Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình
PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
NUÔI CÁ LỒNG TẠI VÙNG HỒ THUỶ ĐIỆN HOÀ BÌNH
PHẠM THỊ THU HÀ,
PHAN THỊ NGỌC DIỆP
Tóm tắt: Hồ thuỷ điện Hòa Bình có diện tích mặt nước lớn nên có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi
trồng thủy sản, đặc biệt là phát triển nghề nuôi cá lồng. Nghiên cứu phân tích nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình dựa trên việc phân tích thang
đo xây dựng với 5 biến độc lập (điều kiện môi trường (MT), kỹ thuật nuôi (KT), chi phí sản xuất
(CP), con giống (CG), chính sách hỗ trợ (CS)) và 17 biến thành phần. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
biến CP có hệ số beta chuẩn hóa cao nhất (0,582) và có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất nuôi cá
lồng, tiếp theo là các biến CS (0,387), MT (0,349), KT (0,234), (CG) (0,198). Nghiên cứu cũng đưa
ra một số giải pháp liên quan đến kỹ thuật và chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động nuôi cá lồng
tại vùng hồ thuỷ điện Hòa Bình.
Từ khoá: Nhân tố, vùng hồ thuỷ điện Hòa Bình, năng suất nuôi cá lồng.
ANALYSIS OF FACTORS AFFECTING
CAGE FISH FARMING IN HOA BINH HYDROPOWER RESERVOIR
Abstract: Hoa Binh hydropower reservoir has a large water surface area, so it has great potential for
aquaculture development, especially cage fish farming. Research of the factors affecting cage fish
farming in Hoa Binh hydropower reservoir, Hoa Binh province, was conducted in this study and was
based on the analysis of construction scale using 5 independent variables, namely environmental
conditions (EC), technical farming (TF), production costs (PC), breeding stock (BS), support policy
(SP), and 17 component variables. The variable PC were found to have the highest normalized beta
coefficient (0.582) and the greatest influence on cage fish productivity, followed by SP(0.387), EC
(0.349), SP (0.387), TF (0.234), BS (0.198). The study also suggested some solutions related to
techniques and policy planning to improve the efficiency of cage fish farming in Hoa Binh
hydropower reservoir.
Keywords: Factor, Hoa Binh hydropower reservoir area, cage fish farming productivity.
1. Đặt vấn đề
2020, tổng số lồng nuôi trên vùng hồ thủy điện
Hòa Bình (thuộc tỉnh Hòa Bình) là 4.700 lồng,
sản lượng 4.600 tấn [1], số loài nuôi phong phú
bao gồm cả loài bản địa (trắm cỏ, trắm đen,
chép, rô phi….) và loài nhập nội (diêu hồng,
tầm, lăng).
Hồ thủy điện Hòa Bình có tổng diện tích mặt
nước là 16.800 ha, trong đó địa phận Hòa Bình
diện tích khoảng 8.900 ha, có tiềm năng rất lớn để
phát triển nuôi trồng thuỷ sản [1]. Với những lợi
thế về điều kiện tự nhiên, thời gian qua hoạt
động nuôi thủy sản trên vùng hồ thủy điện Hòa
Bình rất phát triển, đặc biệt là hoạt động nuôi cá
lồng bè [2]. Tính đến thời điểm tháng 12 năm
Tuy nhiên, khó khăn trong phát triển nghề
nuôi cá lồng ở vùng hồ Hoà Bình là nuôi nhỏ lẻ,
phân tán, chưa có vùng nuôi tập trung được đầu
71
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
tư đồng bộ. Hình thức nuôi quảng canh và quảng
A: hằng số; ui: sai số; e: cơ số toán học (e =
2,71828).
canh cải tiến là chủ yếu (chiếm 80%). Giá vật tư,
con giống biến động, thị trường tiêu thụ bấp
bênh. Bên cạnh đó, hoạt động nuôi cá lồng còn
chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như nguồn
nhân lực, điều kiện khí hậu, chất lượng nước, cơ
chế chính sách hỗ trợ...
Ứng dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-
Douglas, nghiên cứu của M. Serajul Islam
(1987) đã lựa chọn các nhân tố (giống cá, thức
ăn tự nhiên và thức ăn nhân tạo, số người lao
động, quy mô trang trại, tuổi của ao nuôi, độ sâu
của nước và số lượng chủ nuôi) để đánh giá [7];
nghiên cứu của David E. Antwi (2016) sử dụng
các nhân tố (trọng lượng cá giống, khối lượng
thức ăn, kích thước lồng, lao động và các biến
giả như tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm nuôi,
tuổi, số lượt thăm trang trại, trình độ học vấn) để
đánh giá [8].
Một số nghiên cứu của các tác giả trong nước
chỉ ra các nhân tố thành phần ảnh hưởng đến
năng suất nuôi cá lồng (như chi phí thức ăn, chi
phí lao động, trình độ học vấn, khoảng cách giữa
các lồng, tập huấn nuôi trồng) [3, 4]. Tuy nhiên,
các nhân tố quan trọng khác như điều kiện môi
trường nuôi, yếu tố khí hậu... chưa được đưa vào
đánh giá. Chất lượng nước đã được chứng minh
là đóng vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng,
phát triển của cá [5].
Hàm sản xuất Cobb-Douglas cũng được
nhiều tác giả trong nước sử dụng để phân tích
ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến năng suất
NTTS [3, 4, 9]. Các nhân tố được đưa vào đánh
giá ảnh hưởng đến năng suất nuôi tôm như: mật
độ thả giống, số lượng thức ăn công nghiệp, số
lượng thức ăn tươi, số ngày công lao động, số
năm kinh nghiệm nuôi và một số biến giả như
hình thức nuôi (bán thâm canh và quảng canh
cải tiến), kiểm dịch (giống được kiểm dịch và
giống không được kiểm dịch), xử lý ao nuôi (có
xử lý ao nuôi và ao nuôi không được xử lý) [9].
Một nghiên cứu khác khi đánh giá các nhân tố
ảnh hưởng đến năng suất nuôi cá lồng sử dụng 8
biến (mật độ thả giống, kinh nghiệm nuôi, chi
phí thức ăn, chi phí lao động, thể tích lồng nuôi,
trình độ học vấn, khoảng cách giữa các lồng và
tập huấn NTTS là biến giả) để đánh giá [4].
Từ cơ sở lý thuyết mô hình hàm sản xuất
Cobb-Douglas, nghiên cứu này xây dựng 5 nhân
tố chính có ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá
lồng bao gồm: Điều kiện môi trường (MT), Kỹ
thuật nuôi (KT), Con giống (CG), Chi phí sản
xuất (CP), Chính sách hỗ trợ (CS) và 17 biến
thành phần tương ứng với các nhân tố. Các nhân
tố và các biến thành phần ảnh hưởng đến hoạt
động nuôi cá lồng được thể hiện ở Bảng 1.
Trong nghiên cứu này, nhân tố Điều kiện môi
trường và Con giống đã được đề xuất đưa vào
đánh giá. Một số biến thành phần khác cũng
được xem xét đánh giá (như chi phí lắp đặt lồng
nuôi, các chương trình, dự án phát triển của địa
phương...). Nghiên cứu thực hiện điều tra các hộ
nuôi cá lồng ở thành phố Hoà Bình và huyện Đà
Bắc. Đây là các khu vực thể hiện được đặc trưng
về nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) của vùng hồ thủy
điện Hòa Bình.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết và mô hình đề xuất
Mô hình hàm sản xuất của Cobb-Douglas
được sử dụng phổ biến để đánh giá các nhân tố
ảnh hưởng đến năng suất NTTS. Hàm sản xuất
Cobb-Douglas mô tả mối quan hệ giữa các yếu
tố đầu vào và sản lượng đầu ra theo công thức
như sau [6]:
α
1
α
2
α
푘
푘
1
2
푌 = 퐴 푋 푋 … 푋 푒푢 (1)
푖
푖
Trong đó: Yi: biến phụ thuộc; Xi (i = 1, 2...
k): biến độc lập; αi (i = 1, 2… k): hệ số hồi quy;
72
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …
Bảng 1. Nhân tố và các biến thành phần ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng
Nhân tố/ Thang đo
Biến thành phần
Nồng độ Oxy hòa tan trong nước (DO)
Ký hiệu
MT1
MT2
MT3
KT1
MT
Biến động thời tiết: bão, lũ, mưa nhiều, giá rét, …
Nhiệt độ nước
Mật độ thả con giống
Kinh nghiệm nuôi
KT2
KT
Thức ăn và chế độ ăn
KT3
Phòng trị bệnh cho cá
KT4
Nguồn gốc cá giống
CG1
CG2
CG3
CP1
CP2
CP3
CS1
CG
CP
Chất lượng con giống
Kích cỡ con giống
Chi phí đầu tư lắp đặt lồng nuôi
Chi phí mua giống cá
Chi phí thức ăn
Mở lớp tập huấn nâng cao kiến thức NTTS
Chính sách hỗ trợ đầu tư cho các hộ dân vay vốn phát triển NTTS
Các chương trình dự án phát triển NTTS của địa phương, tỉnh
CS2
CS
CS3
Nghiên cứu phát triển các giống thủy sản và nâng cao chất lượng con giống cho
NTTS
CS4
Như vậy, mô hình nghiên cứu đề xuất được
thể hiện như sau: Hoạt động nuôi cá lồng (phản
ảnh thông qua sự hài lòng của người nuôi về
năng suất nuôi cá lồng) = f (Điều kiện môi
trường, Kỹ thuật nuôi, Con giống, Chi phí sản
xuất, Chính sách hỗ trợ).
NN&PTNT các huyện; cơ sở, doanh nghiệp
kinh doanh nuôi thủy sản trong vùng; phỏng vấn
bằng bảng hỏi đối với các hộ dân tham gia trực
tiếp vào hoạt động nuôi cá lồng trên địa bàn
nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Bảng hỏi được xây dựng bao gồm hai phần:
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin, số
liệu
- Phần 1: thu thập thông tin chung (số lao
động, kinh nghiệm nuôi, đối tượng nuôi, kích
thước lồng, mật độ thả, tỷ lệ sống, năng suất…).
- Phần 2: thu thập ý kiến đánh giá với 5 biến
độc lập và 17 biến thành phần.
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các
nguồn có sẵn đã được công bố, số liệu của Tổng
cục Thống kê, các tài liệu liên quan từ các cơ
quan, ban ngành của tỉnh Hòa Bình nhằm đánh
giá được hoạt động nuôi cá lồng trong vùng hồ
thuỷ điện Hoà Bình.
Biến phụ thuộc là hoạt động nuôi cá lồng.
Các biến độc lập và biến phụ thuộc được đánh
giá theo thang đo Likert 5 điểm (1: Hoàn toàn
không hài lòng; 2: Không hài lòng; 3: Bình
thường; 4: Hài lòng; 5: Rất hài lòng).
Số liệu sơ cấp đạt được thông qua điều tra,
khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp các cán bộ Sở
NN&PTNT Hòa Bình, Chi cục Thuỷ sản, phòng
73
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
Lựa chọn 2 địa điểm nghiên cứu là thành phố
Y (Biến phụ thuộc): Hoạt động nuôi cá lồng
của người dân được đo bằng Sự hài lòng của
người nuôi về năng suất nuôi cá lồng;
X1-5 (Biến độc lập): X1: Điều kiện môi
trường; X2: Kỹ thuật nuôi; X3: Con giống; X4:
Chi phí sản xuất; X5: Chính sách hỗ trợ phát
triển nuôi cá lồng;
Hòa Bình và huyện Đà Bắc để tiến hành điều tra
phỏng vấn bảng hỏi (thực hiện trong năm 2020).
Dung lượng mẫu điều tra được xác định tham
khảo theo nguyên tắc chọn mẫu của Tabachnick
& Fidell (1996) [10], Hair & cộng sự (1998)
[11]. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã lựa chọn số
mẫu điều tra là 135 (thành phố Hoà Bình 75
mẫu, huyện Đà Bắc 60 mẫu).
ζ: Sai số của mô hình;
β: Hệ số beta chuẩn hóa của biến độc lập.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Hoạt động nuôi cá lồng tại khu vực hồ
thủy điện Hòa Bình
2.2.2. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Số liệu thu thập được từ bảng hỏi được nhập
và xử lý trên phần mềm SPSS 20.0; theo các
bước: tiến hành đo lường và kiểm định độ tin
cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám
phá EFA, phân tích tương quan và phân tích hồi
quy đa biến [12]. Phương trình hồi quy tuyến
tính đa biến xây dựng có dạng:
Nuôi cá lồng tại các hộ gia đình là hình thức
sản xuất chủ yếu tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình
hiện nay. Năm 2016, số hộ nuôi cá lồng là 1905
hộ, số lượng tăng dần qua các năm và đạt 2723
hộ vào năm 2019 (tăng 1,43 lần). Doanh nghiệp
nuôi chiếm tỷ lệ nhỏ (Bảng 2).
Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 +ζ (2)
Trong đó:
Bảng 2. Các hình thức tổ chức sản xuất ở vùng hồ thủy điện Hòa Bình
Năm
Hộ gia đình
2016
1905
2017
2453
2018
2560
2019
2723
11
Doanh nghiệp
Hợp tác xã
Trang trại
5
2
7
2
8
2
2
11
10
13
12
Nguồn: Chi cục Thủy sản tỉnh Hoà Bình [1]
Năng suất và sản lượng nuôi cá lồng ở vùng
hồ thuỷ điện Hoà Bình tăng trong giai đoạn
2015-2020 (Bảng 3). Trong đó, từ 2015-2019,
tổng số lồng nuôi tăng 51,2% (từ 2293 lên 4700
lồng); năm 2020 số lượng lồng nuôi không thay
đổi.
Bảng 3. Số lượng lồng, năng suất và sản lượng nuôi cá lồng ở vùng hồ thủy điện Hoà Bình
Năm
2015
2293
0,85
2016
3482
0,92
2017
3890
0,83
2018
4500
0,85
2019
4700
0,9
2020
4700
1,0
Tổng số lồng nuôi (lồng)
Năng suất (tấn/lồng)
Sản lượng (tấn)
1949
3203
3217
3820
4210
4830
Nguồn: Chi cục Thuỷ sản tỉnh Hoà Bình [1]
74
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …
Năng suất, sản lượng NTTS có xu hướng
tăng từ 0,85-1,0 tấn/lồng giai đoạn 2015-2020,
tốc độ tăng năng suất trung bình 1,5% (Hình 1).
Nguyên nhân là do có sự thay đổi đối tượng nuôi
(từ cá diêu hồng sang cá lăng) và nuôi theo
hướng thâm canh để cung cấp cá đặc sản cho thị
trường miền Bắc. Cũng theo số liệu phỏng vấn
cán bộ Chi cục Thuỷ sản tỉnh Hoà Bình, năng
suất nuôi cá lồng của doanh nghiệp cao hơn các
hộ nuôi (cụ thể năm 2018 năng suất nuôi cá lồng
của doanh nghiệp đạt 50-60kg/m3; của hộ nuôi
thấp hơn rất nhiều khoảng từ 11-13 kg/m3).
5000
4000
3000
2000
1000
0
1.2
1
0.8
0.6
0.4
0.2
0
2015
2016
2017
2018
2019
2020
Số lồng nuôi
Năng suất
Hình 1. Số lượng lồng và năng suất nuôi cá lồng qua các năm
Kết quả điều tra bảng hỏi của 135 hộ dân tại
khoảng 50 - 1560 m2 và trung bình diện tích nuôi
cá lồng của 135 hộ điều tra là 327,72 m2/hộ. Thể
tích lồng nuôi dao động từ 10-120 m3/lồng. Kết
quả điều tra thực tế cũng phù hợp với số liệu
thống kê từ Chi cục thuỷ sản tỉnh Hoà Bình,
trong đó số lượng lồng nuôi cá trắm (gồm cả
trắm đen, trắm cỏ) là 1801 lồng, đạt sản lượng
1266,3 tấn vào năm 2019 là lớn nhất trong sự so
sánh với các loài cá khác.
thành phố Hòa Bình và huyện Đà Bắc cho thấy,
chủ hộ nuôi chủ yếu là nam giới (124/135)
chiếm 91,8%, chủ hộ nuôi là nữ giới (11/135)
chỉ chiếm 8,2%. Độ tuổi của chủ hộ dưới 30 tuổi
là 16/135 người chiếm 11,8%, độ tuổi từ 30-50
là 101/135 người chiếm 75% và trên 50 tuổi là
18/135 người chiếm 13,2%. Kinh nghiệm nuôi
của các hộ dân khảo sát chủ yếu dưới 5 năm,
trong đó dưới 3 năm có 52/135 người chiếm
38,5%, từ 3 đến 5 năm có 52/135 người chiếm
38,5% và trên 5 năm có 31/135 người chiếm
23%. Số lượng lồng trung bình là 9,86 lồng/hộ.
Đối tượng nuôi khá đa dạng (nhưng chủ yếu là
cá trắm chiếm tỉ lệ lớn nhất, sau đó lần lượt là cá
lăng, cá diêu hồng, cá rô phi, cá chép, cá nheo,
cá chiên và cá trê; một số loài cá như lăng, trắm,
chiên một vụ nuôi thường kéo dài từ một đến hai
năm). Diện tích nuôi cá lồng dao động trong
Kết quả điều tra cũng cho thấy, thời điểm thả
giống thường vào các tháng 2, 3, 7-10, cá biệt có
hộ thả giống bất kỳ thời điểm nào trong năm. Tỷ
lệ sống của cá giống thường trên 60%. Thời gian
một vụ thường kéo dài trong khoảng 6 tháng, 12
tháng và từ một đến hai năm (trong đó, tỉ lệ hộ
nuôi một vụ trong vòng 6 tháng chiếm 26,67%;
12 tháng chiếm 33,33%; từ 1-2 năm chiếm
40%). Hầu hết các hộ nuôi được phỏng vấn cho
biết trong quá trình nuôi có xảy ra dịch bệnh
75
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
(thời điểm hay xảy ra dịch bệnh là từ tháng 5 -
3.2.1. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo
với hệ số Cronbach’s Alpha
10), các biểu hiện bệnh thường gặp là nấm, thối
mang, đốm đỏ, chóc vảy. Vì vậy, cách phòng
bệnh và trị bệnh cho cá rất quan trọng giúp khắc
phục được suy giảm sản lượng do dịch bệnh gây ra.
3.2. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến
hoạt động nuôi cá lồng
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo với hệ
số Cronbach’s Alpha cho thấy, 5 nhân tố có hệ
số Cronbach’s Alpha nằm trong khoảng từ 0,711
đến 0,820. Hệ số tương quan biến tổng của các
biến thành phần đều lớn hơn 0,40 (Bảng 4).
Bảng 4. Bảng giá trị Cronbach's Alpha của các biến
Kí hiệu
MT
KT
Nhân tố
Điều kiện môi trường
Kỹ thuật nuôi
Số lượng biến thành phần
Hệ số Cronbach’s Alpha
3
4
3
3
4
0,807
0,711
0,719
0,741
0,820
CG
Con giống
CP
Chi phí sản xuất
Chính sách hỗ trợ
CS
phân tích các nhân tố là thích hợp với dữ liệu
thực tế.
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng
Ngọc (2005), hệ số Cronbach’s Alpha > 0,80 là
thang đo lường tốt, từ 0,70 – 0,80 là sử dụng
được; chọn các biến thành phần có hệ số tương
quan biến tổng lớn hơn 0,40 [12]. Do đó, nghiên
cứu quyết định không loại biến quan sát nào và
thang đo phù hợp sử dụng cho phân tích EFA
tiếp theo.
Giá trị Sig trong kiểm định Bartlett là 0,000
< 0,05 (bác bỏ giả H0 là “các biến không tương
quan với nhau”), chứng tỏ các biến thành phần
có mối tương quan với nhau trong tổng thể và
việc áp dụng phân tích nhân tố là thích hợp.
Theo kết quả, hệ số Eigenvalues của cả 5
nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng
đều lớn hơn 1 và tổng phương sai trích =
68,640% > 50% nên đạt yêu cầu.
3.2.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá
EFA
Thông qua phân tích nhân tố khám phá nhằm
xác định mối quan hệ của nhiều biến và tìm ra
nhân tố đại diện cho các biến thành phần. Kết
quả phân tích EFA sử dụng phép trích nhân tố là
Principal Component với phép quay vuông góc
Varimax và điểm dừng khi trích các yếu tố có
Eigenvalue lớn hơn hoặc bằng 1 [12].
Với cỡ mẫu là 135 thì tiêu chuẩn hệ số tải
thường lấy là 0,5 [13]. Kết quả phân tích cho
thấy, biến KT1 có hệ số tải Factor Loading là
0,496 (không thỏa mãn điều kiện ≥ 0,5), do vậy
biến KT1 được loại bỏ.
Sau khi biến KT1 được loại bỏ, còn lại 16
biến thành phần, tiến hành phân tích nhân tố
khám phá tương tự như các bước nêu trên. Kết
quả thu được, hệ số KMO = 0,574 (thỏa mãn
điều kiện 0,5 ≤ KMO ≤ 1). Giá trị Sig trong kiểm
định Bartlett là 0,000 < 0,05, chứng tỏ các biến
Kết quả kiểm định tương quan của các biến
với nhau theo tổng thể dựa vào hệ số KMO và
kiểm định Bartlett cho thấy, trị số KMO = 0,578
thỏa mãn điều kiện 0,5 ≤ KMO ≤ 1 nên việc
76
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …
thành phần có mối tương quan với nhau trong
tổng thể và việc áp dụng phân tích nhân tố là
thích hợp.
50%) nên đạt yêu cầu. Kết quả kiểm định Factor
Loading sau khi loại bỏ biến KT1 cho thấy, các
biến thành phần đều lớn hơn 0,60 nên đạt yêu
cầu. Như vậy, 16 biến thành phần của 5 biến độc
lập được đưa vào phân tích ở bước tiếp theo
(Bảng 5).
Kết quả hệ số Eigenvalues của cả 5 nhân tố
ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng đều lớn
hơn 1 và tổng phương sai trích bằng 70,176% (>
Bảng 5. Phân tích nhân tố khám phá EFA biến độc lập
Các nhân tố tác động
Biến thành phần
CS
MT
CP
KT
CG
CS1
0,823
0,819
0,803
0,775
CS4
CS3
CS2
MT1
0,902
0,836
0,814
MT3
MT2
CP1
0,860
0,828
0,734
CP2
CP3
KT2
0,850
0,762
0,721
KT3
KT4
CG2
0,883
0,771
0,751
1,810
70,176
CG1
CG3
Eigenvalue
Phương sai trích (%)
2,954
2,481
2,132
1,851
18,463
33,968
47,295
58,865
3.2.3. Kết quả phân tích hồi quy đa biến
nhiên, kết quả phân tích cho thấy, một số hệ số
tương quan giữa các biến độc lập khá mạnh, do
đó cần quan tâm đến hiện tượng đa cộng tuyến
khi phân tích hồi quy đa biến.
Bước đầu tiên khi tiến hành phân tích hồi quy
là xem xét các mối tương quan tuyến tính giữa
biến phụ thuộc và từng biến độc lập, cũng như
giữa các biến độc lập với nhau. Kết quả cho
thấy, các biến độc lập có tương quan với biến
phụ thuộc khá mạnh, các hệ số tương quan có ý
nghĩa thống kê (Sig. < 0,05). Như vậy, nghiên
cứu tiếp tục tiến hành phân tích hồi quy. Tuy
Phân tích hồi quy được thực hiện với một
biến phụ thuộc là Sự hài lòng của hộ nuôi về
năng suất nuôi cá lồng với 5 biến độc lập được
thể hiện ở Bảng 6.
77
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
Bảng 6. Phân tích trọng số hồi quy
Trọng số hồi quy
Hệ số chưa chuẩn hóa
Hệ số chuẩn hóa
Mô hình
t
Sig.
B
Sai số chuẩn
0,675
Beta
Hằng số
Điều kiện môi trường
Kỹ thuật nuôi
-3,579
0,346
0,239
0,174
0,478
0,478
-5,299
5,043
3,421
2,863
8,421
5,602
0,000
0,000
0,001
0,005
0,000
0,000
0,069
0,349
0,234
0,198
0,582
0,387
0,070
Con giống
0,061
Chi phí nuôi
0,057
Chính sách hỗ trợ
0,085
R2 = 0,608; R2 hiệu chỉnh = 0,585; F = 26,059; Sig. F = 0,000
Kết quả hệ số xác định R2 = 0,608 và R2 hiệu
chỉnh = 0,585 (Bảng 4) cho thấy, khoảng 58,5%
ảnh hưởng của các nhân tố đang xét đến hoạt
động nuôi cá lồng, còn lại 41,5% ảnh hưởng của
các yếu tố khác ngoài mô hình.
thấy biến này có tác động lớn nhất đến hoạt động
nuôi cá lồng, cụ thể: nếu tăng chi phí sản xuất
thêm 1 điểm (trong khi các biến khác vẫn giữ
nguyên), thì hiệu quả hoạt động nuôi cá lồng
tăng lên 0,582 điểm. Vì vậy, các cấp chính
quyền cần có các chính sách hỗ trợ đầu tư về vốn
cho các hộ dân nuôi cá lồng góp phần tăng hiệu
quả của hoạt động nuôi cá lồng.
Kiểm định F cho thấy mức ý nghĩa Sig =
0,000, đồng thời trong kiểm tra đa cộng tuyến hệ
số VIF của biến độc lập đều nhỏ hơn 2 (nghĩa là
không có hiện tượng đa cộng tuyến). Các biến
độc lập được đưa vào mô hình hồi quy đều có
giá trị Sig. < 0,05 bao gồm MT (0,000), KT
(0,001), CG (0,005), CP (0,000), CS (0,000).
Phương trình hồi quy đa biến được xây dựng có
dạng như sau:
Chính sách hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng
cũng ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng với
hệ số hồi quy bằng 0,387 và mức ý nghĩa là
0,000 < 0,05%. Điều này cho thấy, các dự án đầu
tư phát triển, tập huấn, chính sách hỗ trợ vốn và
nghiên cứu con giống đều góp phần tích cực vào
kết quả của hoạt động nuôi cá lồng.
Y = 0,582X4 + 0,387X5 + 0,349X1
+ 0,234X2 + 0,198X3
(3)
Điều kiện môi trường cũng là nhân tố tác
động khá mạnh đến hoạt động nuôi cá lồng với
hệ số hồi quy là 0,349 và mức ý nghĩa là 0,000
(< 0,05). Theo kết quả đánh giá của Viện Kinh
tế và Quy hoạch Thủy sản (2019) [14], trong 6
Phân tích hồi quy chỉ ra các hệ số của mô hình
đều mang dấu dương (mối quan hệ thuận giữa
các biến độc lập và biến phụ thuộc). Điều này
cho thấy, cải thiện bất kỳ nhân tố nào cũng đều
góp phần tích cực vào hiệu quả hoạt động nuôi
cá lồng.
-
-
thông số quan trắc (nhiệt độ, pH, NO3 , NO2 ,
+
NH4 , DO) đo tại 30 điểm trên hồ thủy điện Hòa
Bình thì thông số DO ở tầng giữa và tầng đáy tại
các điểm đo đều < 4 mg/l (thấp hơn tiêu chuẩn
Chi phí sản xuất có hệ số hồi quy lớn nhất
(0,582) với mức ý nghĩa là 0,000 < 0,05, cho
78
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …
là 6 mg/l), do vậy không phù hợp cho các loài
sinh vật thủy sinh. Ở vùng hồ thuỷ điện Hoà
Bình, cá được nuôi ở độ sâu đến 10m. Theo số
liệu quan trắc thì cá sống ở độ sâu này sẽ bị thiếu
oxy, vì vậy người nuôi phải lắp thêm máy sục
khí ở các lồng cá để tăng hàm lượng ôxy hoà tan
trong nước cho cá.
nuôi, Con giống, Chi phí sản xuất, Chính sách
hỗ trợ) và 17 biến thành phần tương ứng ảnh
hưởng tới hoạt động nuôi cá lồng ở vùng hồ thuỷ
điện Hoà Bình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhân tố Chi phí
sản xuất có ảnh hưởng mạnh nhất, nhân tố Con
giống ít ảnh hưởng nhất đến hoạt động nuôi cá
lồng. Khoảng 58,5% ảnh hưởng của các nhân tố
đang xét đến hoạt động nuôi cá lồng, còn lại
41,5% là do ảnh hưởng của các yếu tố khác
ngoài mô hình. Vì vậy, hướng nghiên cứu tiếp
theo có thể xem xét bổ sung thêm với nhiều biến
thành phần khác vào mô hình đánh giá. Đây là
một hướng đi có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động nuôi cá
lồng ở vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình.
Nhân tố kỹ thuật nuôi tác động đáng kể đến
hoạt động nuôi cá lồng với hệ số hồi quy là 0,234
với mức ý nghĩa là 0,001 (< 0,05). Hiện nay diện
tích nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến
chiếm tỷ lệ rất lớn, chưa sử dụng nhiều lao động
có trình độ và tay nghề cao, hiệu quả sử dụng lao
động chưa cao. Vì vậy, trong thời gian tới cần
có thêm các giải pháp khuyến khích các hộ có
điều kiện chuyển sang nuôi thâm canh và bán
thâm canh (ưu tiên hỗ trợ phát triển cơ sở hạ
tầng, vay vốn, tập huấn đào tạo kỹ thuật cho
người dân...).
Dựa trên kết quả đạt được, nghiên cứu đề
xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt
động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hòa
Bình bao gồm:
Con giống là nhân tố tác động đáng kể đến
hoạt động nuôi cá lồng với hệ số hồi quy là 0,198
và mức ý nghĩa là 0,005 (< 0,05). Toàn tỉnh Hòa
Bình hiện có 03 cơ sở sản xuất và ươm nuôi cá
giống, các cơ sở chủ yếu cho sinh sản nhân tạo
và ươm nuôi các giống cá (trắm cỏ, chép, mè,
trôi, rô phi, lăng chấm, trắm đen...), chỉ đáp ứng
được khoảng 60% nhu cầu con giống, còn lại
chủ yếu được nhập từ các tỉnh lân cận như Phú
Thọ, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Nguyên, Thanh
Hóa, Hà Nội [1]. Vì vậy, cần kiểm soát chất
lượng con giống đầu vào được nhập từ các nơi
khác và đồng thời sản xuất cá giống đảm bảo
cung cấp nguồn cá giống chất lượng cho sản
xuất, góp phần nâng cao năng suất, giá trị và
chất lượng sản phẩm.
- Các cấp chính quyền cần tăng cường nâng
cao kỹ thuật nuôi cá lồng cho các hộ dân (thông
qua tập huấn, các dự án đầu tư hợp tác phát triển
nuôi cá lồng giữa doanh nghiệp và các hộ dân).
- Phát triển các chính sách hỗ trợ, đầu tư chi
phí cho hoạt động nuôi cá lồng (bằng cách cho
vay vốn đầu tư, hỗ trợ chi phí lắp đặt lồng nuôi,
con giống và nguồn thức ăn).
- Định kỳ tiến hành đo đạc một số thông số
môi trường nước như pH, nhiệt độ, DO... thường
xuyên vệ sinh lồng nuôi, lắp đặt thiết bị máy sục
khí để tăng hàm lượng oxy hoà tan trong nước...
- Đầu tư phát triển nghiên cứu các giống cá
phù hợp với điều kiện tại địa phương, đảm bảo
chế độ ăn và phòng ngừa dịch bệnh, kịp thời báo
cho cơ quan chuyên môn tư vấn, hỗ trợ khi có
các tình huống bất thường để giảm thiểu thiệt
hại.
4. Kết luận
Dựa trên cơ sở lý thuyết hàm sản xuất của
Cobb-Douglas, nghiên cứu đã xây dựng được 5
nhân tố chính (Điều kiện môi trường, Kỹ thuật
79
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.
Chi cục Thủy sản tỉnh Hò a Bì nh (2016, 2017, 2018, 2019), Bá o cá o Tổng kết thực hiện kế hoạch năm 2016, 2017,
2018, 2019 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2017, 2018, 2019, 2020.
Tỉnh ủy Hò a Bì nh (2014), Nghị quyết số 12 – NQ/TU của Ban thường vụ tỉnh ủy về phá t triển nuô i cá lồng, bè hồ thủy
điện Hòa Bình, giai đoạn 2014 – 2020.
Lưu Thị Thảo (2019), Cá c nhâ n tố ảnh hưởng đến năng suất cá lồng tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hò a Bì nh, Tạp chí Khoa
học – Cô ng nghệ Thủy sản, 1, tr. 73 – 80.
Lưu Thị Thảo, Lê Đình Hải (2019), Phá t triển nghề nuô i cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hoà Bì nh, tỉnh Hoà Bì nh, Tạp
chí khoa học và cô ng nghệ Lâ m nghiệp. Kinh tế và chí nh sá ch. 3, 191-2000.
Rohasliney Hashimab & Noor Fakira Ismaila. (2015), Fish biomass in relation to water quality index as an indication
of fisheries productivity of four selected fish species along the Galas River, Kelantan, Malaysia, Procedia
Environmental Sciences, 30, pp. 38 – 43.
6.
7.
8.
9.
Ronald D. Zweig, John D. Morton, Macol M. Stewart. (1999), Source Water Quality for Aquaculture: A Guide for
Assessment, Washington, D.C: The World Bank.
Islam, S., Rasul, T., Alam, J. B., & Haque, M. A. (2010), Evaluation of Water Quality of the Titas River Using NSF
Water Quality Index, Journal of Scientific Research, 3(1), pp. 151 – 159, doi:10.3329/jsr.v3i1.6170.
David E. Antwi, John K.M. Kuwornu, Edward E. Onumah & Ram C. Bhujel (2016), Productivity and constrants analysis
of commercial tilapia farms in Ghana, Kasetsart Journal of Social Sciences, 38(3), pp.282 – 290.
Hoàng Quang Thành & Nguyễn Đình Phúc (2012), Cá c yếu tố ảnh hưởng đến năng suất nuô i tô m ở huyện Tuy
Phước, tỉnh Bình Định, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, 72B(3), tr. 317 – 324.
10. Tabachnick Barbara G và Fidell Linda S (1996), Using multivariate statistics , Northridge, Cal.: Harper Collins.
11. Hair Joseph F, Anderson RE, Tatham RL, và Black WC (1998), Multivariate Data Analysis Prentice Hall, Upper Saddle
River, NJ, số 730.
12. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phâ n tí ch dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Hồng Đức 2008.
13. Hair Joseph F, Anderson Rolph E, Babin Barry J, và Black Wiiliam C (2010), Multivariate data analysis: A global
perspective (Vol. 7), Upper Saddle River, NJ: Pearson.
14. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản (2019), Đánh giá hiện trạng môi trường và sức tải mô i trường ở hồ chứa thuỷ
điện Hoà Bì nh, Báo cáo chuyên đề.
Thô ng tin tá c giả:
Phạm Thị Thu Hà - Trường Đại học Khoa học tự nhiên,
Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Nhật ký tò a soạn
Ngày nhận bài: 23/3/2021
Biên tập: 5/2021
Địa chỉ liên hệ: 334 Nguyễn Trã i, Thanh Xuâ n, Hanoi.
Phan Thị Ngọc Diệp, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản.
80
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_nhan_to_anh_huong_den_hoat_dong_nuoi_ca_long_tai_v.pdf

