Ứng dụng quy hoạch không gian biển vào phát triển sản phẩm du lịch biển đảo ở Kiên Giang

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Phạm Văn Quang  
____________________________________________________________________________________________________________  
ỨNG DỤNG QUY HOẠCH KHÔNG GIAN BIỂN  
VÀO PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH BIỂN ĐẢO Ở KIÊN GIANG  
PHẠM VĂN QUANG*  
TÓM TẮT  
Kiên Giang có nguồn tài nguyên biển phong phú, đa dạng, rất giàu tiềm năng phát  
triển du lịch biển đảo. Những năm qua, Kiên Giang đã ứng dụng quy hoạch không gian  
biển (QHKGB) vào phát triển sản phẩm du lịch (SPDL) biển đảo và đạt được một số thành  
tựu đáng kể mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế. Bài viết này tập trung nghiên cứu ứng dụng  
QHKGB vào phát triển SPDL biển đảo, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp  
việc ứng dụng QHKGB vào phát triển SPDL biển đảo đạt hiệu quả cao.  
Từ khóa: quy hoạch không gian biển, sản phẩm du lịch biển đảo, tỉnh Kiên Giang.  
ABSTRACT  
The application of marine spatial planning  
in developing sea-island tourism products in Kien Giang  
Kien Giang has abundant and diverse marine resources, and high potentials to  
develop the sea island tourism. In recent years, King Giang has applied marine spatial  
planning in developing sea-island tourism products and obtained some remarkable  
achievements although there are still some shortcomings. The article focuses on studying  
the application of marine spatial planning in developing sea-island tourism products, in  
light of which, some solutions are suggested to enhance the effectiveness of the application  
of marine spatial planning in developing sea-island tourism products.  
Keywords: marine spatial planning, the sea-island tourism products, Kien Giang  
province.  
trung nghiên cứu ứng dụng QHKGB vào  
phát triển SPDL biển đảo ở tỉnh Kiên  
Giang. Đây cũng là cách đổi mới phương  
pháp quản lí, nhằm giúp các doanh  
nghiệp du lịch vươn lên kinh doanh đạt  
hiệu quả cao, hội nhập quốc tế thành  
công, góp phần giúp tỉnh Kiên Giang  
thực hiện thắng lợi định hướng tập trung  
phát triển du lịch để từng bước trở thành  
ngành kinh tế mũi nhọn.  
1.  
Đặt vấn đề  
Quy hoạch không gian biển là thuật  
ngữ quản lí chỉ mới xuất hiện những năm  
gần đây nhưng đã nhanh chóng được ứng  
dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế  
biển, và trong sản xuất - kinh doanh của  
một số ngành kinh tế biển đặc thù nhằm  
nâng cao hiệu quả hoạt động trong môi  
trường biển.  
Du lịch biển đảo là một trong  
những ngành kinh tế quan trọng của tỉnh  
Kiên Giang, luôn chiếm tỉ trọng cao trong  
cơ cấu kinh tế của tỉnh. Bài viết này, tập  
2. Ứng dụng QHKGB vào xây dựng  
SPDL biển đảo  
2.1. QHKGB với việc phát triển SPDL  
* ThS, Trường Chính trị tỉnh Kiên Giang; Emai: [email protected].vn  
135  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Số 5(83) năm 2016  
____________________________________________________________________________________________________________  
Theo UNESCO: “Quy hoạch không  
gian biển là một quá trình phân tích và  
phân bổ các phần của không gian biển ba  
chiều cho các mục đích sử dụng cụ thể,  
để đạt được các mục tiêu sinh thái, kinh  
tế và xã hội thường được xác định thông  
qua tiến trình chính trị; kết quả của quá  
trình QHKGB thường là một kế hoạch  
tổng thể toàn diện cho một vùng biển.  
QHKGB là một phần của quản lí sử dụng  
biển”. [1]  
lịch được giao những dự án đầu tư có sử  
dụng không gian biển nhất định cũng cần  
phải được tiếp tục phân thành những đơn  
vị không gian nhỏ hơn để tiện sử dụng  
cho việc khai thác SPDL biển đảo.  
Quản lí tổng hợp vùng bờ đã được  
ứng dụng nhiều cho phát triển SPDL biển  
đảo có “chức năng sản xuất” nhằm kết  
hợp các yếu tố đầu vào như lao động, tài  
nguyên thiên nhiên của dải ven biển, vốn  
và thời gian để tạo ra các SPDL mong  
đợi (như: bãi biển cho khách du lịch nghỉ  
dưỡng; chất lượng nước đảm bảo cho khu  
vực tắm biển, thể thao; bảo tồn biển cho  
các hoạt động tham quan, lặn biển; bảo  
tồn nguồn lợi thủy sản vùng bờ cho hoạt  
động du lịch câu cá giải trí; bảo tồn rừng  
ngập mặn giảm tổn thất biến đổi khí hậu  
và chống ô nhiễm môi trường).  
SPDL biển đảo chủ yếu dựa vào các  
yếu tố về tự nhiên, cảnh quan, điều kiện  
lịch sử - văn hóa, kinh tế-xã hội gắn với  
không gian biển để thu hút du khách đến  
tham quan, nghỉ dưỡng, trải nghiệm...  
Khi các yếu tố này được phát hiện, quy  
hoạch phát triển, khai thác và sử dụng  
cho mục đích du lịch thì chúng sẽ trở  
thành SPDL hấp dẫn [5]. Ứng dụng  
QHKGB giúp nhà quản lí và doanh  
nghiệp đánh giá mối quan hệ giữa sử  
dụng biển cho mục đích du lịch với sử  
dụng biển cho mục đích khác; xác định  
mối quan hệ giữa du lịch với môi trường  
biển. Cách tiếp cận này sẽ giúp Nhà nước  
và doanh nghiệp cùng xây dựng SPDL  
tương thích với điều kiện môi trường  
biển.  
Ở Việt Nam, vấn đề QHKGB được  
quan tâm cùng với phân vùng chức năng  
các khu bảo tồn biển và quản lí tổng hợp  
vùng bờ. Phân vùng chức năng được coi  
là công cụ đầu tiên của chu kì QHKGB  
được rút kinh nghiệm từ quy hoạch sử  
dụng đất, áp dụng cho việc phân bổ các  
nguồn tài nguyên biển và không gian  
biển cho các mục đích sử dụng khác nhau  
có tính đến tình trạng của các hệ sinh  
thái, phù hợp với tầm nhìn chung, các giá  
trị kinh tế - văn hóa - xã hội và các mục  
tiêu phát triển bền vững. Thực chất phân  
vùng chức năng biển là sự phân chia  
không gian thành những “đơn vị không  
gian” nhỏ hơn theo những tiêu chí nhất  
định để có định hướng và cách thức khai  
thác, sử dụng tài nguyên biển hợp lí, hiệu  
quả và bền vững [1]. Đây là hoạt động đã  
có nhiều đóng góp cho hệ thống bảo tồn  
biển, có tác dụng tốt trong xây dựng  
SPDL biển đảo. Mối liên kết giữa các  
khu bảo tồn và các doanh nghiệp du lịch  
gắn bó lâu đời. Các khu bảo tồn cần du  
lịch và các doanh nghiệp du lịch cần  
không gian biển để bảo vệ. Du lịch luôn  
là tiêu chí xem xét và thiết lập quản lí các  
khu bảo tồn biển. Mỗi doanh nghiệp du  
2.2. Phương pháp ứng dụng QHKGB  
phát triển SPDL biển đảo  
136  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Phạm Văn Quang  
____________________________________________________________________________________________________________  
Ứng dụng QHKGB phát triển  
SPDL biển đảo bằng cách thực hiện đồng  
bộ các yếu tố sau:  
doanh nghiệp (sử dụng phương pháp  
phân tích tổng hợp, thống kê, chuyên  
gia...). Cần phải xây dựng tích hợp nhiều  
kế hoạch chi tiết, thiết kế các sản phẩm  
cụ thể. Các kế hoạch phát triển sản phẩm  
phải kết hợp các lựa chọn thay thế cho  
việc sử dụng hiệu quả tài nguyên du lịch  
trong tương lai. Giai đoạn lập kế hoạch  
và phân tích nên được dựa trên nghiên  
cứu ứng dụng (phương pháp vẽ sơ đồ,  
bản đồ...) và giải quyết cả hai tiến trình  
môi trường và con người.  
• Thực hiện các kế hoạch: Tiến hành  
thực hiện các chương trình hành động đã  
được xây dựng chi tiết, thiết kế cụ thể,  
thực hiện các chương trình đầu tư xây  
dựng SPDL biển đảo, thử nghiệm sản  
phẩm. Phân tích hiệu quả việc khai thác  
sản phẩm, trên cơ sở đó hoàn thiện sản  
phẩm, đẩy mạnh giới thiệu, quảng bá sản  
phẩm để thu hút du khách, khai thác sản  
phẩm để tăng lợi nhuận cho doanh  
nghiệp.  
• Nghiên cứu: Cần tập trung vào  
việc sử dụng các biện pháp thu thập  
thông tin (điều tra thực địa, thống kê,  
quan sát, điều tra xã hội học, phương  
pháp chuyên gia...), xây dựng cơ sở dữ  
liệu về nguồn tài nguyên du lịch biển đảo  
bao gồm các thông tin về tài nguyên du  
lịch tự nhiên (chiều kích sinh thái), tài  
nguyên du lịch nhân văn, thị trường du  
lịch, các hoạt động kinh tế - xã hội có  
liên quan và dữ liệu về sự kết nối các  
hoạt động ngoài khơi với các cộng đồng  
trên đất liền... (chiều kích con người).  
• Lập kế hoạch và phân tích: Việc lập  
kế hoạch và phân tích sử dụng không  
gian biển phát triển SPDL phải dựa trên  
các kết quả nghiên cứu và thu thập cơ sở  
dữ liệu về tài nguyên du lịch trong không  
gian biển, tình hình cạnh tranh và thị  
trường du lịch, cũng như khả năng của  
Hình 1. Các yếu tố của ứng dụng QHKGB  
vào phát triển SPDL biển đảo  
Nguồn: [6]  
137  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Số 5(83) năm 2016  
____________________________________________________________________________________________________________  
• Giám sát và đánh giá kết quả:  
Đánh giá hiệu quả thực hiện các kế hoạch  
khai thác SPDL biển đảo, khung thời  
gian và cơ chế thực hiện, xem xét các  
phương diện của sản phẩm cần cải thiện  
và xây dựng các quy chế đánh giá và điều  
chỉnh. Các kết quả đánh giá sẽ được phản  
hồi và sử dụng trong giai đoạn xây dựng  
kế hoạch và phân tích. Quá trình này  
được lặp lại từ đầu đối với sản phẩm đưa  
vào khai thác.  
suốt quá trình xây dựng sản phẩm.  
Các yếu tố cơ bản của quá trình ứng  
dụng QHKGB phát triển SPDL biển đảo  
phải được kết hợp chặt chẽ, triển khai đồng  
bộ, linh hoạt, liên tục, có sự điều chỉnh và  
có sự tham gia đầy đủ của các bên liên  
quan mới đạt được kết quả như mong  
muốn.  
3.  
Ứng dụng QHKGB vào phát triển  
SPDL biển đảo ở tỉnh Kiên Giang  
3.1. Đặc điểm của ngành du lịch tỉnh  
Kiên Giang  
• Tìm nguồn hỗ trợ, cung cấp tài  
chính: Việc xây dựng kế hoạch và thực  
hiện kế hoạch phát triển SPDL biển đảo  
cần phải có chi phí. Do đó, cả phía Nhà  
nước và doanh nghiệp đều phải chuẩn bị  
đầy đủ các nguồn lực vốn để thực hiện kế  
hoạch phát triển SPDL.  
Kiên Giang là tỉnh có vị trí quan trọng  
trong chiến lược phát triển du lịch của Việt  
Nam, có chiều dài bờ biển hơn 200km,  
vùng biển rộng hơn 63.290km2, ngoài khơi  
có hơn 143 hòn đảo nổi lớn nhỏ, phần đất  
liền ven biển rộng khoảng 5.717,53km2 và  
hải đảo 631km2, dân số 1,7 triệu người.  
Vùng biển Kiên Giang nằm về phía Tây  
Nam của Việt Nam, tiếp giáp với các nước  
Campuchia, Thái Lan và Malaysia tạo  
thành vùng đặc quyền kinh tế rất giàu tiềm  
năng phát triển du lịch biển đảo. Toàn tỉnh  
Kiên Giang có trên 410 doanh nghiệp du  
lịch biển đảo, trong đó có 34 công ti du lịch  
lữ hành, 6 chi nhánh và văn phòng đại  
diện, 1 doanh nghiệp lữ hành quốc tế, 370  
cơ sở lưu trú du lịch. [4]  
• Xây dựng mối quan hệ giữa các bên  
liên quan: Việc ứng dụng QHKGB vào  
phát triển SPDL có liên quan đến việc quản  
lí con người và nhiều lĩnh vực khác nhau,  
gồm: tổ chức bộ máy quản lí nhà nước,  
nhân sự và người dân trong khu vực phát  
triển SPDL, đồng thời có liên quan đến  
nhiều ngành. Vì vậy, các nhà quản lí và  
doanh nghiệp phải xây dựng tốt các mối  
quan hệ làm việc của các bên liên quan và  
các bên liên quan phải được tham gia trong  
Bảng 1. Kết quả kinh doanh du lịch biển đảo Kiên Giang giai đoạn 2011-2015  
Năm  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
Chỉ tiêu  
Tổng số lượt khách  
(người)  
5.067.947 5.581.740 5.231.594 5.436.193 4.364.980  
Số lượt khách quốc tế  
(người)  
Tổng doanh thu du  
lịch (tỉ VND)  
150.450  
752,068  
162.493  
913,5  
153.822  
1132,5  
187.700  
2.559,81  
220.980  
2.965,28  
Nguồn: [2]  
138  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Phạm Văn Quang  
____________________________________________________________________________________________________________  
Giai đoạn 2011-2015, du lịch Kiên  
Giang đã thu hút được 18.116.988 lượt  
khách đến tham quan, nghỉ dưỡng trong  
tỉnh, trong đó có 873.483 lượt khách  
quốc tế; tốc độ tăng trưởng bình quân  
10,7%/năm, tổng lượt khách năm 2015  
đạt 4.364.980 lượt, trong đó có 220.980  
lượt khách quốc tế, tốc độ tăng trưởng  
bình quân là 11,3%/năm. Doanh thu du  
lịch của các doanh nghiệp đạt 6.091,2 tỉ  
đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân là  
12,7%/năm, riêng năm 2015 đạt  
2.965,28 tỉ đồng, tăng 15,84% so với  
năm 2014.  
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -  
xã hội trên phạm vi toàn tỉnh, trong đó  
du lịch được coi là ngành kinh tế mũi  
nhọn. Cụ thể như sau:  
- Tỉnh Kiên Giang đã thực hiện  
Quyết định số: 18/2009/QĐ-TTg ngày  
03/02/2009 về phê duyệt Quy hoạch  
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội (KT-  
XH) vùng biển và ven biển Tây Nam  
Việt Nam thuộc Vịnh Thái Lan thời kì  
đến năm 2020; Quyết định số  
178/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng  
Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án  
phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh  
Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn  
Tuy nhiên, du lịch biển đảo Kiên  
Giang vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế,  
như: Đầu tư phát triển SPDL chưa  
tương xứng với tiềm năng, SPDL biển  
đảo chưa phong phú, sức cạnh tranh  
thấp, suy thoái về môi trường, hủy hoại  
cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa  
và cạn kiệt nguồn tài nguyên biển, tốc  
độ tăng trưởng du lịch giảm dần. Cần  
đến  
năm  
2020”;  
Quyết  
định  
số: 1255/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính  
phủ về Phê duyệt Quy hoạch tổng thể  
phát triển KT-XH tỉnh Kiên Giang đến  
năm 2020. Các quy hoạch, đề án này  
đều có lồng ghép, ứng dụng QHKGB  
vào phát triển SPDL chất lượng cao,  
xứng tầm quốc tế. Các quy hoạch nhấn  
phải có giải pháp tốt khắc phục đà suy mạnh phát triển du lịch biển đảo trở  
giảm đó. Việc ứng dụng QHKGB vào  
phát triển SPDL là cần thiết nhằm nâng  
cao chất lượng sản phẩm, đồng thời bảo  
vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ các di  
sản thiên nhiên, di sản văn hóa, bảo tồn  
sự đa dạng sinh học và ứng phó hiệu  
quả với các sự cố môi trường, phát triển  
du lịch theo hướng bền vững.  
3.2. Lồng ghép QHKGB vào các đề án,  
kế hoạch, quy hoạch và chiến lược phát  
triển du lịch của Tỉnh  
Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang  
thực hiện lồng ghép ứng dụng QHKGB  
vào các đề án, chiến lược, kế hoạch,  
thành ngành kinh tế mũi nhọn.  
- Ứng dụng phân vùng chức năng  
biển để thành lập Vườn Quốc gia Phú  
Quốc diện tích 31.422ha, Vườn Quốc  
gia U Minh Thượng 21.107ha; thành  
lập Khu bảo tồn biển Phú Quốc diện  
tích 26.863,17ha, Khu dự trữ sinh  
quyển thế giới Kiên Giang diện tích 1,1  
triệu ha. Chức năng của các phân khu  
này là bảo vệ sự đa dạng sinh học, sinh  
thái hải đảo, nguồn gen động, thực vật  
quý hiếm và sinh cảnh tự nhiên; bảo vệ  
rạn san hô, thảm cỏ biển và phục hồi  
nguồn lợi thủy sản; bảo vệ các loài có  
139  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Số 5(83) năm 2016  
____________________________________________________________________________________________________________  
nguy cơ tuyệt chủng (dugong, rùa  
biển)… Hoạt động này đã tạo ra SPDL  
biển đảo độc đáo, có giá trị cao, thu hút  
du khách, giúp doanh nghiệp khai thác  
hiệu quả du lịch biển đảo. Tuy nhiên,  
việc ứng dụng phân vùng chức năng  
biển vẫn chưa chú ý đến tính đặc thù  
biển đảo, chưa có sự tham gia của các  
bên liên quan, nhất là trách nhiệm của  
cộng đồng dân cư địa phương.  
- Ứng dụng quản lí tổng hợp vùng  
bờ vào phát triển du lịch trong khuôn  
khổ thực hiện Chương trình số  
367/CTr-UBND ngày 15/8/2012 về  
việc phát triển kinh tế biển Kiên Giang  
giai đoạn 2011-2015 [3], theo đó đã  
triển khai thực hiện các dự án như: Dự  
án quản lí tổng hợp vùng bờ tỉnh Kiên  
Giang với kế hoạch quản lí tổng hợp tài  
nguyên và bảo vệ môi trường vùng ven  
biển giai đoạn 2014-2020; phê duyệt dự  
án “Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên  
môi trường biển, hải đảo tỉnh Kiên  
Giang”; tổ chức nhiều cuộc tập huấn về  
du lịch có trách nhiệm gắn với biển đảo  
cho cán bộ các cấp trong tỉnh. Đã tiến  
hành kiểm kê, đánh giá tiềm năng  
nguồn tài nguyên du lịch gồm: 29 bãi  
biển, 18 hang động; 7 sông, suối; 2 hồ,  
đầm nước; 11 làng nghề, cơ sở sản xuất  
nghề; 27 di tích lịch sử - văn hóa (LS-  
VH), di tích cách mạng; 2 bảo tàng, 3 lễ  
hội. Các tài nguyên du lịch này được  
quản lí, sử dụng theo hướng hiệu quả,  
bền vững (xem Bảng 2).  
Bảng 2. Hiện trạng khai thác tiềm năng một số loại tài nguyên du lịch chính  
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang  
Tỉ lệ khai  
thác so với  
tiềm năng  
(%)  
Số lượng  
được  
kiểm kê  
Số lượng  
được đưa vào  
khai thác  
Số  
TT  
Loại tài nguyên du lịch  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Bãi biển  
Khu dự trữ sinh quyển thế giới  
Vườn quốc gia  
Khu bảo tồn biển  
Hang động  
Sông, suối  
Hồ, đầm nước  
Di tích LS-VH, di tích cách mạng  
Bảo tàng  
29  
01  
02  
01  
18  
07  
02  
27  
02  
03  
11  
14  
01  
02  
01  
09  
02  
01  
14  
02  
03  
06  
48,3  
100,0  
100,0  
100.0  
50,0  
28,6  
50,0  
51,9  
100,0  
100,0  
54,5  
10 Lễ hội  
11 Làng nghề, cơ sở sản xuất nghề  
Nguồn: [2]  
140  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Phạm Văn Quang  
____________________________________________________________________________________________________________  
- UBND Tỉnh cũng đã ứng dụng lồng  
ghép QHKGB vào các chương trình, kế  
hoạch xây dựng kết cấu hạ tầng như:  
Đường hành lang ven biển phía Nam  
(200km), đường trên đảo Phú Quốc  
(211,72km) và các đảo khác (60km); sân  
bay quốc tế Phú Quốc, hệ thống cảng  
biển, bến hành khách, công trình điện,  
nước, thông tin liên lạc… Tổng vốn đầu  
tư giai đoạn 2011-2015 khoảng hơn  
70.000 tỉ đồng, tạo ra sự chuyển biến tích  
cực, đánh thức tiềm năng du lịch biển đảo  
của tỉnh. [3]  
lưu trú 1-2 sao trở xuống. Khách du lịch  
lưu trú bình quân từ 2-3 đêm, thu hút khá  
nhiều du khách Việt Nam (từ TPHCM và  
Hà Nội) và du khách đến từ Pháp, Đức,  
Mĩ, Australia, Nga, Nhật. Khu nghỉ  
dưỡng đại trà phần lớn là Tây ba lô đa  
quốc gia, khách đến từ các tỉnh đồng  
bằng sông Cửu Long. Phân khu nghỉ  
dưỡng cao cấp và trung cấp có sức chứa  
300.000-360.000 khách/năm. Khu đại trà  
có sức chứa từ 400.000 – 450.000  
khách/năm. Đến nay, các khu nghỉ dưỡng  
đã thu hút khách nghỉ dưỡng cao cấp  
khoảng 30.000 lượt/năm, trung cấp  
150.000 lượt/năm và khách đại trà thu  
hút 350.000 lượt/năm.  
3.3. Doanh nghiệp tham gia đầu tư  
phát triển SPDL biển đảo  
Giai đoạn 2011-2015, tỉnh Kiên  
Giang đã thu hút thêm 60 dự án du lịch,  
nâng tổng số dự án đầu tư du lịch tính  
đến tháng 6 năm 2015 đạt 243 dự án,  
tổng diện tích 8.009,78 ha, tổng vốn đăng  
kí 137.149,89 tỉ đồng, có 154 dự án đã  
được cấp giấy chứng nhận đầu tư, 34 dự  
án đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Cụ  
thể như sau:  
Tuy nhiên, hiện nay, các khu nghỉ  
dưỡng cao cấp và trung cấp chỉ mới có  
một số khách sạn, resort 3-4 sao, chỉ đáp  
ứng được một số nhu cầu của khách, chất  
lượng dịch vụ còn kém, quy mô nhỏ và  
chất lượng bãi biển vẫn chưa tốt. Khu  
nghỉ dưỡng đại trà chưa có quy hoạch,  
phân vùng tập trung.  
- Phát triển nhóm SPDL nghỉ dưỡng  
biển cao cấp, trung cấp, đại trà và du  
lịch tuần trăng mật: Đã quy hoạch không  
gian cho khu nghỉ dưỡng biển cao cấp và  
trung cấp tại Bãi Khem, Bãi Sao, Hòn  
Thơm và Dương Tơ (Phú Quốc); xây  
dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng biển đại  
trà tại An Thới (Phú Quốc) và Hà Tiên.  
Cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống,  
nghỉ dưỡng... chất lượng cao gồm các  
khu resort biển cao cấp 4-5 sao và khu  
trung cấp 3-4 sao tương đối biệt lập, có  
bãi tắm và cảnh quan thiên nhiên đẹp,  
độc đáo, môi trường khá trong sạch; khu  
nghỉ dưỡng biển đại trà gồm nhiều cơ sở  
- Phát triển nhóm SPDL tham quan  
sinh thái, nghiên cứu khoa học, xem  
chim, xem động vật hoang dã trên cạn,  
xem dugong, cá heo, đồi mồi, lặn biển  
ngắm san hô và sinh vật biển: Các sản  
phẩm này được quy hoạch không gian tại  
các phân khu chức năng Vườn Quốc gia  
Phú Quốc, Khu bảo tồn động vật hoang  
dã trên đảo phía Bắc Phú Quốc, Vườn  
Quốc gia U Minh Thượng; lặn biển ngắm  
san hô và sinh vật biển ở quần đảo An  
Thới (Phú Quốc), quần đảo Hải Tặc (Hà  
Tiên) và quần đảo Bà Lụa (Kiên Lương).  
Sản phẩm tích hợp các hoạt động tham  
quan, tìm hiểu, nghiên cứu khoa học,  
141  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Số 5(83) năm 2016  
____________________________________________________________________________________________________________  
quan sát thực vật, côn trùng, các loài  
động vật hoang dã; xem chim, chụp ảnh,  
ghi âm; đi tàu xem dugong, cá heo, đồi  
mồi…; tổ chức các hoạt động lặn  
snorkeling ngắm san hô và sinh vật biển.  
Khách du lịch là các nhà khoa học, các  
nhà nghiên cứu, những người yêu thích  
thiên nhiên biển đảo, học sinh, sinh viên  
Việt Nam (TPHCM, các tỉnh đồng bằng  
sông Cửu Long) và những người đến từ  
Anh, Pháp, Đức, Mĩ, Australia, Nhật…  
Thời gian lưu trú thường từ 3-7 ngày.  
Hiện nay đã thu hút khoảng 35.000 lượt  
khách/năm  
bờ suối... Phần lớn du khách là người trẻ  
tuổi Việt Nam và khách quốc tế. Sức  
chứa: 50.000-70.000 lượt khách/năm.  
Các doanh nghiệp lữ hành ở Phú Quốc,  
Rạch Giá, Hà Tiên đã tổ chức các tour du  
lịch này, thu hút khoảng 45.000 lượt  
khách/năm.  
Tuy nhiên, việc phân bổ không gian  
biển cho SPDL này chưa ổn định, số  
lượng khách không đều, quy mô còn nhỏ,  
đầu tư thấp, ít khách.  
- Phát triển nhóm SPDL tham quan  
danh thắng cảnh, di tích LS-VH, di tích  
truyền thống cách mạng, tham quan hệ  
sinh thái karst giao thoa biển và đồng  
bằng, du ngoạn bằng tàu tham quan đảo,  
sông, tham quan các làng nghề, trang  
trại..: Phân bổ không gian dọc theo dải  
ven biển từ cửa khẩu Xà Xía (Hà Tiên) –  
Rạch Tiểu Dừa (An Minh) và toàn vùng  
hải đảo Phú Quốc và Kiên Hải. Tích hợp  
tham quan di tích, danh thắng, các làng  
nghề, trang trại; thuê tàu ra thăm các đảo  
nhỏ, quần đảo; tham quan trên sông; trải  
nghiệm, nghiên cứu trao đổi về sản xuất,  
nghỉ ngơi, mua sắm sản phẩm ở các trang  
trại ngọc trai, trang trại chó, trồng hồ  
tiêu, điều, cây ăn trái… Khách du lịch  
gồm khách quốc tế và nội địa, sức chứa  
không hạn chế. Sản phẩm này thu hút  
khoảng 3.500.000 lượt khách/năm.  
Tuy nhiên, sản phẩm này vẫn còn  
rất hạn chế do cơ chế đóng cửa rừng và  
các khu bảo tồn biển. Tính chuyên nghiệp  
trong tổ chức chưa cao, số lượng khách  
ít. Đặc biệt, độ đục của nước biển do phù  
sa đổ ra từ các công trình thoát lũ ra biển  
Tây đang gây nhiễm đục trên diện rộng  
nước biển làm hạn chế việc tổ chức môn  
lặn biển.  
- Phát triển nhóm SPDL câu cá giải  
trí, thể thao biển, thể thao mạo hiểm, du  
lịch xe đạp và tắm suối: Sản phẩm được  
phân bổ không gian phát triển tại Phú  
Quốc, Kiên Lương, Nam Du (Kiên Hải),  
Rạch Giá, Hà Tiên và Vườn Quốc gia U  
Minh Thượng. Tổ chức các hoạt động  
đánh cá, câu cá, câu mực đêm, thưởng  
thức các món hải sản tại chỗ; chơi các  
môn thể thao biển như bơi lội, lướt ván,  
lướt ván có buồm, lướt sóng có cano kéo,  
dù lượn cano kéo, jet-ski; thể thao mạo  
hiểm gồm các môn trekking, đi bộ leo  
núi, leo vách đá, thám hiểm hang động,  
đạp xe địa hình; đi xe đạp ngắm cảnh giải  
trí, rèn thể lực; tắm suối và thư giãn bên  
Tuy nhiên, các SPDL này vẫn còn  
nhiều hạn chế, hoạt động tham quan hoàn  
toàn tự phát, tự tổ chức, ít có nhu cầu lưu  
trú, các làng nghề chưa sẵn sàng đón  
khách, thiếu cảng du lịch cho hoạt động  
du ngoạn bằng tàu.  
- Phát triển nhóm SPDL hội nghị, du  
lịch tín ngưỡng - tâm linh, lễ hội, spa, du  
142  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Phạm Văn Quang  
____________________________________________________________________________________________________________  
lịch ẩm thực, du lịch mua sắm, du lịch  
cửa khẩu, du lịch trung chuyển: Phân bổ  
không gian phát triển dọc theo dải ven  
biển từ cửa khẩu Xà Xía (Hà Tiên) đến  
Rạch Tiểu Dừa (An Minh) và trên toàn  
vùng hải đảo. Sản phẩm này góp phần  
làm phong phú thêm SPDL biển đảo, sức  
chứa không giới hạn. Hiện thu hút gần  
1.350.000 lượt khách/năm. Khách tập  
trung nhiều nhất vào các dịp lễ hội của  
địa phương, những ngày nghỉ lễ.  
tương thích với du lịch để liên kết, kết  
hợp để cùng phát triển. Phối hợp giải  
quyết tốt những mâu thuẫn, xung đột  
trong sử dụng không gian biển của ngành  
du lịch. Thực hiện giải pháp này phải có  
sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và  
doanh nghiệp, trong đó Nhà nước phải  
đóng vai trò chủ đạo.  
Đẩy mạnh ứng dụng QHKGB vào  
phát triển SPDL biển đảo theo một số  
bước sau: 1) Xác định các nhu cầu sử  
dụng không gian biển cho xây dựng  
SPDL và thành lập bộ máy thực hiện; 2)  
Huy động tốt nguồn vốn cho đầu tư du  
lịch; 3) Tổ chức tham gia cho các bên  
liên quan vào xây dựng sản phẩm; 4)  
Tiến hành các quá trình trước khi xây  
dựng sản phẩm du lịch như: đào tạo  
nguồn nhân lực, tập huấn, soạn thảo các  
văn bản dự án xây dựng SPDL biển  
đảo...); 5) Xác định và phân tích tình hình  
hiện tại; 6) Xác định và phân tích tình  
hình trong tương lai; 7) Thẩm định và ra  
quyết định phê duyệt dự án xây dựng  
SPDL biển đảo; 8) Thực hiện đầu tư xây  
dựng SPDL biển đảo; 9) Giám sát và  
đánh giá hoạt động xây dựng; 10) Điều  
chỉnh, hoàn thiện SPDL biển đảo.  
Tuy nhiên, nhóm sản phẩm này về  
quy mô và điều kiện cơ sở vật chất còn  
hạn chế, chất lượng dịch vụ thấp, vẫn còn  
nhiều hiện tượng “chặt chém” du khách,  
nhất là vào những thời điểm “nóng”.  
3.4. Một số giải pháp nâng cao hiệu  
quả ứng dụng QHKGB vào phát triển  
SPDL ở Kiên Giang  
Ứng dụng QHKGB vào phát triển  
SPDL biển đảo của Tỉnh cần thực hiện  
đồng bộ các giải pháp sau:  
Cần phải khẩn trương đầu tư nhân  
lực, vật lực để thực hiện nghiên cứu, điều  
tra, khảo sát, thu thập đầy đủ thông tin,  
chính xác và khoa học về không gian  
biển, nhất là tìm hiểu đặc thù về tài  
nguyên du lịch, thị trường, các SPDL  
hiện có, tình hình hệ thống kết cấu hạ  
tầng, các hoạt động KT-XH… gắn với  
biển. Trên cơ sở đó, xác định ranh giới  
các đơn vị không gian biển nào thì xây  
dựng loại hình du lịch nào. Phân bổ  
không gian biển để bảo tồn, phục hồi các  
đối tượng thu hút du khách. Cần xây  
dựng thêm những công trình, dự án để hỗ  
trợ khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch.  
Xây dựng các kế hoạch ứng phó có thể  
xảy ra trên biển. Xác định các hoạt động  
Phải thử nghiệm sản phẩm trước  
khi đưa sản phẩm vào khai thác chính  
thức. Phân tích hiệu quả khai thác sản  
phẩm. Trên cơ sở đó, tiếp tục hoàn thiện  
sản phẩm, đẩy mạnh giới thiệu, quảng bá  
SPDL biển đảo Kiên Giang để thu hút du  
khách; mở rộng liên kết giữa các doanh  
nghiệp, các đối tác trong nước và quốc tế,  
nhất là các công ti lữ hành để tạo nguồn  
khách trong nước và quốc tế. Vì SPDL  
Kiên Giang gắn với biển nên phải chú  
143  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Số 5(83) năm 2016  
____________________________________________________________________________________________________________  
trọng theo dõi thông tin về biển bằng các  
loại công nghệ mới, hiện đại như: công  
nghệ cảm biến từ xa, công nghệ định vị,  
công nghệ theo dõi... Thu thập đầy đủ và  
chính xác thông tin cho việc ra quyết  
định quản lí, ứng phó với những tình  
huống có thể xảy ra trên biển. Kết hợp  
phát triển du lịch biển đảo với thủy sản,  
gắn phát triển du lịch với quốc phòng an  
ninh vì chúng tương thích.  
Tăng cường bảo vệ tài nguyên và  
môi trường du lịch. Cần đẩy mạnh công  
tác giáo dục môi trường để nâng cao  
nhận thức của du khách, doanh nghiệp và  
người dân địa phương về ý thức bảo vệ  
tài nguyên và môi trường du lịch biển  
đảo; đầu tư trang thiết bị để thu gom và  
xử lí chất thải ở các khu du lịch, luôn có  
kế hoạch ứng phó với sự cố tràn dầu;  
đảm bảo nguyên tắc phát triển SPDL biển  
đảo bền vững với 3 mục tiêu: kinh tế - xã  
hội - môi trường.  
Tập trung phát triển du lịch biển  
đảo trở thành ngành kinh tế mũi nhọn  
phải đảm bảo môi trường biển trong lành,  
nhưng hiện nay nước biển đang bị nhiễm  
đục trên diện rộng do phù sa đổ từ các  
công trình thoát lũ ra biển Tây. Vì vậy,  
cần phải có đề tài nghiên cứu để xử lí vấn  
đề này nhằm bảo vệ độ trong sạch của  
nước biển.  
Nhà nước cần phải có chính sách  
đầu tư và hỗ trợ tài chính cho việc  
nghiên cứu, tập huấn, đào tạo nguồn nhân  
lực cho phát triển SPDL biển đảo trên địa  
bàn. Hỗ trợ ứng dụng khoa học - công  
nghệ, kinh nghiệm QHKGB vào phát  
triển du lịch.  
dụng cơ chế chính sách đặc thù cho một  
số vùng ven biển và hải đảo như đã từng  
áp dụng cho Phú Quốc, để đánh thức  
tiềm năng du lịch biển đảo của Tỉnh.  
4. Kết luận  
Kiên Giang có nguồn tài nguyên du  
lịch phong phú, đa dạng. Đây là nền tảng  
quan trọng để phát triển hệ thống SPDL  
chất lượng cao với những SPDL đặc thù,  
SPDL chính hấp dẫn không chỉ trong  
vùng mà còn trong cả nước và quốc tế.  
Du lịch đã được xác định là ngành kinh tế  
mũi nhọn trong chiến lược phát triển KT-  
XH của tỉnh. QHKGB là phương pháp  
quản lí rất phù hợp với phát triển SPDL  
theo hướng bền vững. Kết quả ứng dụng  
QHKGB vào xây dựng SPDL biển đảo ở  
Kiên Giang những năm vừa qua đã đạt  
được một một số thành tựu đáng kể, hệ  
thống kết cấu hạ tầng KT-XH đã được  
xây dựng, hoàn chỉnh, cơ sở vật chất - kĩ  
thuật du lịch có bước phát triển mới, hệ  
thống SPDL khá phong phú, đa dạng, thu  
hút ngày càng nhiều du khách, góp phần  
quan trọng vào phát triển KT-XH của địa  
phương.  
Tuy nhiên, việc ứng dụng QHKGB  
vào phát triển SPDL biển đảo của Tỉnh  
vẫn chưa được quan tâm thực hiện đầy  
đủ, đồng bộ. SPDL của Tỉnh chưa thật sự  
phong phú và chưa có sức cạnh tranh cao,  
hệ thống các SPDL vẫn chưa hoàn chỉnh.  
Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến vị  
thế cũng như sức hấp dẫn của du lịch  
Kiên Giang. Hạn chế, yếu kém này đòi  
hỏi cần phải tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng  
QHKGB vào phát triển SPDL biển đảo  
của Tỉnh.  
Kiến nghị Nhà nước nghiên cứu áp  
144  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐHSP TPHCM  
Phạm Văn Quang  
____________________________________________________________________________________________________________  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Nguyễn Chu Hồi và nnk (2013), Kỉ yếu Hội thảo Áp dụng Quy hoạch Không gian  
biển và Vùng bờ ở Việt Nam - Cách tiếp cận Quản lí dựa vào hệ sinh thái. Gland,  
Thụy Sĩ: IUCN.  
2.  
3.  
4.  
5.  
6.  
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang (2015), Báo cáo số liệu thống kê du  
lịch Kiên Giang 2011-2015, Kiên Giang.  
UBND tỉnh Kiên Giang (2010-2015), Tình hình kinh tế – xã hội và kế hoạch phát  
triển năm 2010-2015, Kiên Giang.  
UBND tỉnh Kiên Giang (2015), Kỉ yếu Hội thảo Định hướng và giải pháp phát triển  
kinh tế biển Kiên Giang, Kiên Giang.  
Viện Du lịch bền vững Việt Nam (2013), Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch  
Kiên Giang đến năm 2020, Hà Nội.  
Douvere, F., Ehler, C. (2009), Ecosystem-Based Marine Spatial Management: An  
Evolving Paradigm for the Management of Coastal and Marine Places. Volume  
23, 2009, Ocean Yearbook, Canada, p1-27.  
(Ngày Tò a soạn nhận được bài: 13-8-2015; ngày phản biện đánh giá : 05-01-2016;  
ngày chấp nhận đăng: 21-5-2016)  
145  
pdf 11 trang yennguyen 15300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng quy hoạch không gian biển vào phát triển sản phẩm du lịch biển đảo ở Kiên Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_quy_hoach_khong_gian_bien_vao_phat_trien_san_pham_d.pdf