Tình hình và các giải pháp nhằm tăng cường an toàn giao thông đường bộ và an toàn giao thông đô thị ở Việt Nam
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
TÌNH HÌNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƢỜNG AN
TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ VÀ AN TOÀN GIAO
THÔNG ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM
PGS. TS. Doãn Minh Tâm
Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ GTVT
Tóm tắt: Trong nhiều năm gần đây, vấn đề ATGT đường bộ và ATGT đô thị đã trở thành một
trong những vấn đề nổi cộm và gây bức xúc trong dư luận xã hội ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê,
hàng ngày có tới 40 người chết vì TNGT trên toàn quốc. Các TNGT chủ yếu xảy ra trên các tuyến
quốc lộ quan trọng, có lưu lượng xe cao và mật độ xe vận tải hành khách lớn. Còn trong các đô thị lớn
như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, tình trạng ùn tắc giao thông đã và đang diễn ra ngày càng trầm trọng.
Bài báo nhằm tổng quan và tổng hợp tình hình về TNGT trên các quốc lộ và thực trạng ùn tắc giao
thông ở các đô thị lớn Việt Nam. Đồng thời tổng hợp các giải pháp lớn đã và đang được các cấp, các
địa phương nghiên cứu thực hiện nhằm góp phần giảm thiểu TNGT và ùn tắc giao thông tại Việt Nam.
1. Tổng quan về tình hình ATGT đƣờng quốc lộ còn trên 738 cầu yếu, đang lập dự án cải
bộ và ATGT đô thị ở Việt Nam.
tạo, sửa chữa 379 cầu, gia cường các cầu yếu
còn lại để đảm bảo an toàn giao thông. Đó là
chưa kể hàng ngàn tỷ đồng cho việc khôi phục
các tuyến quốc lộ bị hư hại do bão lũ, đặc biệt
các tuyến quốc lộ qua miền Trung, Tây Nguyên:
Quốc lộ 24, đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 1A,
Quốc lộ 12, Quốc lộ 49 bị hư hại nặng do bão số
9, số 11 vừa qua...
Ở Việt Nam hiện nay, tình hình đảm bảo trật
tự ATGT đường bộ và ATGT đô thị đang phải đối
mặt với 2 vấn đề nghiêm trọng, đó là tình trạng
TNGT ngày càng gia tăng trên các tuyến quốc lộ
và tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng trở nên
trầm trọng hơn trong giao thông đô thị, đặc biệt
tại các thành phố lớn ở Việt Nam như Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh.
Ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lý, đó là
Việt Nam hiện có hơn 218.500 km đường
bộ, đa phần là đường giao thông nông thôn
(chiếm tới 80%), còn lại là các quốc lộ, tỉnh lộ,
đường đô thị và đường chuyên dùng. Với 60
tuyến đường, hệ thống các tuyến quốc lộ ở Việt
Nam với tổng chiều dài 17.290 km (chiếm
khoảng 8%). Trong đó, chất lượng mặt đường
quốc lộ được đánh giá 32% đạt loại tốt, 35% đạt
loại trung bình, 17% loại xấu và 16% thuộc loại
rất xấu. Như vậy, nhiều tuyến chưa đảm bảo tiêu
chuẩn, cầu và đường chưa đồng bộ. Theo khảo
sát của Bộ Giao thông Vận tải, hiện tại ở nhiều
đoạn trên các quốc lộ 2, 3, 5, 6, 15, 70 và 279...
đã hư hỏng và xuống cấp nghiêm trọng. Đặc biệt
ở khu vực miền Trung, các cầu, cống, tuyến
đường xây dựng trước đây không phù hợp với
tình hình thuỷ văn hiện nay nên nền đường dễ bị
ngập lụt trong mùa mưa bão, gây sụt lở. Còn
theo thống kê của Cục Đường bộ Việt Nam, tính
đến cuối năm 2009, mạng lưới giao thông đường
bộ ở Việt Nam đã tăng thêm 3.871 km so với
năm 1999, nhưng không có một nguồn phí tu
sửa nào cố định. Đại diện Bộ Giao thông Vận tải
cho biết chi phí dành cho công tác bảo trì các
tuyến quốc lộ năm 2008 đạt mức cao nhất là
1.915 tỷ đồng, nhưng chỉ mới đáp ứng khoảng
50% nhu cầu. Bên cạnh đó, chỉ tính riêng trong
năm 2009, các đơn vị của Cục Đường bộ Việt
Nam đã phát hiện, xử lý 86 điểm đen và điểm có
nguy cơ mất an toàn giao thông với kinh phí 45
tỷ đồng. Rà soát thống kê, xác định trên hệ thống
Hình 1. Biểu đồ so sánh về số người chết và bị thương
trong 10 000 vụ TNGT đường bộ ở các nước.
(Số liệu trích dẫn từ tài liệu nghiên cứu nước ngoài)
dường như đường sá mỗi ngày được mở rộng
và êm thuận hơn, phương tiện tham gia giao
thông mỗi ngày được trang bị tiện nghi và hiện
đại hơn thì dường như TNGT cũng ngày một gia
tăng hơn ? Lý do cơ bản nhất, đó chính là vấn đề
tốc độ. Đường càng tốt, xe càng hiện đại dẫn
đến tình trạng người điều khiển phương tiện cho
xe chạy càng nhanh hơn, đến mức không kiểm
soát được tốc độ và gây tai nạn trong tình trạng
đường sá ở Việt Nam còn nhỏ hẹp, dòng xe hỗn
hợp đi lẫn nhau trên đường. Theo Ủy ban An
toàn giao thông quốc gia, TNGT trong 10 năm
qua liên tục gia tăng. Nếu như năm 1990, số
người bị chết vì TNGT là 2.368 người thì đến
những năm 1995 - 1996 là 6.000 người và đến
năm 2002, con số này đã lên đến 12.989 (và,
30.772 người bị thương). Chỉ tính riêng trong
năm 2002, TNGT trên thế giới đã làm cho 1,2
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
6
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
triệu người thiệt mạng và 50 triệu người bị Hình 1) thì số lượng người chết và bị thương ở
thương, gây phí tổn hơn 500 tỉ USD. Trong đó số Mỹ là 66 người, ở Kenya là 1.786 người và ở
người chết do TNGT ở châu Á chiếm một nửa, Việt Nam là 3.181 người.
tức khoảng 600 ngàn người, còn thương tích là 9
Trong khi đó, vấn đề ùn tắc giao thông tại
triệu người. Hội Chữ thập đỏ Quốc tế và Hội
các đô thị lớn ở Việt Nam đã và đang trở thành
Lưỡi liềm đỏ mới đây đã nhấn mạnh rằng, TNGT
vấn đề nghiêm trọng. Tại các đô thị lớn của Việt
Nam như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, số điểm ùn
tắc giao thông vẫn chậm được khắc phục, diễn
biến còn phức tạp nhất là vào giờ cao điểm.
là một hiểm họa ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Hàng năm, số vụ TNGT tăng 10% và con số này
ở các nước đang phát triển cao hơn tỉ lệ ở các
nước công nghiệp phát triển. Một trong những
Theo thống kê, năm 2009 tại các đô thị lớn ở Việt
nguyên nhân chính gây TNGT là có sự tham gia
Nam đã xảy ra 252 vụ ùn tắc giao thông kéo dài
hơn 1 giờ, tăng 111 vụ (78,7%) so với năm 2008.
hỗn tạp của nhiều loại phương tiện giao thông
trên đường. Tại châu Phi, châu Mỹ Latinh và
Trong đó, tại Hà Nội xảy ra 101 vụ; Hồ Chí Minh
vùng Caribe, đa số nạn nhân là người đi bộ,
xảy ra 78 vụ.
trong khi đó tại một số nước ở châu Á như Trung
Thành phố Hà Nội hiện nay có khoảng
Quốc, Hàn Quốc và Thái Lan, Việt Nam, nạn
4.000km đường, chiếm 7% diện tích toàn thành
nhân chủ yếu là những người đi xe hai bánh.
phố. So với nhu cầu, diện tích dành cho đường
Trung Quốc chỉ chiếm 1,9% số phương tiện tham
giao thông đô thị của Hà Nội là quá nhỏ. Mật độ
gia giao thông của thế giới nhưng lại chiếm
mạng lưới đường Hà Nội còn thấp và phân bố
khoảng 15% số vụ tai nạn giao thông, làm cho
không đều, mới đạt 4,08km/km2 cho tất cả các
hơn 100 ngàn người thiệt mạng. Ở Ấn Độ, cứ 6
loại đường ở các quận nội thành cũ... Mật độ
phút rưỡi lại có 1 người tử vong do TNGT và con
phương tiện giao thông theo đăng ký đã đến
số này được dự đoán là đến năm 2020 sẽ là 3/1,
mức báo động cứ 1km đường phải gánh đến 500
có nghĩa là cứ 3 phút lại có 1 người chết. Theo
ôtô và 5.500 xe máy. Diện tích đường của Hà
thống kê của Ủy ban An toàn Giao thông quốc
Nội hiện chỉ đáp ứng khoảng 40% lượng phương
gia, năm 2009 cả nước đã xảy ra gần 12.500 vụ
tiện giao thông đăng ký của thành phố, chưa kể
tai nạn giao thông, làm chết hơn 11.500 người, bị
lượng ôtô, xe máy từ ngoại tỉnh đổ vào hoạt động
thương xấp xỉ 8.000 người khác.
mỗi ngày. Giao thông trên tất cả các tuyến
Tại Việt Nam, nhóm đối tượng vi phạm trật
đường chủ yếu là giao thông hỗn hợp gồm xe
tự an toàn giao thông nhiều nhất chính là người
thô sơ, cơ giới, xe 2-4 bánh đều đi chung trên
điều khiển phương tiện môtô, xe máy. Đây là
đường, cho nên việc đi lại lộn xộn, hay va chạm,
nguyên nhân trực tiếp và là nguyên nhân chính
cản trở lẫn nhau và gây ùn tắc thường xuyên. Là
gây ra phần lớn các vụ TNGT đường bộ. Cụ thể,
thủ đô của Việt Nam, song giao thông công cộng
83,8% số vụ TNGT xảy ra do người tham gia
ở Hà Nội mới đảm bảo khoảng dưới 15 % nhu
giao thông gây ra, trong đó có 36% chạy quá tốc
cầu đi lại, còn trên 80% là do phương tiện cá
độ quy định, 17,2% tránh, vượt sai quy định,
nhân đảm nhiệm. Trong khi đó, mức độ tăng
13,9% thiếu chú ý quan sát, 6,8% do đi không
trưởng trung bình số phương tiện hàng năm ở
đúng phần đường, 6,8% say rượu bia điều khiển
Việt Nam là trên 10% / năm. Hiện nay các tuyến
phương tiện và 3,1% do đi bộ qua đường không
đường giao thông và đô thị ở Việt Nam đang bị
chú ý quan sát.... Còn nhóm các phương tiện
quá tải bởi gần 1.500.000 xe ôtô các loại cùng
với khoảng gần 20 triệu xe máy và khoảng 10
triệu xe đạp. Vào giờ cao điểm, mức phục vụ của
tham gia giao thông gây ra số vụ TNGT nghiêm
trọng với số lượng người chết và bị thương cao
nhất trong mỗi vụ, đó chính là loại phương tiện
hầu hết các trục đường và các nút giao thông
xe khách chạy đường dài, liên tỉnh. Số người
chính trong đô thị đều quá tải, thường xuyên xảy
chết và bị thương tại mỗi vụ TNGT nghiêm trọng
ra ùn tắc giao thông. Tại Hà Nội, nếu như trước
năm 2000, theo thống kê có khoảng trên dưới 40
do xe khách gây ra trên quốc lộ có thể lên tới
hàng chục người. Đáng chú ý, trong năm 2009,
điểm ùn tắc giao thông, thì đến năm 2005 đã
cả nước đã xảy ra 141 vụ TNGT đường bộ đặc
xuất hiện khoảng 70 điểm và năm 2009 đã lên tới
125 điểm. Còn tại TP Hồ Chí Minh, vào những
biệt nghiêm trọng; trong đó 80% số vụ tai nạn
này liên quan đến xe khách thuộc xe tư nhân,
giờ cao điểm, tại nhiều nút giao thông hàng
doanh nghiệp vận tải nhỏ không có thương hiệu.
nghìn phương tiện tham gia giao thông bị ùn tắc,
Theo một kết quả nghiên cứu khác trên thế tràn lên cả lề đường kéo dài hàng trăm mét, có
giới, Việt Nam hiện đang được xếp hạng là một hôm kẹt xe tại các nút nghiêm trọng gần 3 giờ
trong các nước trên thế giới có tỷ lệ người chết liền. Theo thống kê ban đầu, từ năm 2007 có ít
và bị thương cao trong các vụ TNGT. Theo đó, nhất 10 khu vực trong thành phố thường xuyên
trung bình cứ 10.000 vụ TNGT đường bộ xảy ra bị ùn tắc nặng. Thời gian gần đây, tình trạng ùn
ở Mỹ, Kenya và Việt Nam (xem biểu đồ nêu trên tắc giao thông tại TP Hồ Chí Minh không hề có
5
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
dấu hiệu thuyên giảm, mà lại xảy ra nhiều hơn phát huy được hiệu quả, xem ra càng thực hiện
với diện rộng hơn, không chỉ vào giờ cao điểm. càng bế tắc...
Theo thống kê chưa đầy đủ của Sở GTVT thành
Trong khi đó, số dân và số lượng phương
phố, hiện nay thành phố có trên 33 điểm thường
tiện tham gia giao thông tại các đô thị lớn ở Việt
xuyên ùn tắc giao thông kéo dài. Trong đó có
Nam không ngừng tăng trưởng. Theo số liệu
nhiều vụ ùn tắc kéo dài từ 45 phút đến 7 giờ liền.
thống kê và tính toán dự báo của Viện Chiến
Các giải pháp cấp bách để giải quyết ùn tắc giao
lược GTVT Việt Nam, khả năng tăng trưởng kinh
thông như phân luồng giao thông, chấn chỉnh xe
tế, tăng trưởng phương tiện tham gia giao thông
buýt, bố trí làm việc và học lệch ca... vẫn không
tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và một số đô thị lớn
khác trong khu vực được nêu trong Bảng 1.
Bảng 1. Số liệu dự báo mức độ tăng trưởng kinh tế và phương tiện tham gia giao thông ở các đô thị lớn Việt Nam
và một số nước trong khu vực (Trích dẫn từ nguồn số liệu của Viện Chiến lược GTVT Việt Nam).
Chỉ tiêu
TP
TP
TP
TP.
TP
TP
Jakarta Manila Bangkok HCM Chengdu
Hà Nội
Năm
1994
118
1996
8
1993
136
2002
377
2001
54
2001
302
2005
(350)
2010
(380)
2020
(150)
2030
(80)
Xe máy/1000 dân
Ô-tô con/1000dân
GNP USD/ng.
74
85
142
12
43
8
15
28
66
132
3 034
2 455
5 614
1000
2800
990
1377
2 054 4 234 8 329
2. Tổng hợp các nguyên nhân chính gây
nên tình trạng TNGT và ùn tắc giao thông.
Về các nguyên nhân chính gây nên tình
trạng ùn tắc giao thông tại các đô thị lớn ở Việt
Nam:
Theo tổng hợp của Viện KH&CN GTVT, các
nguyên nhân chính dẫn đến tình hình TNGT trên
- Do ý thức của số đông người tham gia
các quốc lộ và tình trạng ùn tắc giao thông hiện giao thông còn yếu kém, thiếu tự giác.
nay tại các đô thị lớn ở Việt Nam như Hà Nội và
TP Hồ Chí Minh, có thể được tóm tắt như sau:
- Do dòng xe hỗn hợp cùng tham gia giao
thông và cản trở nhau trong quá trình lưu hành.
Về các nguyên nhân chính gây TNGT trên
các tuyến quốc lộ ở Việt Nam:
- Do hạ tầng cơ sở giao thông đô thị còn lạc
hậu, không đáp ứng kịp với đà tăng trưởng mạnh
- Nguyên nhân sâu xa nhất là do các phương tiện xe Ô-tô và xe máy.
phương tiện tham gia giao thông chạy với tốc độ
cao, đặc biệt thường xuyên xảy ra đối với các
loại xe khách tư nhân chạy đường dài liên tỉnh.
- Do dân số và số lượng phương tiện tham
gia giao thông tăng nhanh.
- Do nhiều vụ TNGT xảy ra trên đường, góp
- Do người điều khiển phương tiện không
phần gây tắc nghẽn giao thông.
tự giác tuân thủ Luật giao thông đường bộ như :
- Do việc sửa chữa các công trình trên
Uống rượu bia, vượt ẩu, lấn đường, không làm
đường, làm thắt hẹp mặt đường, gây ùn tắc.
chủ tốc độ trên đường, ...
- Do xe buýt lưu hành vào giờ cao điểm và
- Do điều kiện đường sá thiếu an toàn tại
đỗ đón trả khách tại các bến dọc đường, gây cản
các đoạn đường cua hẹp, khuất tầm nhìn và tại
trở trực tiếp đến dòng xe hỗn hợp, tạo ra ùn tắc
hầu hết các nút giao cắt cùng mức.
giao thông.
- Do yếu tố kỹ thuật phương tiện thiếu an
- Do công tác tổ chức giao thông có phần
toàn.
chưa hợp lý và thiếu tính tổng thể, đồng bộ.
- Do đặc điểm dòng xe hỗn hợp, tất cả các
- Do quỹ đất dành cho giao thông còn hạn
phương tiện tham gia giao thông cơ giới, thô sơ
chế, không chỉ thiếu đường cho xe chạy mà còn
và người đẩy xe hoặc đi bộ đều được phép đi lại
thiếu trầm trọng cả một hệ thống các bãi đỗ xe
trên đường.
dành cho Ô-tô và xe máy.
- Do công tác QLNN về quy hoạch đô thị và
trật tự ATGT chưa đáp ứng được nhu cầu.
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
6
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
Thực tế tại Việt Nam đã cho thấy, tuy biểu
.
Thành phần dòng xe trên đường chủ yếu
đồ tăng trưởng xe mô-tô và xe máy tăng đều đặn là xe 2 bánh: Theo số liệu khảo sát dòng xe tại
hàng năm từ 8-12%/ năm, thế nhưng nhiều năm Hà Nội vào giờ cao điểm của Viện KH&CN
qua ở Việt Nam chưa có sự quan tâm đúng mức GTVT, nhận thấy có tới gần 90% phương tiện
đến việc quản lý, kiểm soát, xắp xếp và chấn tham gia giao thông trên đường là xe mô-tô, xe
chỉnh loại hình phương tiện tham gia giao thông máy và xe đạp (gọi chung là dòng xe 2 bánh), số
đông đảo và có phần phức tạp này. Do tính linh còn lại là xe Ô-tô con, xe chở khách, xe buýt và
hoạt có khả năng luồn lách, chạy với tốc độ cao xe tải (hay gọi chung là dòng xe 4 bánh). Có thể
và quỹ đạo di chuyển không ổn định trên mặt tham khảo số liệu về khảo sát thành phần xe trên
đường, cho nên dòng xe 2 bánh này khi chạy Hình 2.
cùng trên mặt đường với dòng xe 4 bánh, đã
thực sự trở thành yếu tố tạo nên sự mất ổn định
. Vào giờ cao điểm, do năng lực thông hành
tại nhiều nút giao thông đô thị ở mức hạn chế,
của cả dòng xe, sẵn sàng phá vỡ quy luật
cho nên không có khả năng đáp ứng được hết
chuyển động của cả dòng xe trên đường và góp
lưu lượng xe đổ về nút, do đó tất yếu gây nên
phần tạo nên ùn tắc giao thông. Bên cạnh đó ở
hiện tượng ùn tắc giao thông. Về mặt lý thuyết,
Việt Nam cũng còn nhận thấy một thực tế rõ ràng
năng lực thông hành của nút phụ thuộc chủ yếu
nữa, đó là tuy chiếm số lượng đông đảo nhưng
vào diện tích mặt đường dành cho các loại
dòng xe 2 bánh này đã và đang thực sự thiếu
phương tiện lưu thông qua nút, thành phần dòng
phần đường dành riêng để chạy. Tại hầu hết các
xe, tốc độ trung bình dòng xe, mật độ dòng xe và
nút giao thông tại Hà nội và TP Hồ Chí Minh, mọi
mức độ xung đột giao cắt của dòng xe với các xe
rẽ trái.
người đều thấy tình trạng xe Ô-tô xếp hàng 2,
hàng 3, thậm chí cả hàng 4, lấn chiếm hết cả làn
Đến nay, thành phố Hà Nội có 58 tuyến xe
xe dành cho dòng xe 2 bánh, buộc dòng xe này
bus, vận chuyển 320 triệu lượt hành khách/ năm.
phải luồn lách qua các chỗ trống trên mặt đường
Toàn thành phố có 6 bãi đỗ xe tập trung, 135
để đi, thậm chí trèo lên cả vỉa hè để tìm lối thoát.
điểm đỗ với tổng diện tích 272.370 m2.
Vì vậy, có thể nói rằng, chừng nào còn tồn tại
3. Tổng hợp các biện pháp đã đƣợc áp
dụng thời gian qua để giảm thiểu TNGT trên
quốc lộ.
dòng xe hỗn hợp với lưu lượng lớn trên đường,
chừng đó còn xảy ra ùn tắc giao thông. Do đó,
giải pháp phân luồng, phân làn và tách cho các
dòng xe 4 bánh và 2 bánh là một trong những
giải pháp tổ chức giao thông cơ bản nhất để
phân tách dòng xe hỗn hợp, góp phần giảm thiểu
ùn tắc giao thông trong điều kiện hạ tầng cơ sở
giao thông chưa thể đáp ứng kịp so với tốc độ
Để góp phần giảm thiểu TNGT trên các
tuyến quốc lộ, thời gian qua, Bộ GTVT đã phối
hợp với Bộ Công An và UBND các tỉnh, tập trung
chỉ đạo áp dụng đồng loạt các giải pháp chính
như sau:
Ô tô con 6,69 %
Xe Khách Nhỏ 2,41 %
Xe Khách Lớn 0,6 %
Xe Tải Nhỏ 2,29 %
Xe bus 0,07 %
Xe máy 87,94 %
Hình 2. Thành phần xe từ hướng đường Kim Mã đổ vào nút Cầu Giấy vào giờ cao điểm lúc 7-8h
(Số liệu khảo sát dòng xe của Viện KH&CN GTVT, tháng 11/ 2008).
tăng trưởng nhanh của phương tiện tham gia
giao thông.
.
Bổ sung, sửa đổi Luật Giao thông đường
bộ trình Quốc hội thông qua.
Tăng cường hệ thống biển báo hiệu
Theo kết quả quan sát và nghiên cứu của
.
Viện KH&CN GTVT, các đặc điểm riêng mang đường bộ và sơn vạch đường.
tính đặc thù của giao thông đô thị Hà Nội nói
riêng và giao thông đô thị lớn ở Việt Nam nói
chung được thể hiện như sau:
.
Kiểm soát và xử phạt hành chính tất cả
các loại xe chạy vượt quá tốc độ quy định.
8
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
.
Kiểm soát và xử phạt hành chính lái xe
.
Tăng cường lực lượng cảnh sát giao
uống rượu bia quá độ cồn quy định.
thông để kiểm soát và xử phạt các hành vi vi
phạm ATGT trên mạng lưới đường bộ.
.
Kiểm soát và xử phạt hành chính lái xe
chở hàng cồng kềnh gây cản trở giao thông hoặc
chở khách quá số
lượng quy định.
Việc áp dụng đồng loạt các biện pháp nêu
trên, tuy đã có tác dụng làm chững lại tốc độ phát
sinh TNGT đường
bộ ở một mức độ
nhất định, song so
với mục tiêu giảm
thiểu TNGT đề ra
.
Kiểm soát
và xử phạt hành
chính các xe quá
tải trên đường.
còn chưa đạt yêu
.
Quy định
cầu.
Số
lượng
và áp dụng thống
nhất toàn quốc
người đi xe máy
phải đội mũ bảo
hiểm.
người chết trong các
vụ TNGT lại có
chiều hướng tăng.
Nguyên nhân chính
vẫn là ý thức tham
gia giao thông của
người dân và của lái
xe còn ở mức độ
hạn chế, trong khi
dòng xe lưu thông
trên tất cả các tuyến
đường bộ trong cả
nước vẫn là dòng xe
.
Cải tạo và
nâng cấp các cơ
sở sát hạch lái xe.
.
Tăng
cường chế độ
đăng kiểm phương
tiện cơ giới.
Hình 3. Tình trạng ùn tắc, rối loạn giao thông đô thị Hà
Nội thường xảy ra vào giờ cao điểm.
.
Giải phóng
hỗn hợp với muôn vàn tiềm ẩn gây TNGT diễn ra
từng phút, từng giây trên các tuyến đường.
hành lang ATGT hai bên các trục đường quốc lộ
quan trọng.
4. Tổng hợp các biện pháp đã đƣợc áp
dụng thời gian qua nhằm giảm thiểu ùn tắc
giao thông.
.
Nâng cấp, cải tạo chất lượng mặt đường
và mở rộng các tuyến đường trục, các quốc lộ
quan trọng trong cả nước.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 32/ 2007/
NQ-CP ngày 29/ 6/ 2007 “về một số giải pháp
cấp bách nhằm kiềm chế TNGT và ùn tắc giao
thông”. Trong đó các nội dung chính để chỉ đạo
các ngành và các địa phương thực hiện bao
gồm:
.
Tăng cường các công trình phòng hộ để
xử lý đất trượt trên các tuyến đường miền núi.
Xây dựng các cầu vượt cho người đi bộ
qua đường quốc lộ.
.
.
Cải tạo và nâng cấp nhiều nút giao cắt
cùng mức trên đường bộ.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến,
giáo dục pháp luật trật tự an toàn giao thông.
.
Sửa chữa, nâng cấp và thay thế các cầu
yếu trên các quốc lộ.
- Kiên quyết cưỡng chế thi hành pháp luật
trật tự an toàn giao thông và nâng cao năng lực
cho lực lượng cảnh sát, thanh tra giao thông vận
tải.
.
Đầu tư xây dựng một số tuyến đường Ô-
tô cao tốc.
.
Đầu tư xây dựng một số trạm dừng nghỉ
dọc đường cho xe khách chạy đường dài.
- Nâng cấp, cải tạo và cải thiện hệ thống kết
cấu hạ tầng giao thông.
.
Khảo sát và xử lý các “điểm đen” TNGT
trên mạng lưới đường bộ, đặc biệt tại các đường
ngang giao cắt với đường sắt.
- Tăng cường quản lý và nâng cao chất
lượng an toàn kỹ thuật của phương tiện giao
thông vận tải.
.
Thực hiện quy hoạch và xây dựng chiến
lược phát triển mạng lưới đường bộ đến năm
2020 và tầm nhìn 2030 trình Chính Phủ phê
duyệt.
- Tăng cường các giải pháp cần thiết đối với
người điều khiển phương tiện.
- Tăng cường các giải pháp giảm thiểu thiệt
hại do TNGT.
.
Tăng cường tuyên truyền phổ biến Luật
giao thông đường bộ trên mọi phương tiện thông
tin.
- Tăng cường giải pháp nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước.
Bộ GTVT và UBND các thành phố Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh cũng đã đề xuất và chỉ đạo áp
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
9
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
dụng một loạt các biện pháp nhằm góp phần công cộng, khu văn phòng, trung tâm thương mại
thực hiện Nghị quyết 32/ 2007/ NQ-CP trong việc khi xây dựng phải có chỗ đỗ xe...
giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông trong các
đô thị như sau:
- Tổ chức tuyên truyền giao thông sâu rộng
đến từng gia đình, cụm dân cư, trên các phương
4.1. Các biện pháp do Bộ GTVT đề xuất tiện thông tin đại chúng. Tổ chức các lớp dạy luật
và chỉ đạo thực hiện.
giao thông cho những người vi phạm luật giao
thông. Tổ chức các lớp đào tạo, bổ túc cho đội
ngũ lái xe, vận hành xe buýt, xe chuyên dùng.
.
Biện pháp 1: Tăng thuế trước bạ và lệ
phí đăng ký đối với chủ xe cơ giới.
.
Biện pháp 2: Hạn chế số lượng xe tắc xi
TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội.
.
Biện pháp 3: Cấm xe 3 bánh, 4 bánh tự
chế lưu hành trên đường.
.
Biện pháp 4: (Do Cục Đường bộ Việt
Nam đề xuất năm 2005-2006) bao gồm một loạt
các biện pháp, đó là yêu cầu học sinh cấp 3 và
sinh viên phải đi xe buýt; Tổ chức đưa đón học
sinh lứa tuổi mầm non và tiểu học đi học bằng xe
buýt; Tăng phí đăng ký và thu phí lưu hành
phương tiện theo giờ trong ngày; Bố trí các điểm
đỗ xe ngoại tỉnh tại các đường vành đai trước khi
vào nội đô; Cấm xe Ô-tô chỉ có một người lái lưu
thông trong giờ cao điểm; ... Tuy nhiên, các biện
pháp này, do tính khả thi chưa cao cho nên chưa
nhận được sự hưởng ứng để có thể được áp
dụng.
.
Biện pháp 5: Phải nghiên cứu giảm
phương tiện cá nhân, tăng phương tiện công
cộng, đồng thời phân luồng, tách cho từng loại
phương tiện trên đường.
Hình 4. Phân luồng giao thông ở Hà Nội.
4.2. Các biện pháp do TP Hà Nội đề xuất.
- Tổ chức thực hiện việc phân làn, phân
luồng để tách dòng phương tiện tại một số tuyến
đường chính của Thủ đô. Nghiên cứu tổ chức
cấm xe máy trên một số tuyến đường như Pháp
Vân - Cầu Giẽ, đường Bắc Thăng Long; nghiên
cứu một số tuyến phố không cho xe máy hoạt
động vào giờ cao điểm.
Thời gian qua, các cơ quan có trách nhiệm
tại Hà Nội cũng đã đề xuất nhiều biện pháp nhằm
góp phần giảm thiểu tình trạng ùn tắc giao thông
đô thị, đó là:
. Biện pháp 1: Hạn chế phương tiện cá
nhân, tập trung phát triển vận tải hành khách
công cộng trên cơ sở chiến lược phát triển giao
thông vận tải Việt Nam đến năm 2020 đã được
Thủ tướng Chính phủ thông.
- Thay đổi giờ làm việc để lệch giờ làm việc
giữa cơ quan Trung ương và Hà Nội.
- Giải pháp xe buýt nhằm giảm phương tiện
giao thông cá nhân. Cụ thể là tăng tuyến và giảm
khoảng cách giữa các điểm chờ.
. Biện pháp 2: Hiện nay, trong nội đô của
thành phố có 955 km đường với 580 nút giao
thông đồng mức, trong đó chỉ có 170 nút có đèn
chỉ huy giao thông. Sở GTCC Hà Nội đưa ra 7
nhóm giải pháp như sau:
- Từ nay đến năm 2010, tập trung xây dựng
hạ tầng để giải quyết các điểm, tuyến đường
thường xuyên bị ùn tắc giao thông.
- Hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể giao thông
Hà Nội đến năm 2020, trong đó tập trung vào các
dự án ưu tiên gồm phát triển hệ thống giao thông
công cộng; phát triển mạng lưới giao thông
đường bộ; quản lý và kiểm soát giao thông. Điều
chỉnh lại quy hoạch mạng lưới các điểm đỗ xe và
bãi đỗ xe công cộng, trong đó đưa các điểm đỗ
xe tập trung, bến xe liên tỉnh ra ngoài đường
vành đai 3. Bổ sung các điểm đỗ xe ngầm, cao
tầng trong khu vực nội thành. Các công trình
- Quy định hạn chế đỗ xe trong khu vực
trung tâm thành phố phân chia theo khu vực
vành đai 1, 2, 3. Phí đỗ xe cho khu vực 1 cao
gấp 3 lần khu vực 3. Mức thu phí đăng ký mới sẽ
công khai hàng năm để người dân tự điều chỉnh.
Xe ngoại tỉnh vào thành phố sẽ được thu phí tại
vành đai 2, miễn phí cho các xe công về công tác
trên địa bàn. Nâng mức phí trông giữ xe tại các
khu vực dành cho người đi bộ, nơi thiếu diện tích
làm bãi đỗ xe...
10
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
- Ngoài ra, Sở GTCC sẽ quy định lại giờ cho người đi bộ tại 170 nút giao thông và 400
hoạt động của các loại xe tải trong thành điểm bố trí cho người đi bộ qua đường trên các
phố: Các loại xe tải có tải trọng đến 1,25 tấn cấm trục đường chính. Xây dựng một số cầu vượt tại
hoạt động từ 6h30 đến 20h hàng ngày. Các xe những vị trí thích hợp. Tăng cường lực lượng
có tải trọng từ trên 1,25 tấn đến 2,5 tấn cấm hoạt cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông trên
động từ 6h đến 20h hàng ngày. Đối với các xe có các tuyến đường để kiểm tra, giám sát tình hình,
trọng tải từ 2,5 tấn trở lên và các loại xe, máy thi xử lý nghiêm vi phạm. Thành phố còn có quy chế
công cấm hoạt động từ 6h đến 21h hàng ngày.
trách nhiệm cho các trường học để bảo đảm an
toàn trong các giờ tan trường.
. Biện pháp 3: Giảm thiểu ùn tắc do xe buýt
gây ra. Theo đó, chỉ những đường có chiều rộng
. Biện pháp 7: Tổ chức lại giao thông tại một
từ 4 làn xe trở lên (rộng trên 14 m) thì mới thuận số tuyến đường trên địa bàn TP Hà Nội, nhiều
lợi cho việc chạy xe buýt 2 chiều, còn nếu bề ngã ba, ngã tư (kể cả các nút đã được lắp đèn
rộng đường dưới 10,5 mét thì không thuận lợi tín hiệu điều khiển giao thông) đã được bịt lại,
hoặc chỉ chạy được một chiều. Đường có bề thay vào đó là các ngã rẽ mới trên dải phân cách
rộng từ 2 làn xe trở xuống thì không nên cho giữa, cách các nút giao thông cũ từ 100 - 200 m
chạy xe buýt, vì khi dừng đỗ sẽ chắn gần kín làn nhằm giảm thiểu những xung đột về dòng xe, mà
đường, làm cho các phương tiện khác phải tránh chủ yếu là do dòng xe rẽ trái gây ra. Theo cách
lấn sang chèn vào làn xe đi ngược chiều không này, người tham gia giao thông tuy phải đi xa
cho làn này thoát đi được, vì thế mà gây ùn tắc thêm một đoạn nhưng bù lại không phải mất thời
giao thông.
. Biện pháp 4: Về lâu dài phải thực hiện kế
hoạch dãn dân. Theo chủ trương này, Chủ tịch
gian chờ đèn xanh, đèn đỏ, và quan trọng hơn là
không gặp cảnh ùn tắc giao thông thường thấy.
Tuy nhiên, việc triển khai các biện pháp cụ
TP Hà Nội cho rằng cần phải kéo một số cơ quan thể theo định hướng này đã và đang gặp phải
trong thành phố ra bên ngoài. Trước mắt, thành các vướng mắc như đã nêu trên. Như vậy, có thể
phố không nâng cấp, cải tạo bệnh viện hiện đại ở nói TP Hà Nội đã hết sức cố gắng tìm các biện
nội thành, tất cả phần xây dựng hiện đại phải pháp để góp phần giảm thiểu ùn tắc và TNGT
đưa ra bên ngoài và chỉ giữ lại những bệnh viện đường bộ và giao thông đô thị. Tuy nhiên, các
cũ để duy trì, đáp ứng nhu cầu.
biện pháp đa áp dụng cũng mới chỉ nặng về giải
quyết tình thế, thậm chí có những đề xuất không
mang tính khả thi. Vì vậy, vấn đề ùn tắc giao
thông tại Hà Nội vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có được
giải pháp mang tính đột phá nào để giải quyết
trong thời gian hiện nay.
. Biện pháp 5: CA Hà Nội tạm dừng việc
đăng ký xe máy ở 4 quận nội thành. Để góp phần
giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng
nghiêm trọng, trong năm 2005 Hà Nội đã đưa ra
một số biện pháp quyết liệt, trong đó có việc tạm
dừng việc đăng ký xe máy ở 4 quận nội thành, 4.3. Các biện pháp do TP Hồ Chí Minh đề
sau đó mở rộng
ra thêm 3 quận
nữa. Tuy nhiên,
việc tạm dừng
đăng ký xe gắn
máy đã làm phát
sinh một loạt các
vấn đề khác trong
xuất.
Thành phố Hồ Chí
Minh là thành phố đông
dân nhất, đồng thời
cũng là trung tâm kinh
Nam. Với tổng diện tích
2.095,01 km², theo kết
quả chính thức điều tra
dân số ngày 01/04/2009
dân số thành phố là
7.162.864 người, mật
độ 3.419 người/km².
Lượng dân cư này tập
trung chủ yếu trong nội
thành, gồm 5.881.511
quản
lý
nhà
nước.
. Biện pháp
6: Tăng cường
năng lực quản lý
điều hành giao
thông và các biện
pháp tổ chức giao
thông. Trong đó
Hình 5. Ùn tắc giao thông đô thị tai TP. Hồ Chí Minh.
tăng cường lắp đặt mới hệ thống đèn điều khiển người, mật độ lên tới 11.906 người/km². Trong
giao thông và các tổ hợp camera theo dõi tình khi đó các huyện ngoại thành chỉ có 1.281.353
hình giao thông, phát hiện phương tiện vi phạm. người, đạt 801 người/km².
Hà Nội hiện có khoảng hơn 20 máy camera hoạt
động. Thành phố đã cho lắp đặt bổ sung 11 cụm
đèn tín hiệu giao thông, xén vỉa hè, kẻ vạch sơn
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, TP. Hồ Chí
Minh trở thành một đầu mối giao thông quan
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
11
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
chiếm một tỷ lệ quan trọng. Tính riêng vận tải
hàng hóa, đường biển chiếm khoảng 29% và
5. Đề xuất các giải pháp mang tính đột
phá nhằm giảm ùn tắc và tăng cƣờng ATGT.
đường sông khoảng chiếm 20% tổng khối lượng
Theo nhận xét chung, giao thông của Hà Nội
thông qua đầu mối thành phố. Đường bộ chỉ
hiện nay yếu kém về năng lực thông hành, nghèo
chiếm 44% vận tại hàng hóa nhưng chiếm tới
nàn về hạ tầng giao thông, trong khi đó tốc độ
tăng trưởng rất nhanh của phương tiện tham gia
giao thông thay đổi hàng tháng, hàng năm, dẫn
đến tình trạng ùn tắc là không thể tránh khỏi.
Hiện trạng này còn có nguyên nhân sâu xa đó là
vận chuyển tổng cộng 73.743 tấn hàng hóa, 239
do công tác quy hoạch giao thông đô thị từ trước
triệu lượt người và bốc xếp 44.341 tấn hàng.
đến nay chưa được quan tâm đúng mức, có
Toàn thành phố hiện nay có khoảng 600.000 xe
phần lộn xộn.
hơi và 4 triệu xe máy. Giao thông đường bộ,
Theo kết quả quan sát và nghiên cứu của
Viện KH&CN GTVT, các đặc điểm riêng mang
tính đặc thù của giao thông đô thị tại các đô thị
lớn ở Việt Nam hiện nay thể hiện ở chỗ:
thành phố có 6 bến xe khách liên tỉnh được phân
bố ở các cửa ngõ ra vào: Miền Đông, Văn
Thánh, Miền Tây, Chợ Lớn, Tân Bình - Tây Ninh,
Ký Thủ Ôn. Mạng lưới khả năng tiếp nhận trên
1.200 xe/ngày, vận chuyển gần 41.000
hành khách liên tỉnh qua thành phố khoảng 106,4
triệu lượt người/năm. Để giải quyết tình trạng ùn
tắc giao thông đô thị, UBND thành phố Hồ Chí
Minh đã chỉ đạo xem xét và nghiên cứu áp dụng
đồng bộ các biện pháp sau đây:
. Trên hầu hết các tuyến đường giao thông
đô thị hiện nay tại Việt Nam, chủ yếu là dòng xe
hỗn hợp đi lại trên đường, mọi loại xe đi trên
đường đều được bình đẳng, không có bất kỳ sự
ưu tiên nào. Có thể khẳng định rằng, nguyên
nhân cơ bản nhất của tình trạng ùn tắc giao
thông là do dòng xe hỗn hợp gây ra. Duy nhất
hiện nay tại Hà Nội mới chỉ có một đoạn đường
được tổ chức lại giao thông theo nguyên tắc cấm
tất cả xe 2 bánh, chỉ ưu tiên dành cho dòng xe Ô-
tô chạy trên đường, đó là đoạn đường qua cầu
Thăng Long (tầng trên). Mô hình tổ chức giao
thông này – phân luồng dòng xe cơ giới 4 bánh
tách khỏi dòng xe 2 bánh, thực chất là xóa bỏ
dòng xe hỗn hợp đi chung trên mặt đường, ngay
lập tức đã chứng tỏ hiệu quả, trật tự về dòng xe
. Biện pháp 1: Quy hoạch lại hệ thống giao
thông của thành phố.
. Biện pháp 2: Xây dựng các trung tâm điều
khiển giao thông.
. Biện pháp 3: Xây dựng hệ thống giao
thông tĩnh.
. Biện pháp 4: Xây dựng các đầu mối trung đi lại trên đường đã được thiết lập lại và hiện
chuyển giao thông.
tượng ùn tắc, chen lấn, luồn lách, lộn xộn về
dòng xe trên đường đã chấm dứt kể từ cuối
tháng 12/ 2009.
. Biện pháp 5: Tăng cường mạng lưới VTHK
công cộng bằng xe buýt và bố trí lại mạng lưới xe
buýt và hạn chế xe buýt hoạt động.
. Thực tế đã chứng tỏ rằng, các nỗ lực
phân làn bằng vạch sơn thời gian qua đều chưa
đạt hiệu quả mong muốn, do ý thức chấp hành
Luật GTĐB của người tham gia giao thông còn
thiếu tự giác, xe máy di chuyển trên đường luôn
ở tình trạng luồn lách, lấn cả sang làn đường
dành cho xe Ô-tô. Trong khi đó, vào giờ cao
điểm, tại hầu hết các nút giao thông, xe Ô-tô lại
lấn chiếm cả dải làn xe dành cho người đi xe
máy và xe đạp.
. Biện pháp 6: Bố trí lệch ca, lệch giờ làm
việc.
. Biện pháp 7: Phân lại luồng xe và tách làn
xe chạy.
. Biện pháp 8: Hạn chế xe cá nhân bằng
cách thu phí sử dụng đường bộ.
. Biện pháp 9: Hạn chế xe Ôtô bằng cách
quy định lưu hành ngày chẵn, ngày lẻ.
. Ý thức tự giác của người tham gia giao
thông còn hạn chế, chỉ chịu phục tùng khi có mặt
CSGT hoặc có biện pháp phân làn, phân luồng
rõ rệt bằng các dải phân cách cứng.
. Biện pháp 10: Giảm thiểu ngập lụt do triều
cường bằng quy hoạch thoát nước.
Với 10 biện pháp nêu trên, có những biện
pháp đã được áp dụng và cũng có các biện pháp
không mang tính khả thi nên chưa được áp dụng
trong những năm qua, song cũng tương tự tại TP
Hà Nội, bài toán về giảm thiểu ùn tắc giao thông
tại TP Hồ Chí Minh vẫn đang còn bị bỏ ngỏ và
. Tình trạng ùn tắc giao thông hiện nay
thường xảy ra tại các nút giao thông vào giờ cao
điểm. Mức độ và thời gian ùn tắc tại các nút phụ
thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố chính
12
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
Giao th«ng vËn t¶I vµ ph¸t triÓn bÒn v÷ng
là diện tích mặt bằng tại nút, phương án tổ chức ATGT đô thị trên cơ sở số liệu khảo sát cụ thể và
giao thông tại nút, thành phần xe, lưu lượng xe phát huy kỹ năng, kinh nghiệm của người làm
qua nút, năng lực thông hành của nút, thành công tác thiết kế tổ chức giao thông.
phần xe qua nút, việc đặt chế độ điều khiển tự
6. Kết luận.
động của hệ thống đèn (nếu có) và ý thức chấp
Vấn đề giảm thiểu TNGT trên mạng lưới
hành Luật GTĐB của những người tham gia giao
đường bộ Việt Nam và giảm thiểu ùn tắc giao
thông, ...
thông tại các đô thị lớn ở Việt Nam đã và đang
. Qua thống kê theo dõi diễn biến số điểm
trở thành vấn đề cấp bách, được xã hội quan
ùn tắc giao thông tăng hàng năm và nhận thấy,
tâm và Chính Phủ Việt Nam chỉ đạo quyết liệt.
số điểm ùn tắc giao thông trong thành phố có
Việc phân tích nguyên nhân đã được xem xét và
dấu hiệu tăng tỷ lệ với số tuyến và số nút giao
nêu khá đầy đủ ở các góc cạnh của nhiều vấn
thông mà có xe buýt đi qua vào giờ cao điểm.
đề, nhiều giải pháp đã được đề ra. Tuy nhiên,
Vì vậy, để từng bước khắc phục tình trạng trong bối cảnh hiện nay, khi mà dân số tăng, tăng
ùn tắc kéo dài do dòng xe hỗn hợp gây ra, Viện trưởng phương tiện tham gia giao thông tăng
KH&CN GTVT đề xuất 3 giải pháp cấp bách nhanh, trong khi đó ý thức tham gia giao thông
mang tính đột phá cần được nghiên cứu áp dụng của đa số người dân và lái xe còn ở mức độ nhất
đồng thời như sau:
định và hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông
đường bộ và giao thông đô thị ở Việt Nam đang
còn hạn chế do nền kinh tế vừa thoát khỏi mức
đói nghèo và mới đang trên đà phát triển, cho
nên tiến trình giảm thiểu TNGT và ùn tắc giao
thông cần có lộ trình và thời gian, không thể nôn
nóng đòi hỏi giải quyết ngay trong một thời gian
ngắn. Hy vọng rằng, bằng sự phát triển và tăng
trưởng nền kinh tế, dưới sự chỉ đạo của Chính
Phủ và kết hợp các thành tựu KH&CN mới, vấn
đề TNGT trên các tuyến đường bộ và ùn tắc giao
thông đô thị tại các TP lớn ở Việt Nam sẽ dần
được giải quyết, góp phần đảm bảo trật tự ATGT
và góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội ở Việt Nam
. Giải pháp1: Tổ chức quy hoạch tổng thể
về phân luồng giao thông trên toàn bộ các tuyến
đường giao thông tại các đô thị lớn ở Việt Nam.
Trong đó, mạng lưới đường đô thị tại Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh và TP Đà Nẵng sẽ được phân ra 4
luồng xe chính, với định hướng quy hoạch có các
tuyến đường dành riêng cho xe Ô-tô, các tuyến
đường dành riêng cho xe mô-tô, xe máy và xe
thô sơ.
. Giải pháp 2: Tổ chức lại giao thông tại các
nút có đèn điều khiển. Trong đó, chia ra các sơ
đồ mẫu về tổ chức giao thông tại các loại nút
giao cắt khác nhau.
Về nguyên tắc, ứng với mỗi sơ đồ mẫu,
người thiết kế tổ chức giao thông sẽ phải nghiên
cứu đề xuất một vài phương án mẫu mang tính
định hình về cách phân làn và đặt chu kỳ đèn tại
nút một cách hợp lý. Trong đó, các thông số đầu
vào là số liệu về dòng xe, về mặt bằng nút, về
chu kỳ đèn đang sử dụng và tình trạng ùn tắc xe
hiện trạng. Còn số liệu đầu ra của phương án tổ
chức giao thông mới tại mỗi loại nút là sơ đồ
phân làn xe qua nút, là chu kỳ đèn sau khi được
điều chỉnh và hành trình dòng xe khi qua nút.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Doãn Minh Tâm và những người khác.
Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án phát triển
giao thông đô thị Hà Nội, giai đoạn 2005-2010.
Viện KH&CN GTVT chủ trì, Hà Nội, tháng 11/
2005.
2. Doãn Minh Tâm và nhóm nghiên cứu.
Nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng quy
định phân làn đường dành riêng cho xe mô-tô và
xe máy phù hợp với điều kiện Việt Nam.
. Giải pháp 3: Tiếp tục duy trì và kiểm soát Đề tài KH cấp Bộ GTVT quản lý, Viện KH&CN
chặt chẽ việc tổ chức phân làn tại các nút có GTVT chủ trì thực hiện, Hà Nội, 02/ 2008.
dòng xe hỗn hợp. Theo đó, tiến hành vạch sơn 3. Doãn Minh Tâm.
phân định làn dành riêng cho xe Ô-tô và xe 2 Nghiên cứu đổi mới tổ chức giao thông đô thị
bánh trên đoạn dừng xe chờ qua nút dài tối thiểu chuẩn bị cho Đại Lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng
100 m. Thực hiện quy định cấm tất cả các xe Ô- Long – Hà Nội - Báo cáo chuyên đề.
tô không được lấn chiếm làn xe máy trên đoạn
Viện KH&CN GTVT, Hà Nội, tháng 12/ 2009.
này và thực hiện chế tài xử lý hành chính các xe 4. Xuân Hương.
Ô-tô cố tình luồn lách từ dưới lên để xếp thành
hàng 3, thậm chí hàng 4 tại nút.
Hà Nội cần giải pháp tổng thể cho ùn tắc giao
thông.
Báo Tin tức/ Vietnam, ngày 07/ 01/ 2010.
5. Mạnh Hùng.
Năm 2009 xảy ra gần 12 500 vụ TNGT Việt
Nam, ngày 12/ 01/ 2010.
Trong điều kiện cơ sở hạ tầng dành cho giao
thông còn đang trong giai đoạn đầu tư, cho nên
các giải pháp nêu trên cần được nghiên cứu phối
hợp đồng bộ với nhau và với các giải pháp khác
để góp phần phát huy hiệu quả lập lại trật tự
Trung t©m §µo t¹o vµ Th«ng tin
13
Bạn đang xem tài liệu "Tình hình và các giải pháp nhằm tăng cường an toàn giao thông đường bộ và an toàn giao thông đô thị ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tinh_hinh_va_cac_giai_phap_nham_tang_cuong_an_toan_giao_thon.pdf

