Bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CHO NGƯỜI DÂN  
BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA  
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY  
TS. Đỗ Thị Hiện  
TÓM TẮT  
Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra ở  
hầu hết các tỉnh thành phố trên cả nước với tốc độ ngày càng cao. Theo quy  
luật chung, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa sẽ dẫn đến  
việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị và phát triển hệ thống cơ sở hạ  
tầng kinh tế - xã hội. Để có tiền đề về vị trí, đất đai phục vụ xây dựng các khu  
công nghiệp, khu đô thị và các công trình công cộng thì hằng năm Nhà nước  
tiến hành thu hồi một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp giao cho chủ đầu tư  
để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh, điều đó đã và đang làm nảy sinh  
nhiều vấn đề xã hội phức tạp, nhất là việc chăm lo, ổn định đời sống cho người  
dân sau khi đất bị thu hồi. Theo đó, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống  
cho người dân sau khi bị thu hồi đất là vấn đề được quan tâm gần đây.  
Bài viết “Bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất  
trong quá trình công nghiệp hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay” tập  
trung nghiên cứu một số quan điểm của Đảng về bảo đảm việc làm và đời sống  
cho người dân trong quá trình công nghiệp hóa, đồng thời nghiên cứu thực  
trạng và đưa ra một số giải pháp định hướng nhằm đảm bảo việc làm cho người  
dân bị thu hồi đất ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay.  
Từ khóa: chất lượng cuộc sống, người bị thu hồi đất, công nghiệp hóa,  
Đồng bằng sông Cửu Long  
1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo đảm chất lượng  
cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa  
Có thể thấy, hơn 30 năm qua, nông nghiệp Việt Nam đã có những bước  
tiến vượt bậc, phần lớn người nghèo sống ở nông thôn nhờ đó đã cải thiện đời  
sống, đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tỷ lệ xóa đói, giảm  
nghèo với tốc độ cao nhất trên thế giới. Thành quả này có được một phần nhờ  
vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đại hội  
Đảng lần thứ VII (tháng 6/1991) chỉ rõ: Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn  
với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng  
Trường Đại học Hoa Sen.  
178  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã  
hội. Đại Hội Đảng IX (tháng 4/2001) đề ra nhiệm vụ đẩy nhanh công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Trung ương ban hành Nghị quyết 5  
về “đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ  
2001-2010”.  
Đến Nghị quyết lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông  
nghiệp, nông dân, nông thôn, nhận định: nông thôn Việt Nam đã đạt được  
những thành tựu khá toàn diện và to lớn. Đồng thời cũng nhấn mạnh vị trí chiến  
lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đề cao vai trò chủ thể của nông dân  
và đề xuất xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại,  
bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả  
năng cạnh tranh cao. Nghị quyết cũng đặt chỉ tiêu, đến năm 2020, lao động  
nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào  
tạo đạt trên 50%, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%1.  
Trong bối cảnh quá trình công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô  
thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi cả nước với tốc độ ngày càng cao  
dẫn đến việc hình thành các khu công nghiệp, khu đô thị và phát triển hệ thống  
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Theo đó, Nhà nước tiến hành thu hồi một lượng  
lớn diện tích đất nông nghiệp giao cho chủ đầu tư để thực hiện các dự án sản  
xuất kinh doanh, điều đó: “đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức  
tạp, nhất là việc chăm lo, ổn định đời sống cho người dân sau khi đất bị thu  
hồi”2. Bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi  
đất là vấn đề được quan tâm trong những năm gần đây. Để bảo đảm việc làm và  
đời sống cho người dân bị thu hồi đất cần dựa trên các quan điểm sau:  
Một là, thu hồi đất phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là rất cần  
thiết, người bị thu hồi là người có đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội.  
Đất nông nghiệp là tài sản quý giá nhất, nguồn lực quyết định để người  
nông dân tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trong  
nhiều năm, Đảng và Nhà nước đã có những nỗ lực hỗ trợ nông dân tiếp cận  
1
Đảng cộng sảnViệt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương  
khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.121-126  
2
Lưu Song Hà (2009), Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm khu công nghiệp,  
Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.22  
179  
quyền sử dụng đất đai và vấn đề bảo hộ nông dân giữ quyền sử dụng đất cả với  
tư cách tư liệu sản xuất, lẫn tư cách tài sản1. Khác với các tư liệu khác, sức sản  
xuất của đất đai có thể không bị suy giảm cùng với thời gian nếu con người biết  
cách khai thác và sử dụng hợp lý. Đảm bảo an ninh lương thực là cần thiết cho  
sự phát triển bền vững, song, đảm bảo an ninh lương thực bằng cách giữ  
nguyên diện tích đất nông nghiệp vốn có là không hợp lý vì chúng ta có thể lợi  
dụng sức sản xuất không có hạn của đất và tận dụng sức mạnh của khoa học -  
công nghệ để thực hiện mục tiêu này với một số lượng diện tích đất nông  
nghiệp ít hơn. Với biện pháp này, có thể chuyển một phần diện tích đất nông  
nghiệp sang phục vụ phát triển các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch… là  
những lĩnh vực tạo ra được nhiều việc làm hơn hàng chục lần so với đất để làm  
nông nghiệp và cũng đem lại thu nhập cao hơn, ổn định hơn cho người lao  
động. Đây cũng là phương thức phổ biến mà các quốc gia phát triển trên thế  
giới thực hiện.  
Người bị thu hồi đất là những người bị mất tư liệu sản xuất chính đã gắn  
bó với nhiều thế hệ trong gia đình họ, do vậy cần nhìn nhận đây là những người  
đóng góp trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Cho  
nên, ngoài bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản trên đất đúng  
theo quy định và phù hợp với thực tiễn từng địa phương, cần tiếp tục tập trung  
các nguồn lực của nhà nước và xã hội để thực hiện các chính sách cho người  
dân thuộc diện thu hồi đất có việc làm, có thu nhập ổn định và đảm bảo điều  
kiện sống tốt hơn.  
Việc thu hồi đất liên quan đến nhiều mối quan hệ lợi ích, có thể khái quát  
thành lợi ích xã hội, lợi ích của người dân và lợi ích của các đơn vị sử dụng đất  
thu hồi. Trong đó, về phía xã hội, thu hồi đất sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu  
1
Chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta là kết quả của quá trình xây dựng trên quan  
điểm đổi mới trong một thời gian dài. Khởi điểm của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ  
Chính trị năm 1988 về giao quyền tự chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban  
Chấp hành Trung ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất cho hộ nông dân. Cụ thể hóa các chủ  
trương của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính  
sách đối với đất nông nghiệp, trong đó nổi bật là Luật Đất đai ban hành năm 1993 (được liên tục sửa  
đổi vào các năm sau này, nhất là Luật Đất đai sửa đổi năm 2003), Luật Thuế chuyển quyền sử dụng  
đất (năm 1999), Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp (năm 2000, thay cho thuế nông nghiệp)... Nội  
dung cơ bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện qua chế độ sở  
hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà nước, chính sách tích tụ và tập trung đất nông  
nghiệp, chính sách thuế đất nông nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp.  
180  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
kinh tế, cơ cấu lao động, về phía đơn vị sử dụng đất để xây dựng kết cấu hạ  
tầng kinh tế xã hội, các công trình công cộng và lợi ích quốc gia, có thể là các  
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, về phía người dân thì họ  
bị mất việc làm truyền thống, cuộc sống hiện tại bị xáo động. Như vậy, người  
nông dân vừa là người đóng góp và đồng thời lại là đối tượng ở vào vị thế yếu  
trong giao dịch đất nông nghiệp1. Do vậy, thu hồi đất có thể nhanh hoặc chậm  
nhưng hệ quả lâu dài thành công hay thất bại phụ thuộc vào việc giải quyết hài  
hòa, hợp lý các mối quan hệ lợi ích này, phải chú trọng đến lợi ích của người  
dân. Cần tuân thủ nguyên tắc thị trường trong thu hồi đất đảm bảo sự công  
khai, minh bạch, ngang giá và bình đẳng đối với người dân trong thực hiện  
chính sách đền bù, giải tỏa, tạo việc làm ổn định cho người dân - những người  
có đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.  
Hai là, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống cho người có đất bị thu  
hồi phải được ưu tiên hàng đầu trong thu hồi đất.  
Đây là quan điểm thể hiện tôn chỉ và mục đích: “do dân và vì dân”. Công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa là rất cần thiết song không vì thế mà hy  
sinh lợi ích của hàng chục triệu nông dân. Thực tế, quá trình chuyển đổi kinh tế  
đã tác động nhiều mặt lên mọi mặt của đời sống xã hội và xuất hiện những kết  
quả không mong muốn là tất yếu. Trong đó, có việc một bộ phận cư dân bị “tụt  
hậu” và bị mất mát do những thay đổi trong cơ cấu kinh tế mới tạo ra mà chủ  
yếu lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đó là hiện tượng “nghèo đói trong tiến  
trình phát triển”2. Giai đoạn hiện nay, khi mà nghèo đói đã trở thành vấn đề cơ  
1Xem Trần Thị Minh Châu, Chính sách đất nông nghiệp  
ở
Việt Nam,  
www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi: người nông dân chỉ được sử dụng đất nông  
nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Do mức sinh lợi của ngành nông nghiệp thấp nên giá trị  
chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thành tiền không lớn, không khuyến khích người nông dân  
chuyển quyền sử dụng này cho người khác; Nhà nước toàn quyền quy hoạch và thu hồi đất nông  
nghiệp để chuyển thành đất đô thị hoặc đất kinh doanh mà nông dân không có quyền thỏa thuận giá  
đất bị thu hồi, cũng như không có quyền phản đối hoặc đòi hỏi đền bù thỏa đáng quyền lợi của mình.  
Trường hợp đất thu hồi để làm các công trình công cộng như đường sá, công trình thủy lợi... thì  
không có mặt bằng giá mới nên người nông dân không cảm nhận được thiệt thòi của họ. Trường hợp  
Nhà nước thu hồi đất để chuyển thành khu đô thị theo cách giao cho các doanh nghiệp đầu tư kết cấu  
hạ tầng rồi bán nền, bán nhà... sẽ làm xuất hiện mặt bằng giá quyền sử dụng đất phi nông nghiệp,  
thường cao hơn giá đất nông nghiệp nhiều lần; thời hạn giao đất nông nghiệp cho nông dân theo quy  
định của pháp luật hiện hành là quá ngắn (50 năm với đất trồng cây lâu năm, 20 năm với đất còn lại)  
so với thời hạn giao đất phi nông nghiệp. Hạn mức diện tích đất giao khá thấp.  
2
Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, Vấn đề nghèo đói trong nền kinh tế thị  
trường ở Việt Nam hiện nay, Số 3-2002, tr.30  
181  
bản của phát triển xã hội và phát triển con người và quan niệm về đói nghèo đã  
không còn giới hạn ở những chỉ số về thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình mà  
còn mở rộng sang các chỉ số phi thu nhập khác. Đói nghèo, theo đó là một  
thách thức trên con đường phát triển, là một trở ngại để thực hiện hóa mục tiêu  
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.  
Do vậy, nhất thiết cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải  
tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự  
phân hóa giàu nghèo quá giới hạn cho phép. Quan điểm của Đảng rất rõ là: “kết  
hợp chặt chẽ các vẫn đề kinh tế và xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo,  
ổn định xã hội và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của  
người nông dân nông thôn…”1. Đảm bảo việc làm cho người dân bị thu hồi đất  
là ưu tiên hàng đầu.  
Ba là, đảm bảo việc làm, thu nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi  
đất là trách nhiệm của toàn xã hội.  
Trên quan điểm “giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là  
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trước hết phải khơi dậy tinh  
thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân..”2, thì việc đảm  
bảo việc làm, thu nhập cho người dân bị thu hồi đất đời hỏi sự lãnh đạo của các  
cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp trong việc thực hiện phương  
án đền bù, đề án dạy nghề, tạo việc làm cho người dân, thực hiện cong khai,  
minh bạch về quy hoạch, giá cả, có cơ chế tham gia giám sát của người dân…  
đây là việc làm khó khăn, phức tạp cần được nhận thức đầy đủ, đúng đắn của  
toàn xã hội tránh xảy ra tiêu cực, tham nhũng và tình trạng khiếu kiện kéo dài.  
2. Thực trạng và một số giải pháp bảo đảm chất lượng cuộc sống cho  
người dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa ở Đồng bằng  
sông cửu Long  
2.1. Thực trạng  
ĐBSCL3 là một trong 8 vùng kinh tế quan trọng, chiếm 12% diện tích đất  
1 Đảng cộng sảnViệt Nam (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH TW khoa IX  
2 Đảng cộng sảnViệt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH TW khóa X  
3
ĐBSCL nằm ở phần cuối của bán đảo Đông Dương, liền kề với vùng kinh tế trọng điểm  
phía Nam nên vùng có mối quan hệ hai chiều rất chặt chẽ và quan trọng. Nằm giáp với Campuchia và  
182  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
tự nhiên, 32% diện tích đất nông nghiệp cả nước; nổi tiếng là châu thổ lớn và  
phì nhiêu vào bậc nhất không những của Việt Nam mà của cả Đông Nam Á.  
Đây là vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo, trái cây nhiệt đới, thủy sản lớn nhất  
của Việt Nam. Đặc biệt trong 30 năm đổi mới, sản xuất lúa gạo, rau quả và nuôi  
trồng thủy sản đã phát triển rất đáng kể, đóng góp quan trọng vào mục tiêu an  
toàn lương thực và xuất khẩu của cả nước.  
Những năm gần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu tốc độ đô thị hóa, ở ĐBSCL,  
Nhà nước tiến hành thu hồi đất nông nghiệp, đất ở... phục vụ nhu cầu xây dựng  
các khu công nghiệp, chế xuất và đô thị. Theo đó, ở tất cả các tỉnh trong khu  
vực ĐBSCL đều có hàng loạt các dự án công nghiệp, đô thị xây dựng trên cơ sở  
thu hồi đất nông nghiệp. Chẳng hạn, trên địa bàn TP Cần Thơ hiện nay có hơn  
5.752ha đất thuộc 66 đồ án qui hoạch xây dựng đang triển khai thực hiện, làm  
cơ sở để lập các dự án đầu tư. Về dự án đầu tư đã có 85 dự án được chấp thuận  
chủ trương đầu tư với tổng diện tích hơn 2.600ha. Trong đó có 28 dự án có  
quyết định giao đất với diện tích 652ha, 33 dự án đang triển khai nhưng chưa  
có quyết định thu hồi và giao đất với diện tích 1355ha, … Tại An Giang, năm  
2006, trên địa bàn tỉnh bao gồm TP Long Xuyên và các huyện thị đã có 3.450ha  
đất đô thị hoá, đến nay mức đô thị hoá đã lên 4.950ha. ở Vĩnh Long, Đồng  
tháp, Tiền Giang… đều có hàng ngàn ha đất nông nghiệp bị thu hồi phục vụ  
quá trình công nghiệp hóa, đo thị hóa.  
Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp chuyển dịch cơ cấu kinh  
tế trong quá trình CNH, HÐH đất nước. Tuy nhiên, từ đây cũng nảy sinh nhiều  
vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc ở địa phương, nhất là việc làm của lao động  
nông thôn sau khi bị thu hồi đất.  
Theo đánh giá chung, có 25-30% số lao động sau thu hồi đất không có  
việc làm hoặc việc làm không ổn định. Có tỉnh hàng chục nghìn lao động mất  
việc làm. Chính điều này đã ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng cuộc sống  
cùng chung sông Mê Kông là điều kiện giao lưu hợp tác với các nước trên bán đảo. Nằm ở vùng tận  
cùng Tây Nam của Tổ quốc có bờ biển dài 73,2 km và nhiều đảo, quần đảo như Thổ Chu, Phú Quốc  
là vùng đặc quyền kinh tế giáp biển Đông và vịnh Thái Lan. Vùng nằm trong khu vực có đường giao  
thông hàng hải và hàng không quốc tế giữa Nam á và Đông Nam á cũng như với châu úc và các quần  
đảo khác trong Thái Bình Dương. Vị trí này rất quan trọng trong giao lưu quốc tế. Theo kết quả điều  
tra dân số ngày 01/04/2011, dân số vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 17.325.167 người, chiếm  
19,8% dân số cả nước. Tỷ lệ tăng dân số bình quân 1999-2009 là 0,6%. Đây là vùng đất hội cư của  
nhiều tộc người, trong đó chủ yếu là người Việt (90%), người Khơme (6%), người Hoa (2%), còn lại  
là người Chăm. Họ cùng chung sống và phát triển các loại hình hoạt động kinh tế.  
183  
của người dân. Cùng với thất nghiệp hoặc việc làm không ổn định là nguy cơ  
đói nghèo, thất học, tệ nạn xã hội… gia tăng.  
Một vấn đề nữa là khi đẩy mạnh CNH nông nghiệp nông thôn thì nhờ  
khoa học công nghệ, sản lượng lương thực ở đồng bằng sông Cửu Long  
(ĐBSCL) tăng lên nhanh chóng, không chỉ rút ngắn thời gian thu hoạch mà còn  
tiết kiệm sức lao động cho nông dân. Trồng trọt vẫn là ngành sản xuất chính  
trong nông nghiệp ĐBSCL. Năm 2013, cánh đồng mẫu lớn phát triển được  
76.000 Ha. Giá thành sản xuất lúa đông xuân 3.616 đ/kg, hè thu 4.142 đ/hg.  
Sản lượng lúa của đồng bằng đạt 24,35 triệu tấn (tăng gấp 4 lần trong suốt 30  
năm đổi mới). Xuất khẩu gạo Việt Nam chiếm 20% thị phần thế giới hàng năm.  
Đến nay Đồng bằng sông Cửu Long đã cơ giới hóa khâu làm đất đạt 80%, tuốt  
lúa 95%, xay xát 95%, cả khu vực có 12.234 máy gặt lúa (8.698 máy gặt đập  
liên hợp) giúp cho diện tích thu hoạch lúa bằng máy đạt 56% diện tích. Có trên  
10.000 máy sấy lúa, chủ động sấy 42% diện tích lúa hè thu1. Tuy nhiên, khi cái  
gì cũng cơ giới hóa hết, thành ra những người không có tư liệu sản xuất, không  
trình độ bị thất nghiệp. Trên những cánh đồng khắp các tỉnh ĐBSCL chỉ còn  
những nông dân trên tuổi tứ tuần, hầu hết thanh niên đến tuổi lao động đều rời  
quê tìm đến các thành phố lớn để làm thuê. Nhiều xã trong khu vực có đến hơn  
30% dân lao động nghèo đi Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh… làm thuê. Điều  
đáng buồn là nghèo quá nên cũng có chừng 30% con em bỏ học theo cha mẹ đi  
làm ăn xa hoặc lao động trước tuổi2. Một nghịch lý là trong khi tốc độ phát  
triển lúa gạo không ngừng gia tăng, 10 triệu đ/ha (đông xuân), 2,4 triệu đ/ha  
(hè thu), 6,3 triệu đ/ha (thu đông) thì thu nhập bình quân / nông hộ /năm thấp.  
Tình trạng này vẫn đang có xu hướng tăng lên3.  
Nguyên nhân phổ biến dẫn tới người nông dân phải chuyển nghề và tìm  
kiếm việc làm mới là do không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề, nhiều địa  
bàn có tới hàng nghìn lao động mất việc làm nhưng chỉ có số ít người đã qua  
đào tạo nghề. Lao động nông nghiệp qua đào tạo còn rất thấp (3,6%). Hơn nữa,  
số người lao động quá tuổi tuyển dụng (trên 35 tuổi), độ tuổi khó thích nghi với  
môi trường lao động mới chiếm tỷ lệ cao. Mặt khác, ở các vùng chuyển đổi đất,  
nhận thức của người lao động còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ tiền đền bù của  
1http://iasvn.org/homepage/Cong-nghiep-hoa,-hien-dai-hoa-nong-nghiep,-nong-thon-Dong-  
2 http://congly.vn/phong-su/dong-bang-song-cuu-long-cong-nghiep-hoa-hay-that-nghiep-hoa  
3 http://nhandan.com.vn/bandoc/item/8811502  
184  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
Nhà nước mà chưa tự mình tìm kiếm việc làm, trong khi đó, việc tổ chức, chỉ  
đạo, tuyên truyền hướng dẫn cho người lao động ở các địa phương còn hạn chế.  
Bên cạnh những mặt tích cực từ quá trình đô thị hóa, cũng nảy sinh nhiều vấn  
đề phức tạp. Một bộ phận nông dân do không đủ đất sản xuất, thất nghiệp,  
khiến đời sống ngày càng khó khăn... Bên cạnh một số hộ gia đình giàu lên nhờ  
đền bù đất thì cũng không ít gia đình lâm vào cảnh "trắng tay". Hầu hết các gia  
đình sử dụng tiền đền bù vào việc mua sắm các phương tiện cho sinh hoạt như  
mua ti-vi, xe máy và xây nhà... thậm chí có gia đình còn cho con cái ăn chơi  
tiêu xài dẫn đến tệ nạn xã hội trong khu vực nông thôn ngày càng gia tăng. Qua  
điều tra cho thấy, thu nhập bình quân đầu người của các hộ nông dân bị thu hồi  
đất vừa qua chỉ có khoảng10% hộ thu nhập tăng, còn hơn 80% giảm so với  
trước.  
Những năm qua, Chính phủ đã có chính sách ưu tiên giải quyết việc làm  
cho người dân có đất bị thu hồi, nhưng thực tế chưa đáp ứng nhu cầu. Phần lớn  
nông dân trong vùng quy hoạch đều bị động khi phải chuyển đổi mục đích đất  
sản xuất. Trong khi đó, khả năng thu hút lao động vào các khu công nghiệp còn  
thấp, chưa đến 35% tổng số lao động đang làm việc ở nông thôn. Ðó là chưa kể  
một lượng lớn lao động không đáp ứng yêu cầu về tay nghề. Nhiều địa phương  
có tới hàng nghìn lao động bị mất việc làm nhưng số người đã qua đào tạo còn  
rất ít.  
Rõ ràng, việc công nghiệp hóa ruộng đồng đã thúc đẩy nền kinh tế nông  
nghiệp nhảy vọt nhanh chóng là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chính  
những nấc thang mới này đã “cướp” mất việc của một bộ phận không nhỏ lao  
động chân tay. Đã đến lúc “thay áo” mới cho nông nghiệp để phù hợp với cơ  
chế thị trường nhằm giải quyết hợp lý số lượng lao động dư thừa và nâng tầm  
sản xuất cho nông dân có điều kiện phát triển. Tạo việc làm ổn định, nâng cao  
thu nhập là yêu cầu cần thiết để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người dân  
sau khi bị thu hồi đất.  
2.2. Một số giải pháp  
Từ thực trạng nêu trên, để đảm bảo chất lượng cuộc sống, giải quyết tốt  
vấn đề việc làm, thu nhập và cho người dân sau khi bị thu hồi đất ở ĐBSCL,  
bên cạnh việc nhận thức đúng và đầy đủ về tình trạng nông dân không đất từ  
các cấp trung ương, bộ ngành đến các địa phương, nhà đầu tư và người dân cần  
thiết phải có những chỉ đạo kịp thời, cụ thể và khẩn trương để cụ thể hóa quan  
185  
điểm, Nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước thành các chương trình, kế  
hoạch triển khai thực hiện. Đặc biệt, cần có các Chương trình đột phá từ tư duy  
đến chính sách; từ bố trí cán bộ đến điều hành, tổ chức thực hiện phải đạt được  
yêu cầu đột phá, thể hiện có sự phối hợp, gắn kết giữa các lĩnh vực, các ngành  
một cách đúng hướng, hiệu quả từ trước, trong và sau hiện thực thu hồi đất.  
Về quy hoạch, kế hoạch  
Tại vùng đồng bằng Sông Cửu Long có đến 111 khu, cụm công nghiệp.  
Trong số này chỉ có 5 khu họat động có hiệu quả. Tình trạng giải toả đất làm  
khu công nghiệp rồi bỏ trống và hậu quả mà người dân gánh chịu diễn ra phổ  
biến. Do vậy, cần tích cực rà soát xử lý các dự án treo. Tích cực tuyên truyền  
cho người dân, hạn chế người dân bán ruộng, bán đất cho các chủ đầu tư theo  
hình thức “tự thoả thuận” để rồi dần dần theo cuộc sống “đô thị hoá nửa mùa”,  
bằng nghề chạy xe ôm, làm ăn công, làm hồ ở các dự án.  
Gắn quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển các khu  
công nghiệp, khu đô thị, quy hoạch sử dụng đất với kế hoạch giải quyết việc  
làm và đào tạo nghề. Việc triển khai thu hồi đất gắn với tuyên truyền về các  
khâu học nghề, chuyển nghề và tự tạo việc làm của người dân, trước hết là cho  
lớp thanh niên tại chỗ, có kế hoạch đào tạo họ cho phù hợp với nghề và cơ cấu  
lao động của doanh nghiệp đồng thời phối hợp tốt giữa các cấp ban, ngành,  
đoàn thể và tổ chức xã hội để nắm bắt nhu cầu tuyển dụng và thông tin về thị  
trường lao động, có kế hoạch ưu tiên sử dụng lao động địa phương.  
Về nâng cao chất lượng lao động nông thôn và tạo việc làm cho lao động  
nông thôn  
Giáo dục và đào tạo giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững  
của đất nước, đối với lao động nông thôn, việc phát triển đào tạo nghề sẽ góp  
phần quan trọng trong việc tạo việc làm và tìm kiếm việc làm mới khi bị thu  
hồi đất. Việc nâng cao chất lượng lao động nông thôn và tạo việc làm cho lao  
động nông thôn cần được chủ trọng. và được xác định: “là sự nghiệp của Đảng,  
Nhà nước, của các cấp, các ngành và toàn xã hội”1. Do vậy, tăng cường công  
tác giáo dục, khuyến khích các phong trào học tập để thanh niên đến tuổi lao  
động có dủ trình độ văn hóa tự tìm kiếm việc làm ngoài nông nghiệp, mở rộng  
1
Thủ tướng chính phủ (27/11/2009), Quyết dịnh phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động  
nông thôn đến năm 2020, số 1956/QĐ-Ttg.  
186  
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
TỪ THỰC TIỄN ĐẾN CHÍNH SÁCH  
KỶ YẾU HỘI THẢO  
nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, xã hội  
hóa các hoạt động dạy nghề…  
Về tạo cơ chế chính sách kinh tế - xã hội đối với lao động lớn tuổi, lao  
động nữ.  
Lao động lớn tuổi (trên 35) và lao động nữ chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số  
lao động bị thu hồi đất ở nước ta hiện nay, trong khi đó khả năng tự chuyển đổi  
nghề nghiệp của nhóm này lại thấp. Họ chỉ có thể tham gia vào phân mảng thị  
trường lao động phổ thông hoặc tư tạo việc làm trong lĩnh vực dịch vụ, thương  
mại và đời sống. Do vậy, cần có cơ chế chính sách kinh tế - xã hội đối với  
nhóm này. Một mặt, phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, nghề phi  
nông nghiêp. Ở nông thôn, đầu tư cơ sở hạ tầng ở nông thôn và cho vay vốn ưu  
đãi để tự họ tổ chức các hoạt động dịch vụ nhỏ lẻ phù hợp.  
Ưu tiên những sáng kiến mới phát triển nông thôn  
Đây là giải pháp mang tính lâu dài và thường xuyên. Để giải quyết vấn  
đề việc làm và nâng cao thu nhập cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất cần  
có sự hợp tác mạnh mẽ hơn và ưu tiên những sáng kiến mới ở các cấp độ (đặc  
biệt chú ý các sáng kiến cụ thể, phù hợp ở ngay tại địa phương) về phát triển  
nông thôn và giảm nghèo. Các sáng kiến ấy hướng đến và có thể được tiến hành  
như “một cuộc cách mạng trong nông nghiệp” nhằm thu hẹp khoảng cách về  
năng suất khi mà người nông dân đã bị giảm diện tích sản xuất thì cần tăng vụ;  
phổ biến các công nghệ sau thu hoạch nhằm giảm thiểu thất thoát sản lượng;  
tăng cường quảng bá và đưa vào sử dụng các giống năng suất cao; có khả năng  
chống sâu bệnh tốt; có thể tận dụng các nguồn gien chưa được khai thác;…  
3. Kết luận  
Công nghiệp hóa hiện đại hóa là con đường tất yếu để phát triển kinh tế  
nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Việc chuyển một phần nguồn  
lực đất đai từ mục đích sản xuất nông nghiệp sang phục vụ các ngành công  
nghiệp và dịch vụ là cần thiết. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc hàng  
triệu lao động nông thôn ở ĐBSCL không còn đất sản xuất, mất hoặc thiếu việc  
làm, đời sống khó khăn. Đảm bảo việc làm cho người dân bị thu hồi đất ở  
ĐBSCL là yêu cần bức thiết, làm tốt vấn đề này sẽ góp phần thực hiện “Gắn kết  
chặt chẽ chính sach kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng  
187  
cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đảm bảo để nhân dân được hưởng thụ  
tốt hơn thfnh quả của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển kinh tế”1.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm BCH  
TW khoa IX  
2. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  
lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi.  
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH  
TW khóa X  
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban  
chấp hành Trung ương khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội  
8. Lưu Song Hà (2009), Điều tra điểm tâm lý nông dân bị thu hồi đất làm  
khu công nghiệp, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.  
9. Thủ tướng chính phủ (27/11/2009), Quyết dịnh phê duyệt đề án đào tạo  
nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, số 1956/QĐ-Ttg.  
10.Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia, Vấn đề nghèo đói  
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Số 3-2002.  
1
Đảng cộng sảnViệt Nam (2016), Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, Hà  
Nôi, tr.136  
188  
pdf 11 trang yennguyen 15440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_chat_luong_cuoc_song_cho_nguoi_dan_bi_thu_hoi_dat_tr.pdf