Những ảnh hưởng của giải pháp bờ kè đối với vấn đề ngập trong đô thị: Bài học kinh nghiệm cho thành phố Hồ Chí Minh từ thất bại của các hệ thống bảo vệ tại một số đô thị trên thế giới

NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA GIẢI PHÁP BỜ KÈ  
ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ NGẬP TRONG ĐÔ THỊ:  
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TP.HCM TỪ  
THẤT BẠI CỦA CÁC HỆ THỐNG BẢO VỆ TẠI  
MỘT SỐ ĐÔ THỊ TRÊN THẾ GIỚI  
Phan Nhựt Duy, David Proverbs  
(1) Tiến sĩ Nghiên cứu Vùng và Đô thị, Giảng viên, Khoa Quy hoạch,  
trường Đại học Kiến trúc Tp. Hồ Chí Minh  
(2) Giáo sư về Quản lý Xây dựng, Phó trưởng khoa, Khoa Môi trường  
Xây dựng và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Birmingham City  
University  
* Tác giả chính ([email protected]; [email protected])  
Tóm lược  
Thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM), đã và đang đối mặt với thực trạng sạt lở tại một số khu  
vực, đặt ra một số yêu cầu về việc triển khai xây dựng các tuyến đê bao kết hợp các mục tiêu cải tạo  
các sông ngòi, kênh rạch chính trong đô thị. Bên cạnh đó, ngập lụt lại nổi lên như một vấn đề lớn hơn  
ảnh hưởng đến toàn đô thị trong những năm gần đây khi các tác động của quá trình đô thị hóa và biến  
đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp. Mặc dù đã có nhiều đề xuất với quan điểm tiếp cận tích hợp  
trong vấn đề ứng phó với các thực trạng trên, giải pháp chính đã được đầu tư xây dựng trong thời gian  
vừa qua vẫn chủ yếu dựa trên quan điểm “chống chọi” với các mục tiêu riêng lẻ theo từng dự án, cho  
các công trình hạ tầng kỹ thuật như đê bao, bờ kè, cống ngăn triều... Những giải pháp này đã phần nào  
giúp khắc phục những khó khăn trong giai đoạn ngắn, nhưng được đánh giá thiếu tính bền vững trước  
những biến động khó lường của biến đổi khí hậu, và có thể ảnh hưởng đến sự ổn định của toàn khu  
vực. Sự phụ thuộc vào các hệ thống này có thể làm tăng tính chủ quan của cả chính quyền và người  
dân, và góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa nhanh hơn, dẫn đến thiếu cẩn trọng đối với những bất  
lợi của môi trường tự nhiên và bất chấp những rủi ro thiên tai trong quá trình phát triển và mở rộng đô  
thị. Do đó, bài viết này dựa trên phương pháp sử dụng các trường hợp nghiên cứu đã được tổng hợp  
và công bố về vấn đề ngập tại Tp. HCM có liên hệ đến thảm họa ngập lụt đã xảy ra tại một số đô thị  
gần biển (New Orleans, Manila và Bangkok), đồng thời tham khảo một số quan điểm của chuyên gia  
thông qua trường hợp nghiên cứu tại Birmingham (Vương Quốc Anh) nhằm nêu ra một số bài học  
kinh nghiệm có thể hữu ích cho chính quyền thành phố trong việc cân nhắc chọn lựa những giải pháp,  
và mức độ đầu tư phù hợp trong tương lai.  
Từ khóa: bờ kè, đê bao, hiểm họa ngập lụt  
212  
Bối cảnh chung: ngập lụt vẫn là mối đe dọa lớn và có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn  
đối với sự phát triển ổn định của đô thị lớn  
Ngập lụt đã và đang trở thành mối đe dọa  
Thành phố Hồ Chí Minh: nguy cơ ảnh  
đối với nhiều quốc gia trên thế giới, là nguyên hưởng của giải pháp bờ kè đến thực trạng  
nhân gây ra thiệt hại 539.811 sinh mạng, và ảnh ngập trong đô thị  
hưởng khoảng 2,8 tỷ người trong vòng 30 năm  
(1980 – 2009) (Doocy et al., 2013). Thống kê  
Thành phố Hồ Chí Minh, một đô thị cực  
của Guha-Sapir et al. (2016) trong 45 năm (1970 lớn – gần biển với dân số tăng nhanh (VD: từ 3,5  
– 2014) cho thấy, các biến cố ngập càng diễn ra triệu năm 1976 lên gần 10 triệu năm 2018:  
với tần suất ngày càng cao so với các thảm họa GSOV, 2015) đóng vai trò quan trọng trong nền  
khác như động đất, núi lửa…, và đặc biệt tác kinh tế của Việt Nam. Quá trình phát triển và đô  
động đến nhiều khu vực gần biển ở Châu Á (xem thị hóa nhanh đã khiến đô thị ngày càng “xa rời”  
hình 1). Đối với các đô thị lớn gần biển ở Đông các đặc điểm của tự nhiên, vốn được hình thành  
Nam Á, vấn đề này càng trở nên cấp bách với trên lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai, chịu ảnh  
những hệ quả kết hợp của quá trình đô thị hóa hưởng bởi chế độ bán nhật triều từ mạng lưới  
(ĐTH) và biến đổi khí hậu (BĐKH) trong khi các sông ngòi, kênh rạch dày đặc “trong lòng đô thị”  
hệ thống bảo vệ ngày càng thể hiện sự yếu kèm nhất là tại khu vực phía Đông và phía Nam.  
trước các yếu tố khó lường của thiên nhiên (Duy  
et al, 2017b). Thêm vào đó, sự xuất hiện các  
công trình xây dựng, trong đó có các công trình  
hạ tầng kỹ thuật đô thị có thể tạo những nguy cơ  
tiềm ẩn, đe dọa sự phát triển ổn định và bền vững  
đối với toàn đô thị. Phân tích mối quan hệ này,  
Cigler (2007) cho rằng sự tác động không phù  
hợp của môi trường xây dựng đến môi trường tự  
nhiên sẽ làm gia tăng nguy cơ ngập. Thực trạng  
này đã và đang diễn ra tại rất nhiều đô thị lớn tại  
các nước đang phát triển, đặc biệt ở khu vực  
Đông Nam Á.  
Hình 1: So sánh sự xuất hiện các loại thảm họa từ năm 1970 đến 2014  
213  
Tổng chiều dài các tuyến sông, kênh rạch  
Việc quá phụ thuộc và các cống ngăn triều  
khoảng 1200 km, bao gồm chiều dài của các dự kiến sẽ được đưa vào sử dụng trong thời gian  
tuyến sông chính khoảng 848km (TEDI-South, tới có thể là “con dao hai lưỡi” một khi công tác  
2013). Do đó, việc ứng xử với yếu tố nước phù vận hành thất bại. Như vậy, bài toán tổng thể về  
hợp là điều quan trọng nhằm đảm bảo đô thị có quản lý nước vẫn chưa được xem xét đầy đủ khi  
khả năng phát triển bền vững trước những nguy đưa các hệ thống riêng biệt – với mục tiêu khác  
cơ tiềm ẩn từ môi trường tự nhiên, chẳng hạn nhau cùng hoạt động. Với góc nhìn đa chiều,  
như sạt lở bờ sông, ngập lụt; nhưng lại thiếu sự việc đầu tư xây dựng mới hay nâng cấp các công  
quan tâm trong quá trình đầu tư xây dựng. Theo trình này chỉ có thể giải quyết “phần ngọn”, và  
các quy hoạch thoát nước tổng thể (phê duyệt thậm chí có thể tạo ra các tác động cần đánh giá  
theo các quyết định QĐ 752, QĐ 1574) thành kỹ lưỡng, và cần có những tham khảo từ kinh  
phố đã đầu tư các tuyến bờ kè chính dọc sông, và nghiệm của một số đô thị trên thế giới, vốn đã  
một số kênh rạch chính với mục tiêu chính bảo chứng kiến sự thất bại của các hệ thống bảo vệ,  
vệ cho khu vực trung tâm (tính đến bờ phía Tây và thậm chí đang có xu hướng “quay đầu” trước  
sông Sài Gòn).  
Tuy nhiên, giải pháp bờ kè bằng bê tông  
các giải pháp công nghệ cứng.  
Trên thực tế, các công trình bảo vệ (đê bao  
hóa như truyền thống được cho là sẽ không có hay bờ kè) có thể góp phần làm tăng nguy cơ dẫn  
hiệu quả lâu dài một khi tính biến động – mức đến thiệt hại về con người liên một khi bị phá vỡ  
tăng của đỉnh triều quá nhanh được xem là thách trước những tác động không lường trước của  
thức cho việc xác định các mục tiêu thiết kế – ví thiên tai vượt khả năng chịu đựng của các công  
dụ cao độ mép bờ cao. Số liệu thủy văn trong trình được thiết kế (Duy et al., 2017b). Thực tiễn  
hơn 35 năm (1981 – 2015) cho thấy mực nước này đã được đúc kết từ một số bài học kinh  
đỉnh triều trong năm tại trạm Phú An tăng đáng nghiệm qua các thảm họa ngập gây tổn thất  
kể (VD: + 1,55m năm 2010, + 1,68m năm 2013, nghiêm trọng do sự suy giảm khả năng chống  
2014, theo đài Khí tượng thủy văn Nam bộ), và chịu của các công trình bảo vệ ngập tại một số đô  
thậm chí tăng lên + 1,71m năm 2017. Đáng lưu thị gần biển trên thế giới.  
ý, mức tăng này cao hơn nhiều so với mức tăng  
Lấy ví dụ, hệ thống đê bao của New  
của mực nước biển tại cửa biển Vũng Tàu với Orleans bị lún sụt khoảng 90cm (Petterson et. al,  
mức chênh lệch ngày càng lớn (xem hình 2); 2006), góp phần làm suy yếu khả năng chịu đựng  
trong khi mức tăng bình quân của toàn cầu của hệ thống trong thảm họa Katrina năm 2005.  
khoảng 3,3mm/ năm từ 1995 – 2015 (Guha- Khi xảy ra biến cố, chính hệ thống đê bao này lại  
Sapir, 2016). Hơn nữa, những giải pháp truyền là “rào cản” không cho nước thoát ra ngoài, duy  
thống có thể gây ra hệ quả tiêu cực liên quan đến trì quá trình ngập úng của đô thị trong thời gian  
dòng chảy và khả năng thẩm thấu vào vùng trước dài (ibid). Một minh chứng khác cho sự sai lệch  
đây là trũng – và trữ nước. Nước từ hệ thống về năng lực thiết kế và khả năng hoạt động thực  
sông – kênh nên được tạo điều kiện tiếp cận vào tế là trận ngập lịch sử ở Manila 2009. Các tuyến  
các vùng trũng thấp theo cơ chế tràn mặt và thẩm thoát lũ cho sông Marikina của vùng Manila đã  
thấu tự nhiên, để có thời gian giảm tốc phù hợp. không hoạt động đúng như công suất dự kiến  
Ngược lại, tốc độ dòng nước qua các tuyến kênh (1.500 m3/giây – 1.800 m3/giây so với 2.600 –  
trong đô thị nhanh hơn có thể khiến khu trung 2.900 m3/ giây) (Sato and Nakasu, 2011). Tương  
tâm hiện hữu (điểm cuối) tiếp nhận lượng nước tự, ít nhất 10 công trình chống ngập cho vùng đô  
quá lớn trong một thời gian ngắn (liên quan đến thị Bangkok đã bị phá vỡ trong trân ngập lịch sử  
thời gian truyền triều) – sẽ dẫn đến rủi ro ngập 2011 dẫn đến ngập nghiêm trọng tại đô thị trung  
cao hơn.  
tâm – thủ đô Bangkok (WB, 2012); trong khi hệ  
thống chống ngập của Thái Lan đã được đầu tư  
lớn hơn về mặt quy mô so với hệ thống hiện hữu  
tại Tp. HCM (Phi, 2013).  
214  
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam Bộ (1981-2015)  
Bài học kinh nghiệm của một số đô thị đã công trình nói trên khó có thể được sử dụng làm  
hứng chịu thảm họa và một số quan niệm mới cơ sở cho quá trình ổn định và phát triển đô thị  
về ứng xử với nước trong đô thị  
bền vững.  
Những thất bại của các hệ thống bảo vệ tại  
Ngoài những thảm họa tại một số thành  
các đô thị đã nêu phần nào minh chứng rằng phố đã nêu, một số thành phố khác như  
những giải pháp công trình cứng luôn có những Birmingham, mặc dù không phải là thành phố  
điểm yếu liên quan đến mục tiêu thiết kế nhằm gần biển nhưng cũng đang đối mặt với vấn đề  
tạo ra khả năng chống chịu của các công trình do ngập lụt diễn tiến phức tạp do nhiều yếu tố liên  
con người tạo ra. Các mục tiêu này chủ yếu dựa quan đến hệ thống sông, kênh rạch, nước ngầm,  
vào năng lực dự báo, hiện nay vẫn chỉ dựa trên nước thải… (Proverbs et al., 2019). Với thực  
cơ sở tổng hợp số liệu từ quá khứ, trong khi yếu trạng ngày càng nghiêm trọng, chính quyền  
tố biến động của khí hậu lại có thể xảy ra ngoài Thành phố này cũng đang tìm những giải pháp  
khả năng tiên lượng của con người (Zevenbergen hiệu quả hơn sau kinh nghiệm thất bại của các hệ  
et al., 2008). Thêm vào đó, chính các hệ thống thống bảo vệ cứng. Việc điều chỉnh, tác động đến  
này có thể làm tăng tính chủ quan của chính bờ sông chỉ dựa vào giải pháp kỹ thuật có thể  
quyền và cộng đồng, giảm khả năng ứng biến ảnh hưởng đến đặc điểm tự nhiên của dòng chảy  
linh hoạt và phục hồi nhanh khi xảy ra biến cố. (như vận tốc), và ảnh hưởng đến các cư dân sống  
Lấy ví dụ, rất nhiều người dân tại New Orleans dọc hai bên bờ sông. Do đó, tại Vương Quốc  
đã không tiến hành sơ tán do tin và sức chịu Anh, các chuyên gia và chính quyền đô thị đang  
đựng của hệ thống bảo vệ của Thành phố, nhưng thay đổi cách suy nghĩ về hướng tiếp cận tích  
khi hệ thống bị phá vỡ hoàn toàn thì chính hệ hợp đối với vấn đề quản lý rủi ro ngập, kết hợp  
thống đê bao lại làm hạn chế khả năng thoát nhiều giải pháp, chẳng hạn “blue-green” (kết hợp  
nước trong khi người dân tại các khu vực ngập giữa giải pháp cứng và mềm). Các đô thị tại Anh  
lại không có khả năng thoát ra khu vực an toàn hiện nay đang thật sự chú trọng hơn vào các ý  
hơn do kết nối giao thông không khả dụng. tưởng về “resilience” (tạm dịch khả năng hồi  
Trong ba đô thị đã nêu, New Orleans được đầu tư phục nhanh), làm định hướng cho các chiến lược  
hệ thống quy mô nhất, nhưng lại chứng kiến thiệt quản lý rủi ro ngập mang tính thích ứng hơn,  
hại nặng nề nhất về sinh mạng (gần 1.500 người) chẳng hạn “sống với nước” và “xây dựng trở lại  
và tài sản so với hai đô thị còn lại tại các nước tốt hơn”.  
Đông Nam Á. Do đó, việc đầu tư xây dựng các  
215  
Kết luận  
Giải pháp bờ kè dọc các tuyến sông ngòi,  
pháp công nghệ và duy trì hệ sinh thái tự nhiên  
với khả năng tổ chức các không gian đa chức  
năng cho là điều cần thiết. Tăng khả năng hấp  
thụ, trữ nước, và thậm chí đưa nước vào bên  
trong lòng đô thị nhằm giảm cao độ mực nước  
trên các tuyến sông ngòi, kênh rạch được nhóm  
tác ủng hộ và đề xuất cần được tích hợp vào các  
đồ án quy hoạch phát triển đô thị. Liên quan đến  
chính sách và công tác quản lý, chính quyền  
thành phố nên cân đối lại mức đầu tư và và xem  
xét tính khả thi dài hạn đối với các dự án đã và  
đang triển khai nhằm tránh lãng phí và không  
đem lại hiệu quả như mong đợi. Thay vào đó,  
việc đầu tư vào các dự án nghiên cứu mang tính  
tổng thể nhằm xây dựng các cơ sở khoa học vững  
chắc, với góc nhiều đa chiều sẽ giúp tiết kiệm chi  
phí và nâng cao hiệu quả đầu tư về mặt dài hạn;  
đồng thời giúp đô thị có khả năng phát triển ổn  
định và bền vững hơn.  
kênh rạch mà Tp. HCM đã và đang triển khai  
hiện nay chỉ có thể khắc phục tình trạng sạt lở,  
cải tạo không gian cảnh quan dọc hai bên bờ  
trong các giai đoạn ngắn hạn; nhưng khả năng  
ứng phó với những biến đổi thất thường của môi  
trường thiên nhiên, chẳng hạn triều cường tăng  
cho cần được xem xét ở góc độ tổng thế của toàn  
đô thị. Các hệ thống này có thể ảnh hưởng đến  
khả năng cân bằng và thoát nước mặt tự nhiên  
trong đô thị. Thành phố cần xác định “vùng bảo  
vệ cứng” dựa trên hệ thống hạ tầng hiện có, và  
các khu vực được tích hợp các giải pháp linh  
hoạt, chẳng hạn bờ kênh rạch tự nhiên – không  
bê tông hóa. Mục tiêu này có liên quan việc tìm  
những giải pháp lập và quản lý quy hoạch, và  
thiết kế hiệu quả hơn tại các vùng trũng thấp với  
cách tiếp cận vấn đề phù hợp hơn, nhưng vẫn  
chưa nhận được sự quan tâm thích đáng. Các  
phương pháp đầu tư xây dựng hạ tầng truyền  
thống (chẳng hạn nâng cao độ của đê bao – bờ  
kè, hoặc cao độ san lấp cao hơn so với đỉnh triều  
cao nhất cho một số khu khu vực nhất định) đã  
bộc lộ yếu điểm trước mức biến động không  
ngừng của môi trường tự nhiên, và thậm chí gây  
ảnh hưởng đến các khu vực lân cận.  
Trong khi đó, những giải pháp hướng tới  
xây dựng “hạ tầng xanh” – sự kết hợp giữa giải  
Tài liệu tham khảo  
Asia Development Bank – ADB (2010). Ho Chi Climate Change Strategies and Management.  
Minh City Adaptation to Climate Change. DOI: 10.1108/IJCCSM-12-2016-0169  
Philippines: ADB, ISBN: 978-971-561-893-9  
Duy P. N., Chapman L., Tight M., Thuong L. V.,  
Cigler B. A. (2007). The “Big Questions” of and Linh P. N. (2017b). Urban Resilience to  
Katrina and the 2005 Great Flood of New Floods in Coastal Cities: Challenges and  
Orleans. Public Administration Review, Special Opportunities for Ho Chi Minh City and other  
issue 2007, pp. 64-76. DOI: 10.1111/j.1540- Emerging Cities in Southeast Asia. Accepted by  
6210.2007.00814.x  
Journal of Urban Planning and Development  
(05/2017). ASCE.  
Doocy S., Daniels A., Murray S. and Kirsch T.  
D. (2013). The Human Impact of Floods: a Duy P. N., (2019). Developing Flood Resilient  
Historical Review of Events 1980-2009 and Transport Systems in Coastal Cities: A case  
Systematic Literature Review. PLOS Currents Study in Ho Chi Minh City, Vietnam.  
Disasters,  
2013  
Apr  
16.  
10.1371/currents.dis.f4deb457904936b07c09daa  
98ee8171a  
/Duy2019PhD_Redacted.pdf )  
General Statistic Office of Vietnam – GSOV  
Duy P. N., Chapman L., Tight M., Thuong L. V., (1976 - 2015). Population of Ho Chi Minh from  
and Linh P. N. (2017a). Increasing Vulnerability 1986 – 2015 (data extracted).  
To Floods In New Development Areas: Evidence  
From Ho Chi Minh City. International Journal of  
Guha-Sapir D, Hoyois P., Wallemacq P. Below.  
R (2016). Annual Disaster Statistical Review  
216  
2016: The Numbers and Trends. Brussels: Adedeji T., Proverbs D., Xiao H., Cobbing P.  
CRED (online, accessed 21/03/2018). URL: and Oladokun V (2019). Making Birmingham a  
Flood  
Resilient  
City:  
Challenges  
and  
Opportunities. MDPI - Water 2019, Vol. 11,  
1699. DOI:10.3390/w11081699  
Petterson J. S., Stanley L. D., Glazier E., Philipp  
J. (2006). A Preliminary Assessment of Social  
and Economic Impacts Associated with Sato T. and Nakasu T. (2011). 2009 Typhoon  
Hurricane Katrina. American Anthropologist, Flood Disasters in Metro Manila. National  
Vol. 108, Issue 4, pp. 643-670, ISSN 0 002- Research Institute for Earth Science and Disaster  
7294, electronic ISSN 1548-1433. The American Prevention, No. 45.  
Anthropological Association.  
Transport Engineering Design J.S. Incorporated  
Phi H. L. (2013). Urban Flood in Ho Chi Minh South, TEDI-South (2013). Revision of Plan for  
City: Causes and Management Strategy (In Transport Development in Ho Chi Minh City by  
Vietnamese).  
Vietnamese  
Journal  
of 2020 (in Vietnamese).  
Construction Planning, Vol. 63 (pp. 26-29).  
Hanoi.  
Zevenbergen C., Veerbeek W., Gersonius B.,  
and VanHerk S. (2008). Challenges in UMF -  
Southern Regional Hydro - Meteorological Travelling Across Spatial and Temporal Scales.  
Center - SRHC (2015). Water level and Flood Risk Management 1 (2008), pp. 81–88,  
Precipitation Records 2010 – 2015 (data DOI:10.1111/j.1753-318X.2008.00010.x  
extracted).  
217  
pdf 6 trang yennguyen 16900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những ảnh hưởng của giải pháp bờ kè đối với vấn đề ngập trong đô thị: Bài học kinh nghiệm cho thành phố Hồ Chí Minh từ thất bại của các hệ thống bảo vệ tại một số đô thị trên thế giới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_anh_huong_cua_giai_phap_bo_ke_doi_voi_van_de_ngap_tron.pdf