá trị kém hơn giá trị phân vị 50th này. Cách sử dụng phân vị  
này góp phần quan trọng trong khắc phục sự khác biệt lớn giữa các giá trị liên tiếp trong phân  
bố dữ liệu và thường được sử dụng trong phân tích thống kê hồi quy liên quan tới các chỉ tiêu  
về mặt tài chính. Chẳng hạn, thu nhập của người dân trên toàn Mỹ thường được chia thành 4  
khoảng (25th, 50th, 75th) để thực hiện các phân tích về hành vi đi lại và tiêu dùng [18, 19]. Trong  
nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn 3 mức (khoảng) giá trị gồm 0th-40th, trên 40th-75th, và trên  
75th. Như vậy, biến phụ thuộc (mức trợ giá đơn vị) được chuyển từ liên tục thành biến thứ bậc.  
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đối với 1 biến thứ bậc, thuật toán hồi quy thứ tự được sử  
dụng (ordinal logistic regression).  
Với biến Y là biến thứ bậc, với các giá trị từ nhỏ đến lớn tương ứng thứ tự từ j=1, 2, 3,…,  
J và X được kí hiệu là vectơ p chiều của biến độc lập.  
Giả sử j = Pr(Y = j) là kết quả xác suất của phân loại j. Do đó hàm xác suất tích lũy của Y  
có thể được biễu diễn như sau:  
Pr(Y j) = 1 + 2 + … + j với j = 1, 2,…, J  
(1)  
Lấy logarit của hàm xác suất tích lũy (gọi là logit) :  
(2)  
Ở đây, j là điểm cắt thỏa điều kiện : 1  2 …  J-1 và là véc tơ hệ số của biến độc  
lập. Các hệ số được ước lượng bằng phương pháp hợp lí cực đại (LM-maximum likelihood).  
Liên quan đến các biến độc lập (biến giải thích), sau khi xem xét dữ liệu có thể sử dụng (sẽ  
được trình bày ở phần tiếp theo) và mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi quyết định chỉ sử dụng các  
biến có đầy đủ dữ liệu trong Bảng 2, bao gồm:  
- Các chỉ tiêu kỹ thuật tuyến bao gồm: chiều dài tuyến, số phương tiện trên tuyến, năm hoạt  
động của tuyến (được chia thành tuyến mở mới có số năm hoạt động <1 năm và tuyến cũ có số  
năm hoạt động từ 1 năm trở lên); Sức chứa phương tiện bao gồm 3 loại: nhỏ (≤40 chỗ), trung  
bình (41-60 chỗ) và lớn (>60 chỗ);  
- Kết quả khai thác của tuyến: số chuyến lượt/năm; tổng số km hành trình xe chạy, sản  
lượng hành khách, sản lượng khách vé lượt.  
- Đặc điểm loại hình tuyến: được chia thành 3 loại hình (1) Tuyến nội đô: có điểm đầu,  
điểm cuối nằm trong khu vực nội thành; (2) Tuyến Nội – Ngoại thành: có 1 điểm đầu hoặc cuối  
nằm ở ngoại thành; (3) Tuyến ngoại thành: cả 2 điểm đầu và cuối nằm ở khu vực ngoại thành.  
186  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 2 (02/2021), 180-192  
Bảng 2. Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng tới trợ giá một tuyến xe buýt.  
TT  
1
Yếu tố ảnh hưởng  
Chi tiết  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Cự ly tuyến  
2
Số xe có trên tuyến  
Số năm hoạt động của tuyến  
Sức chứa phương tiện  
Sản lượng hành khách  
Sản lượng vé lượt  
Các chỉ tiêu khai thác tuyến  
3
4
5
6
Kết quả khai thác tuyến  
Đặc điểm loại tuyến  
7
Tổng chuyến lượt  
8
Tổng km hành trình  
Tuyến nội thành  
9
Tuyến nội – ngoại thành  
Tuyến ngoại thành  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi định nghĩa quan sát là 1 tuyến trong 1 năm nhất định. Như  
vậy cùng 1 tuyến, trong 2 năm khác nhau sẽ được coi là 2 quan sát khác nhau. Điều này là phù  
hợp trong phân tích dữ liệu của đối tượng có sự thay đổi theo thời gian. Trên thực tế, chi phí  
vận hành và doanh thu của cùng 1 tuyến nhưng trong những năm khác nhau là khác nhau nên  
mức trợ giá cũng là khác biệt. Ví dụ rõ ràng nhất là 1 tuyến mở mới thì năm đầu tiên doanh thu  
thấp trợ giá cao nhưng năm thứ 2 thì doanh thu cao hơn và trợ giá thấp đi. Cách thức phân tích  
dữ liệu coi 1 tuyến là những quan sát khác nhau qua các năm được dùng phổ biến trước đây  
trong các phân tích, ví dụ [20].  
4.2. Dữ liệu nghiên cứu  
Để thực hiện mục tiêu phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng tới trợ giá tuyến buýt,  
dữ liệu được thu thập từ năm 2011 đến năm 2019 (10 năm) của tất cả các tuyến buýt trên toàn  
mạng lưới xe buýt Hà Nội. Dữ liệu thô ban đầu được lấy từ thống kê của Trung tâm Quản lý  
Điều hành Giao thông Đô thị Hà Nội (TRAMOC). Để đảm bảo tính đồng nhất của dữ liệu, các  
năm 2011 đến 2014 đã loại bỏ các tuyến buýt đặc trưng ra khỏi mẫu bao gồm: tuyến buýt tăng  
cường (chỉ chạy và giờ cao điểm tăng cương cho các tuyến trục); tuyến buýt chuyên trách (5  
tuyến buýt chuyên trách phục vụ cán bộ viên chức đi từ trung tâm ra các ngoài khi Hà Nội mở  
rộng). Loại bỏ một số mẫu có sai số về sản lượng và trợ giá do chưa xác định được nguyên  
nhân.  
Tổng hợp số lượng mẫu thu thập được là 870 tuyến qua 10 năm, sau khi lọc sai số và loại  
bỏ các tuyến không có tính đại diện còn lại 789 mẫu được phân bổ qua các năm từ 2011 đến  
2019. Như có thể nhìn thấy trong bảng 3, số dữ liệu quan sát tăng theo thời gian thể hiện mạng  
lưới tuyến buýt được mở rộng. Có tổng số 43 quan sát là tuyến mở mới hoạt động trong năm  
đầu tiên. Phần lớn các quan sát sử dụng xe sức chưa trung bình (gần 60%) trong khi chỉ có 10%  
sử dụng xe sức chứa nhỏ. Số lượng quan sát là các tuyến nội thành và kết hợp nội thành ngoại  
thành tương đương nhau và chiếm trên 90% tổng số mẫu. Các giá trị đối với số lượng phương  
tiện, chuyến xe, số km, số khách vé lượt, và tổng số khách 1 năm là giá trị bình quân cùng với  
độ lệch chuẩn vì các biến này được sử dụng như các biến liên tục, kết quả thống kê mô tả được  
thể hiện trong Bảng 3 như sau:  
187  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 2 (02/2021), 180-192  
Bảng 3. Kết quả thống kê mô tả.  
Biến  
Tần số  
Tỷ lệ  
Tỷ lệ cộng dồn  
8.2  
Năm  
2011  
65  
66  
8.2  
8.4  
2012  
16.6  
25.0  
34.2  
42.1  
53.1  
67.2  
82.3  
100.0  
2013  
66  
8.4  
2014  
73  
9.3  
2015  
62  
7.9  
2016  
87  
11.0  
14.1  
15.1  
17.7  
2017  
111  
119  
140  
2018  
2019  
Thời gian khai thác  
Năm đầu tiên  
Từ năm thứ 2 trở đi  
43  
5.5  
5.5  
746  
94.6  
100.0  
Trong tải phương tiện  
Nhỏ (≤ 40 chỗ)  
80  
10.1  
58.9  
30.9  
10.1  
69.1  
Trung bình (41-60 chỗ)  
Lớn (>60 chỗ)  
465  
244  
100.0  
Loại tuyến  
Nội thành  
378  
361  
50  
47.9  
45.8  
6.3  
47.9  
93.7  
Nội và ngoại thành  
Ngoại thành  
100.0  
Số lượng phương tiện bình quân trên tuyến  
Số lượng chuyến xe bình quân một năm  
Tổng số km xe chạy bình quân năm  
Khối lượng hành khách vé lượt bình quân  
Tổng khối lượng hành khách bình quân  
14.7*  
6.2**  
48,209.6*  
1,148,960.0*  
859,543.2*  
24,519.7**  
631,151.1**  
832,878.9**  
4,011,655.0**  
4,651,375.0*  
Ghi chú: * mô tả giá trị bình quân, ** mô tả độ lệch chuẩn.  
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Kết quả phân tích dữ liệu theo phương pháp hồi quy thứ tự đối với các yếu tố ảnh hưởng  
tới trợ giá theo km và trợ giá theo hành khách được trình bày trong Bảng 4 và Bảng 5. Từ kết  
quả phân tích, chúng ta có thể đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới trợ giá và so sánh mức độ ảnh  
hưởng giữa trợ giá cho 1 km và trợ giá cho 1 hành khách như sau:  
- So với năm 2019 thì mức trợ giá 2018 không có sự khác biệt, cả đối với hành khách hay  
đối với km. Mức trợ giá tính cho 1 hành khách hay 1 km năm 2015 và 2016 thấp hơn so với  
năm 2019, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phản ánh rằng giai đoạn 2015  
và 2016 bắt đầu có sự suy giảm về khối lượng vận chuyển tuy nhiên vẫn cao hơn đáng kể so  
với 2019, do đó mức trợ giá của những năm này vẫn thấp so với 2019. Giai đoạn 2012-2014 là  
giai đoạn liên tục mở rộng mạng lưới và đầu tư phương tiện nên chi phí có xu hướng tăng trong  
khi doanh thu có xu hướng giảm (vì tuyến mới chưa thu hút được hành khách), kết quả là mức  
trợ giá cho 1 km cao hơn so với 2019.  
188  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 2 (02/2021), 180-192  
Bảng 4. Kết quả các mô hình hồi quy thứ tự yếu tố ảnh hưởng tới trợ giá theo km.  
Trợ giá theo km  
Biến  
Hệ số  
Độ lệch chuẩn  
p
Năm (Tham chiếu: 2019)  
2011  
-1.734*  
0.951*  
1.377*  
0.744*  
-1.376*  
-1.915*  
-0.783*  
-0.201  
0.418  
0.378  
0.346  
0.328  
0.367  
0.306  
0.270  
0.250  
0.000  
0.012  
0.000  
0.024  
0.000  
0.000  
0.004  
0.422  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
Thời gian khai thác (Tham chiếu: năm đầu tiên)  
Năm thứ hai trở đi  
Chiều dài tuyến  
-0.673  
0.053*  
0.410  
0.016  
0.100  
0.001  
Trong tải phương tiện (Tham chiếu: nhỏ (≤ 40 chỗ))  
Trung bình (41-60 chỗ)  
Lớn (> 60 chỗ)  
Số lượng phương tiện trên tuyến  
Số lượng chuyến xe một năm  
Tổng số km xe chạy  
Loại tuyến (Tham chiếu: nội thành)  
Nội - ngoại thành  
2.192*  
2.524*  
-0.028  
0.297  
0.344  
0.024  
0.000  
0.000  
0.255  
0.823  
0.003  
2.08E-06  
9.39E-07*  
9.29E-06  
3.19E-07  
0.139  
0.814*  
-1.16E-06*  
-3.05E-07*  
0.373  
0.193  
0.390  
2.80E-07  
6.59E-08  
0.626  
0.470  
0.037  
0.000  
0.000  
Ngoại thành  
Khối lượng hành khách vé lượt  
Tổng khối lượng hành khách  
/cut1  
/cut2  
2.443  
0.633  
Log likelihood  
PseudoR2  
-621.455  
0.2733  
- Đánh giá yếu tố thời gian khai thác tuyến (so sánh tham chiếu giữa tuyến hoạt động từ  
năm thứ 2 trở đi so với tuyến mở mới dưới 1 năm): Không có sự khác biệt về loại tuyến này đối  
với trợ giá cho 1 km, tuy nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới trợ giá cho 1 hành khách. Điều này phù  
hợp với phương pháp trợ giá hiện nay, đơn giá chi phí tính theo km xe chạy, và đối với các  
tuyến sau 1 năm vận hành thì sản lượng tăng làm ảnh hưởng tới trợ giá của 1 hành khách hơn  
là đối với trợ giá cho 1km.  
- Yếu tố chiều dài tuyến có ảnh hưởng tới mức trợ giá cho 1 km, tuyến càng dài thì mức  
trợ giá bình quân cho 1 km càng cao. Tuy nhiên chiều dài tuyến không ảnh hưởng tới mức trợ  
giá tính bình quân cho 1 hành khách.  
- Yếu tố sức chứa phương tiện có ảnh hưởng lớn đến trợ giá cho 1 km, điều này phản ảnh  
đúng ngay trong phương pháp tính toán trợ giá, đơn giá của tuyến được xác định theo sức chứa  
phương tiện, phương tiện càng lớn thì mức trợ giá cho 1 km càng lớn. Tuy nhiên đối với ảnh  
hưởng của sức chứa tới trợ giá cho hành khách thì ta có thể thấy xe trung bình lại không ảnh  
hưởng tới trợ giá cho 1 hành khách nếu tham chiếu với xe nhỏ. Sự khác biệt được nhìn thấy ở  
189  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 2 (02/2021), 180-192  
xe lớn và xe nhỏ với mức trợ giá cho 1 hành khách cao hơn ở xe lớn  
Bảng 5. Kết quả các mô hình hồi quy thứ tự yếu tố ảnh hưởng tới trợ giá theo hành khách.  
Trợ giá theo hành khách  
Biến  
Hệ số  
Độ lệch chuẩn Trị số p  
Năm (Tham chiếu: 2019)  
2011  
-1.320*  
-0.003  
1.745*  
0.533  
-1.732*  
-1.432*  
-0.391  
0.159  
0.502  
0.483  
0.479  
0.439  
0.534  
0.379  
0.345  
0.322  
0.009  
0.995  
0.000  
0.226  
0.001  
0.000  
0.258  
0.621  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
2018  
Thời gian khai thác (Tham chiếu: năm đầu tiên)  
Năm thứ hai trở đi  
Chiều dài tuyến  
-1.940*  
-0.019  
0.620  
0.024  
0.002  
0.430  
Trong tải phương tiện (Tham chiếu: nhỏ (dưới 40 chỗ))  
Trung bình (40-60 chỗ)  
Lớn (60-80 chỗ)  
Số lượng phương tiện trên tuyến  
Số lượng chuyến xe một năm  
Tổng số km xe chạy  
Loại tuyến (Tham chiếu: nội thành)  
Nội - ngoại thành  
0.581  
1.070*  
-0.018  
0.339  
0.398  
0.034  
0.086  
0.007  
0.593  
0.060  
0.000  
-2.71E-05  
9.17E-06*  
1.45E-05  
7.99E-07  
0.023  
-0.214  
-8.90E-07  
-2.71E-06*  
-5.468  
0.257  
0.491  
5.27E-07  
2.15E-07  
0.970  
0.928  
0.663  
0.091  
0.000  
Ngoại thành  
Khối lượng hành khách vé lượt  
Tổng khối lượng hành khách  
/cut1  
/cut2  
-1.194  
0.919  
Log likelihood  
PseudoR2  
-327.465  
0.6172  
- Yếu tố số lượng phương tiện trên tuyến và số chuyến xe bình quân trong năm không tác  
động đến trợ giá cho 1 km cũng như cho 1 hành khách dưới góc độ thống kê.  
- Yếu tố đặc điểm loại hình tuyến so sánh tham chiếu với các tuyến nội thành cho chúng ta  
thấy có ảnh hưởng tới trợ giá cho 1 km nhưng lại không ảnh hưởng tới trợ giá cho 1 hành khách.  
Các tuyến ngoại thành có trợ giá cho 1 km.  
- Cả yếu tố sản lượng khách vé lượt và tổng lượt khách đều ảnh hưởng tới trợ giá cho 1  
km, đã phản ánh từ công thức trợ giá xe buýt hiện nay của Hà Nội, nhưng khách vé lượt lại  
không ảnh hưởng tới trợ giá cho 1 hành khách. Điều này có thể phán ảnh tỷ lệ sản lượng vé lượt  
so với tổng lượt khách chiếm tỷ lệ nhỏ (bình quân các tuyến toàn mạng là khoảng 18%). Mặt  
khác, do đã cố định đơn giá chi phí cho 1km xe chạy trên các tuyến, do đó hành khách vé lượt  
sẽ ảnh hưởng đánh kể đến trợ giá cho 1km.  
- Tổng sản lượng khách càng tăng thì mức trợ giá tính cho 1 km hay cho 1 hành khách đều  
190  
Tạp chí Khoa học Giao thông vận tải, Tập 72, Số 2 (02/2021), 180-192  
giảm. Điều này là phù hợp với cách thức tính toán trợ giá hiện nay, mẫu số càng tăng thì trợ giá  
cho 1 hành khách và 1 km càng giảm, so sánh mức độ ảnh hưởng của các năm thông kê với  
năm 2019 thì ta có thể thấy ảnh hưởng của sản lượng hành khách với trợ giá 1km sẽ nhiều hơn  
mức độ ảnh hưởng tới trợ giá 1 hành khách.  
5. KẾT LUẬN  
Bài báo trình bày kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức trợ giá cho 1 km và 1  
hành khách với trường hợp nghiên cứu là thủ đô Hà Nội. Đây là 1 trong không nhiều nghiên  
cứu, theo hiểu biết của chúng tôi, về các nhân tố ảnh hưởng tới trợ giá có phân tích định lượng,  
đặc biệt sử dụng dữ liệu trong 10 năm gần đây.  
Có thể thấy rằng một số nhân tố tác động không đồng nhất đối với trợ giá cho 1 km và 1  
hành khách, chẳng hạn như khối lượng hành khách vé lượt, thời gian khai thác. Điều này cho  
thấy sự khác biệt và bất cập trong cách thức tính toán, phân bổ trợ giá hiện nay. Về nguyên tắc,  
trợ giá phải căn cứ vào doanh thu và chi phí, do đó trợ giá theo hành khách phản ánh tốt hơn  
mối quan hệ này. Trong khi đó trợ giá theo km chỉ căn cứ vào kết quả của hoạt động vận tải  
dưới góc độ người cung ứng nhưng không phản ánh đầy đủ kết quả dưới góc độ tài chính là  
doanh thu. Những kết quả liên quan tới các yếu tố ảnh hưởng trợ giá cho 1 km phản ánh việc  
tập trung cung ứng các tuyến càng dài, chủ yếu đi ngoại thành lại được hỗ trợ về mặt tài chính  
nhiều hơn (xem yếu tố chiều dài tuyến, loại tuyến). Như vậy, khu vực đông đúc nội thành, cần  
xe buýt phục vụ nhất lại không được quan tâm bằng khu vực ngoại thành, nếu đứng trên góc độ  
trợ giá. Trợ giá cho hành khách cũng thể hiện những kết quả phi logic như số lượng khách vé  
lượt tăng nhưng gần như không ảnh hưởng tới trợ giá bình quân cho 1 hành khách. Điều này có  
thể được giải thích bởi việc trợ giá cho 1 hành khách về cơ bản dựa nhiều hơn trên số lượng  
hành khách sử dụng vé tháng. Tuy nhiên số lượng khách sử dụng vé tháng hiện nay được phân  
bổ thay vì thống kê chính xác. Như vậy, thống kê khách vé tháng chưa thực sự phù hợp.  
Với những kết quả phân tích như trên, chúng tôi thấy rằng phân bổ trợ giá theo hành khách  
có thể là hình thức phù hợp hơn. Tuy nhiên hình thức này chỉ có thể thực hiện được và thực  
hiện hiệu quả nếu thống kê về khách sử dụng vé tháng được làm tốt và chính xác. Để làm được  
điều này, hệ thống vé điện tử là hết sức cần thiết.  
LỜI CẢM ƠN  
Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường đại học Giao thông vận tải trong đề tài mã số T2020-  
KT-018.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. M. H. Nguyen, Evaluating the Service Quality of the First Bus Rapid Transit Corridor in Hanoi City  
and Policy Implications, in Proceedings of the International Conference on Innovations for Sustainable  
and Responsible Mining, Cham, 108 (2021) 98-123. https://doi.org/10.1007/978-3-030-60269-7_6  
[2]. M. H. Nguyen et al., Impediments to the bus rapid transit implementation in developing countries –  
a
typical  
evidence  
from  
Hanoi,  
Int.  
J.  
Urban  
Sci.,  
4
(2019)  
464-483.  
[3]. M. A. Delucchi, The Annualized Social Cost of Motor-Vehicle Use in the U.S., 1990-1991:  
Summary of Theory, Data, Methods, and Results, (1997) Accessed: Oct. 18, 2020. [Online]. Available:  
[4]. H. J. Holzer et al., Public transit and the spatial distribution of minority employment: Evidence from  
a natural experiment, J. Policy Anal. Manage., 22 (2003) 415-441. https://doi.org/10.1002/pam.10139  
191  
Transport and Communications Science Journal, Vol 72, Issue 2 (02/2021), 180-192  
[5]. S. S. Tu, Khai thác vận tải (Transport operators). Hanoi, Vietnam: Transport and Communications  
Publishing House, 2018.  
[6]. P. Nelson et al, Transit in Washington, DC: Current benefits and optimal level of provision, J. Urban  
[7]. M. G. Karlaftis, P. McCarthy, Operating subsidies and performance in public transit: an empirical  
study, Transp. Res. Part Policy Pract., 32 (1998) 359-375. https://doi.org/10.1016/S0965-  
[8]. E. Ottoz et al., The impact of ownership on the cost of bus service provision: an example from Italy,  
Appl. Econ., 41 (2009) 337–349. https://doi.org/10.1080/00036840601007260  
[9]. W. Roy, A. Yvrande-Billon, Ownership, Contractual Practices and Technical Efficiency: The Case  
of Urban Public Transport in France, J. Transp. Econ. Policy, 41 (2007) 257–282.  
l_Efficiency_The_Case_of_Urban_Public_Transport_in_France  
[10]. C. Winston, U.S. Industry Adjustment to Economic Deregulation, J. Econ. Perspect., 12 (1998)  
[11]. Nicolas Estupinan, Andrés Gómez-Lobo, Affordability and subsidies in public urban transportꢀ:  
what do we mean, what can be done?, 2007. Accessed: Oct. 18, 2020. [Online]. Available:  
[12]. J. Yang et al., Bus transit subsidy under China’s transit metropolis initiative: The case of Shenzhen,  
Int. J. Sustain. Transp., 14 (2020) 56–63. https://doi.org/10.1080/15568318.2018.1519088  
[13]. J.-S. Hahn et al, Efficiency analysis on bus companies in Seoul city using a network DEA model,”  
KSCE J. Civ. Eng., 17 (2013) 1480-1488. https://doi.org/10.1007/s12205-013-0467-x  
[14]. M. G. Karlaftis, A DEA approach for evaluating the efficiency and effectiveness of urban transit  
systems, Eur. J. Oper. Res., 152 (2004) 354-364. https://doi.org/10.1016/S0377-2217(03)00029-8  
[15]. C. D. Köksal, A. A. Aksu, Efficiency evaluation of A-group travel agencies with data envelopment  
analysis (DEA): A case study in the Antalya region, Turkey, Tour. Manag., 28 (2007) 830-834.  
[16]. Nguyễn Thị Thực, Nghiên cứu hoàn thiện phương thức trợ giá cho xe buýt công cộng ở các đô thị,  
Luận án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Giao thông vận tải, 2006.  
[17]. Nguyễn Thanh Chương (2007), Nghiên cứu phương pháp đánh giá VTHKCC bằng xe buýt, Luận  
án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Giao thông vận tải, 2007.  
[18]. R. Buehler et al., Active Travel in Germany and the U.S.: Contributions of Daily Walking and  
Cycling  
[19]. J. Pucher et al., Walking and Cycling in the United States, 2001–2009: Evidence From the National  
Household Travel Surveys, Am. J. Public Health, 101 (2011) S310-S317.  
to  
Physical  
Activity,  
Am.  
J.  
Prev.  
Med.,  
41  
(2011)  
241-250.  
[20]. J. C. Herrera et al., Assessing corridor performance: An international and interdisciplinary  
perspective, Restructuring public transport through Bus Rapid Transit, J. C. Munoz and L. Paget-  
Seekins,  
Eds.  
Policy  
Press,  
2016,  
pp.  
299–316.  
nal_and_interdisciplinary_perspective  
192  
pdf 13 trang yennguyen 12380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến trợ giá vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Hà Nội - Sử dụng dữ liệu toàn mạng 2011-2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_yeu_to_anh_huong_den_tro_gia_van_tai_hanh_khach_co.pdf