Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình

PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG  
NUÔI CÁ LỒNG TẠI VÙNG HỒ THUỶ ĐIỆN HOÀ BÌNH  
PHẠM THỊ THU HÀ,  
PHAN THỊ NGỌC DIỆP  
Tóm tắt: Hồ thuỷ điện Hòa Bình có diện tích mặt nước lớn nên có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi  
trồng thủy sản, đặc biệt là phát triển nghề nuôi cá lồng. Nghiên cứu phân tích nhân tố ảnh hưởng đến  
hoạt động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình dựa trên việc phân tích thang  
đo xây dựng với 5 biến độc lập (điều kiện môi trường (MT), kỹ thuật nuôi (KT), chi phí sản xuất  
(CP), con giống (CG), chính sách hỗ trợ (CS)) và 17 biến thành phần. Kết quả nghiên cứu cho thấy,  
biến CP có hệ số beta chuẩn hóa cao nhất (0,582) và có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất nuôi cá  
lồng, tiếp theo là các biến CS (0,387), MT (0,349), KT (0,234), (CG) (0,198). Nghiên cứu cũng đưa  
ra một số giải pháp liên quan đến kỹ thuật và chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động nuôi cá lồng  
tại vùng hồ thuỷ điện Hòa Bình.  
Từ khoá: Nhân tố, vùng hồ thuỷ điện Hòa Bình, năng suất nuôi cá lồng.  
ANALYSIS OF FACTORS AFFECTING  
CAGE FISH FARMING IN HOA BINH HYDROPOWER RESERVOIR  
Abstract: Hoa Binh hydropower reservoir has a large water surface area, so it has great potential for  
aquaculture development, especially cage fish farming. Research of the factors affecting cage fish  
farming in Hoa Binh hydropower reservoir, Hoa Binh province, was conducted in this study and was  
based on the analysis of construction scale using 5 independent variables, namely environmental  
conditions (EC), technical farming (TF), production costs (PC), breeding stock (BS), support policy  
(SP), and 17 component variables. The variable PC were found to have the highest normalized beta  
coefficient (0.582) and the greatest influence on cage fish productivity, followed by SP(0.387), EC  
(0.349), SP (0.387), TF (0.234), BS (0.198). The study also suggested some solutions related to  
techniques and policy planning to improve the efficiency of cage fish farming in Hoa Binh  
hydropower reservoir.  
Keywords: Factor, Hoa Binh hydropower reservoir area, cage fish farming productivity.  
1. Đặt vấn đề  
2020, tổng số lồng nuôi trên vùng hồ thủy điện  
Hòa Bình (thuộc tỉnh Hòa Bình) là 4.700 lồng,  
sản lượng 4.600 tấn [1], số loài nuôi phong phú  
bao gồm cả loài bản địa (trắm cỏ, trắm đen,  
chép, rô phi….) và loài nhập nội (diêu hồng,  
tầm, lăng).  
Hồ thủy điện Hòa Bình có tổng diện tích mặt  
nước là 16.800 ha, trong đó địa phận Hòa Bình  
diện tích khoảng 8.900 ha, có tiềm năng rất lớn để  
phát triển nuôi trồng thuỷ sản [1]. Với những lợi  
thế về điều kiện tự nhiên, thời gian qua hoạt  
động nuôi thủy sản trên vùng hồ thủy điện Hòa  
Bình rất phát triển, đặc biệt là hoạt động nuôi cá  
lồng bè [2]. Tính đến thời điểm tháng 12 năm  
Tuy nhiên, khó khăn trong phát triển nghề  
nuôi cá lồng ở vùng hồ Hoà Bình là nuôi nhỏ lẻ,  
phân tán, chưa có vùng nuôi tập trung được đầu  
71  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
tư đồng bộ. Hình thức nuôi quảng canh và quảng  
A: hằng số; ui: sai số; e: cơ số toán học (e =  
2,71828).  
canh cải tiến là chủ yếu (chiếm 80%). Giá vật tư,  
con giống biến động, thị trường tiêu thụ bấp  
bênh. Bên cạnh đó, hoạt động nuôi cá lồng còn  
chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác như nguồn  
nhân lực, điều kiện khí hậu, chất lượng nước, cơ  
chế chính sách hỗ trợ...  
Ứng dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-  
Douglas, nghiên cứu của M. Serajul Islam  
(1987) đã lựa chọn các nhân tố (giống cá, thức  
ăn tự nhiên và thức ăn nhân tạo, số người lao  
động, quy mô trang trại, tuổi của ao nuôi, độ sâu  
của nước và số lượng chủ nuôi) để đánh giá [7];  
nghiên cứu của David E. Antwi (2016) sử dụng  
các nhân tố (trọng lượng cá giống, khối lượng  
thức ăn, kích thước lồng, lao động và các biến  
giả như tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm nuôi,  
tuổi, số lượt thăm trang trại, trình độ học vấn) để  
đánh giá [8].  
Một số nghiên cứu của các tác giả trong nước  
chỉ ra các nhân tố thành phần ảnh hưởng đến  
năng suất nuôi cá lồng (như chi phí thức ăn, chi  
phí lao động, trình độ học vấn, khoảng cách giữa  
các lồng, tập huấn nuôi trồng) [3, 4]. Tuy nhiên,  
các nhân tố quan trọng khác như điều kiện môi  
trường nuôi, yếu tố khí hậu... chưa được đưa vào  
đánh giá. Chất lượng nước đã được chứng minh  
là đóng vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng,  
phát triển của cá [5].  
Hàm sản xuất Cobb-Douglas cũng được  
nhiều tác giả trong nước sử dụng để phân tích  
ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đến năng suất  
NTTS [3, 4, 9]. Các nhân tố được đưa vào đánh  
giá ảnh hưởng đến năng suất nuôi tôm như: mật  
độ thả giống, số lượng thức ăn công nghiệp, số  
lượng thức ăn tươi, số ngày công lao động, số  
năm kinh nghiệm nuôi và một số biến giả như  
hình thức nuôi (bán thâm canh và quảng canh  
cải tiến), kiểm dịch (giống được kiểm dịch và  
giống không được kiểm dịch), xử lý ao nuôi (có  
xử lý ao nuôi và ao nuôi không được xử lý) [9].  
Một nghiên cứu khác khi đánh giá các nhân tố  
ảnh hưởng đến năng suất nuôi cá lồng sử dụng 8  
biến (mật độ thả giống, kinh nghiệm nuôi, chi  
phí thức ăn, chi phí lao động, thể tích lồng nuôi,  
trình độ học vấn, khoảng cách giữa các lồng và  
tập huấn NTTS là biến giả) để đánh giá [4].  
Từ cơ sở lý thuyết mô hình hàm sản xuất  
Cobb-Douglas, nghiên cứu này xây dựng 5 nhân  
tố chính có ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá  
lồng bao gồm: Điều kiện môi trường (MT), Kỹ  
thuật nuôi (KT), Con giống (CG), Chi phí sản  
xuất (CP), Chính sách hỗ trợ (CS) và 17 biến  
thành phần tương ứng với các nhân tố. Các nhân  
tố và các biến thành phần ảnh hưởng đến hoạt  
động nuôi cá lồng được thể hiện ở Bảng 1.  
Trong nghiên cứu này, nhân tố Điều kiện môi  
trường và Con giống đã được đề xuất đưa vào  
đánh giá. Một số biến thành phần khác cũng  
được xem xét đánh giá (như chi phí lắp đặt lồng  
nuôi, các chương trình, dự án phát triển của địa  
phương...). Nghiên cứu thực hiện điều tra các hộ  
nuôi cá lồng ở thành phố Hoà Bình và huyện Đà  
Bắc. Đây là các khu vực thể hiện được đặc trưng  
về nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) của vùng hồ thủy  
điện Hòa Bình.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên  
cứu  
2.1. Cơ sở lý thuyết và mô hình đề xuất  
Mô hình hàm sản xuất của Cobb-Douglas  
được sử dụng phổ biến để đánh giá các nhân tố  
ảnh hưởng đến năng suất NTTS. Hàm sản xuất  
Cobb-Douglas mô tả mối quan hệ giữa các yếu  
tố đầu vào và sản lượng đầu ra theo công thức  
như sau [6]:  
α
1
α
2
α
푘
푘
1
2
푌 = 퐴 푋 푋 … 푋 푒푢 (1)  
푖
푖
Trong đó: Yi: biến phụ thuộc; Xi (i = 1, 2...  
k): biến độc lập; αi (i = 1, 2… k): hệ số hồi quy;  
72  
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …  
Bảng 1. Nhân tố và các biến thành phần ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng  
Nhân tố/ Thang đo  
Biến thành phần  
Nồng độ Oxy hòa tan trong nước (DO)  
Ký hiệu  
MT1  
MT2  
MT3  
KT1  
MT  
Biến động thời tiết: bão, lũ, mưa nhiều, giá rét, …  
Nhiệt độ nước  
Mật độ thả con giống  
Kinh nghiệm nuôi  
KT2  
KT  
Thức ăn và chế độ ăn  
KT3  
Phòng trị bệnh cho cá  
KT4  
Nguồn gốc cá giống  
CG1  
CG2  
CG3  
CP1  
CP2  
CP3  
CS1  
CG  
CP  
Chất lượng con giống  
Kích cỡ con giống  
Chi phí đầu tư lắp đặt lồng nuôi  
Chi phí mua giống cá  
Chi phí thức ăn  
Mở lớp tập huấn nâng cao kiến thức NTTS  
Chính sách hỗ trợ đầu tư cho các hộ dân vay vốn phát triển NTTS  
Các chương trình dự án phát triển NTTS của địa phương, tỉnh  
CS2  
CS  
CS3  
Nghiên cứu phát triển các giống thủy sản và nâng cao chất lượng con giống cho  
NTTS  
CS4  
Như vậy, mô hình nghiên cứu đề xuất được  
thể hiện như sau: Hoạt động nuôi cá lồng (phản  
ảnh thông qua sự hài lòng của người nuôi về  
năng suất nuôi cá lồng) = f (Điều kiện môi  
trường, Kỹ thuật nuôi, Con giống, Chi phí sản  
xuất, Chính sách hỗ trợ).  
NN&PTNT các huyện; cơ sở, doanh nghiệp  
kinh doanh nuôi thủy sản trong vùng; phỏng vấn  
bằng bảng hỏi đối với các hộ dân tham gia trực  
tiếp vào hoạt động nuôi cá lồng trên địa bàn  
nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu  
nhiên.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Bảng hỏi được xây dựng bao gồm hai phần:  
2.2.1. Phương pháp thu thập thông tin, số  
liệu  
- Phần 1: thu thập thông tin chung (số lao  
động, kinh nghiệm nuôi, đối tượng nuôi, kích  
thước lồng, mật độ thả, tỷ lệ sống, năng suất…).  
- Phần 2: thu thập ý kiến đánh giá với 5 biến  
độc lập và 17 biến thành phần.  
Các số liệu thứ cấp được thu thập từ các  
nguồn có sẵn đã được công bố, số liệu của Tổng  
cục Thống kê, các tài liệu liên quan từ các cơ  
quan, ban ngành của tỉnh Hòa Bình nhằm đánh  
giá được hoạt động nuôi cá lồng trong vùng hồ  
thuỷ điện Hoà Bình.  
Biến phụ thuộc là hoạt động nuôi cá lồng.  
Các biến độc lập và biến phụ thuộc được đánh  
giá theo thang đo Likert 5 điểm (1: Hoàn toàn  
không hài lòng; 2: Không hài lòng; 3: Bình  
thường; 4: Hài lòng; 5: Rất hài lòng).  
Số liệu sơ cấp đạt được thông qua điều tra,  
khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp các cán bộ Sở  
NN&PTNT Hòa Bình, Chi cục Thuỷ sản, phòng  
73  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
Lựa chọn 2 địa điểm nghiên cứu là thành phố  
Y (Biến phụ thuộc): Hoạt động nuôi cá lồng  
của người dân được đo bằng Sự hài lòng của  
người nuôi về năng suất nuôi cá lồng;  
X1-5 (Biến độc lập): X1: Điều kiện môi  
trường; X2: Kỹ thuật nuôi; X3: Con giống; X4:  
Chi phí sản xuất; X5: Chính sách hỗ trợ phát  
triển nuôi cá lồng;  
Hòa Bình và huyện Đà Bắc để tiến hành điều tra  
phỏng vấn bảng hỏi (thực hiện trong năm 2020).  
Dung lượng mẫu điều tra được xác định tham  
khảo theo nguyên tắc chọn mẫu của Tabachnick  
& Fidell (1996) [10], Hair & cộng sự (1998)  
[11]. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã lựa chọn số  
mẫu điều tra là 135 (thành phố Hoà Bình 75  
mẫu, huyện Đà Bắc 60 mẫu).  
ζ: Sai số của mô hình;  
β: Hệ số beta chuẩn hóa của biến độc lập.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Hoạt động nuôi cá lồng tại khu vực hồ  
thủy điện Hòa Bình  
2.2.2. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu  
Số liệu thu thập được từ bảng hỏi được nhập  
và xử lý trên phần mềm SPSS 20.0; theo các  
bước: tiến hành đo lường và kiểm định độ tin  
cậy Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám  
phá EFA, phân tích tương quan và phân tích hồi  
quy đa biến [12]. Phương trình hồi quy tuyến  
tính đa biến xây dựng có dạng:  
Nuôi cá lồng tại các hộ gia đình là hình thức  
sản xuất chủ yếu tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình  
hiện nay. Năm 2016, số hộ nuôi cá lồng là 1905  
hộ, số lượng tăng dần qua các năm và đạt 2723  
hộ vào năm 2019 (tăng 1,43 lần). Doanh nghiệp  
nuôi chiếm tỷ lệ nhỏ (Bảng 2).  
Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 +ζ (2)  
Trong đó:  
Bảng 2. Các hình thức tổ chức sản xuất ở vùng hồ thủy điện Hòa Bình  
Năm  
Hộ gia đình  
2016  
1905  
2017  
2453  
2018  
2560  
2019  
2723  
11  
Doanh nghiệp  
Hợp tác xã  
Trang trại  
5
2
7
2
8
2
2
11  
10  
13  
12  
Nguồn: Chi cục Thủy sản tỉnh Hoà Bình [1]  
Năng suất và sản lượng nuôi cá lồng ở vùng  
hồ thuỷ điện Hoà Bình tăng trong giai đoạn  
2015-2020 (Bảng 3). Trong đó, từ 2015-2019,  
tổng số lồng nuôi tăng 51,2% (từ 2293 lên 4700  
lồng); năm 2020 số lượng lồng nuôi không thay  
đổi.  
Bảng 3. Số lượng lồng, năng suất và sản lượng nuôi cá lồng ở vùng hồ thủy điện Hoà Bình  
Năm  
2015  
2293  
0,85  
2016  
3482  
0,92  
2017  
3890  
0,83  
2018  
4500  
0,85  
2019  
4700  
0,9  
2020  
4700  
1,0  
Tổng số lồng nuôi (lồng)  
Năng suất (tấn/lồng)  
Sản lượng (tấn)  
1949  
3203  
3217  
3820  
4210  
4830  
Nguồn: Chi cục Thuỷ sản tỉnh Hoà Bình [1]  
74  
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …  
Năng suất, sản lượng NTTS có xu hướng  
tăng từ 0,85-1,0 tấn/lồng giai đoạn 2015-2020,  
tốc độ tăng năng suất trung bình 1,5% (Hình 1).  
Nguyên nhân là do có sự thay đổi đối tượng nuôi  
(từ cá diêu hồng sang cá lăng) và nuôi theo  
hướng thâm canh để cung cấp cá đặc sản cho thị  
trường miền Bắc. Cũng theo số liệu phỏng vấn  
cán bộ Chi cục Thuỷ sản tỉnh Hoà Bình, năng  
suất nuôi cá lồng của doanh nghiệp cao hơn các  
hộ nuôi (cụ thể năm 2018 năng suất nuôi cá lồng  
của doanh nghiệp đạt 50-60kg/m3; của hộ nuôi  
thấp hơn rất nhiều khoảng từ 11-13 kg/m3).  
5000  
4000  
3000  
2000  
1000  
0
1.2  
1
0.8  
0.6  
0.4  
0.2  
0
2015  
2016  
2017  
2018  
2019  
2020  
Số lồng nuôi  
Năng suất  
Hình 1. Số lượng lồng và năng suất nuôi cá lồng qua các năm  
Kết quả điều tra bảng hỏi của 135 hộ dân tại  
khoảng 50 - 1560 m2 và trung bình diện tích nuôi  
cá lồng của 135 hộ điều tra là 327,72 m2/hộ. Thể  
tích lồng nuôi dao động từ 10-120 m3/lồng. Kết  
quả điều tra thực tế cũng phù hợp với số liệu  
thống kê từ Chi cục thuỷ sản tỉnh Hoà Bình,  
trong đó số lượng lồng nuôi cá trắm (gồm cả  
trắm đen, trắm cỏ) là 1801 lồng, đạt sản lượng  
1266,3 tấn vào năm 2019 là lớn nhất trong sự so  
sánh với các loài cá khác.  
thành phố Hòa Bình và huyện Đà Bắc cho thấy,  
chủ hộ nuôi chủ yếu là nam giới (124/135)  
chiếm 91,8%, chủ hộ nuôi là nữ giới (11/135)  
chỉ chiếm 8,2%. Độ tuổi của chủ hộ dưới 30 tuổi  
là 16/135 người chiếm 11,8%, độ tuổi từ 30-50  
là 101/135 người chiếm 75% và trên 50 tuổi là  
18/135 người chiếm 13,2%. Kinh nghiệm nuôi  
của các hộ dân khảo sát chủ yếu dưới 5 năm,  
trong đó dưới 3 năm có 52/135 người chiếm  
38,5%, từ 3 đến 5 năm có 52/135 người chiếm  
38,5% và trên 5 năm có 31/135 người chiếm  
23%. Số lượng lồng trung bình là 9,86 lồng/hộ.  
Đối tượng nuôi khá đa dạng (nhưng chủ yếu là  
cá trắm chiếm tỉ lệ lớn nhất, sau đó lần lượt là cá  
lăng, cá diêu hồng, cá rô phi, cá chép, cá nheo,  
cá chiên và cá trê; một số loài cá như lăng, trắm,  
chiên một vụ nuôi thường kéo dài từ một đến hai  
năm). Diện tích nuôi cá lồng dao động trong  
Kết quả điều tra cũng cho thấy, thời điểm thả  
giống thường vào các tháng 2, 3, 7-10, cá biệt có  
hộ thả giống bất kỳ thời điểm nào trong năm. Tỷ  
lệ sống của cá giống thường trên 60%. Thời gian  
một vụ thường kéo dài trong khoảng 6 tháng, 12  
tháng và từ một đến hai năm (trong đó, tỉ lệ hộ  
nuôi một vụ trong vòng 6 tháng chiếm 26,67%;  
12 tháng chiếm 33,33%; từ 1-2 năm chiếm  
40%). Hầu hết các hộ nuôi được phỏng vấn cho  
biết trong quá trình nuôi có xảy ra dịch bệnh  
75  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
(thời điểm hay xảy ra dịch bệnh là từ tháng 5 -  
3.2.1. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo  
với hệ số Cronbach’s Alpha  
10), các biểu hiện bệnh thường gặp là nấm, thối  
mang, đốm đỏ, chóc vảy. Vì vậy, cách phòng  
bệnh và trị bệnh cho cá rất quan trọng giúp khắc  
phục được suy giảm sản lượng do dịch bệnh gây ra.  
3.2. Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến  
hoạt động nuôi cá lồng  
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo với hệ  
số Cronbach’s Alpha cho thấy, 5 nhân tố có hệ  
số Cronbach’s Alpha nằm trong khoảng từ 0,711  
đến 0,820. Hệ số tương quan biến tổng của các  
biến thành phần đều lớn hơn 0,40 (Bảng 4).  
Bảng 4. Bảng giá trị Cronbach's Alpha của các biến  
Kí hiệu  
MT  
KT  
Nhân tố  
Điều kiện môi trường  
Kỹ thuật nuôi  
Số lượng biến thành phần  
Hệ số Cronbach’s Alpha  
3
4
3
3
4
0,807  
0,711  
0,719  
0,741  
0,820  
CG  
Con giống  
CP  
Chi phí sản xuất  
Chính sách hỗ trợ  
CS  
phân tích các nhân tố là thích hợp với dữ liệu  
thực tế.  
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng  
Ngọc (2005), hệ số Cronbach’s Alpha > 0,80 là  
thang đo lường tốt, từ 0,70 – 0,80 là sử dụng  
được; chọn các biến thành phần có hệ số tương  
quan biến tổng lớn hơn 0,40 [12]. Do đó, nghiên  
cứu quyết định không loại biến quan sát nào và  
thang đo phù hợp sử dụng cho phân tích EFA  
tiếp theo.  
Giá trị Sig trong kiểm định Bartlett là 0,000  
< 0,05 (bác bỏ giả H0 là “các biến không tương  
quan với nhau”), chứng tỏ các biến thành phần  
có mối tương quan với nhau trong tổng thể và  
việc áp dụng phân tích nhân tố là thích hợp.  
Theo kết quả, hệ số Eigenvalues của cả 5  
nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng  
đều lớn hơn 1 và tổng phương sai trích =  
68,640% > 50% nên đạt yêu cầu.  
3.2.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá  
EFA  
Thông qua phân tích nhân tố khám phá nhằm  
xác định mối quan hệ của nhiều biến và tìm ra  
nhân tố đại diện cho các biến thành phần. Kết  
quả phân tích EFA sử dụng phép trích nhân tố là  
Principal Component với phép quay vuông góc  
Varimax và điểm dừng khi trích các yếu tố có  
Eigenvalue lớn hơn hoặc bằng 1 [12].  
Với cỡ mẫu là 135 thì tiêu chuẩn hệ số tải  
thường lấy là 0,5 [13]. Kết quả phân tích cho  
thấy, biến KT1 có hệ số tải Factor Loading là  
0,496 (không thỏa mãn điều kiện ≥ 0,5), do vậy  
biến KT1 được loại bỏ.  
Sau khi biến KT1 được loại bỏ, còn lại 16  
biến thành phần, tiến hành phân tích nhân tố  
khám phá tương tự như các bước nêu trên. Kết  
quả thu được, hệ số KMO = 0,574 (thỏa mãn  
điều kiện 0,5 ≤ KMO ≤ 1). Giá trị Sig trong kiểm  
định Bartlett là 0,000 < 0,05, chứng tỏ các biến  
Kết quả kiểm định tương quan của các biến  
với nhau theo tổng thể dựa vào hệ số KMO và  
kiểm định Bartlett cho thấy, trị số KMO = 0,578  
thỏa mãn điều kiện 0,5 ≤ KMO ≤ 1 nên việc  
76  
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …  
thành phần có mối tương quan với nhau trong  
tổng thể và việc áp dụng phân tích nhân tố là  
thích hợp.  
50%) nên đạt yêu cầu. Kết quả kiểm định Factor  
Loading sau khi loại bỏ biến KT1 cho thấy, các  
biến thành phần đều lớn hơn 0,60 nên đạt yêu  
cầu. Như vậy, 16 biến thành phần của 5 biến độc  
lập được đưa vào phân tích ở bước tiếp theo  
(Bảng 5).  
Kết quả hệ số Eigenvalues của cả 5 nhân tố  
ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng đều lớn  
hơn 1 và tổng phương sai trích bằng 70,176% (>  
Bảng 5. Phân tích nhân tố khám phá EFA biến độc lập  
Các nhân tố tác động  
Biến thành phần  
CS  
MT  
CP  
KT  
CG  
CS1  
0,823  
0,819  
0,803  
0,775  
CS4  
CS3  
CS2  
MT1  
0,902  
0,836  
0,814  
MT3  
MT2  
CP1  
0,860  
0,828  
0,734  
CP2  
CP3  
KT2  
0,850  
0,762  
0,721  
KT3  
KT4  
CG2  
0,883  
0,771  
0,751  
1,810  
70,176  
CG1  
CG3  
Eigenvalue  
Phương sai trích (%)  
2,954  
2,481  
2,132  
1,851  
18,463  
33,968  
47,295  
58,865  
3.2.3. Kết quả phân tích hồi quy đa biến  
nhiên, kết quả phân tích cho thấy, một số hệ số  
tương quan giữa các biến độc lập khá mạnh, do  
đó cần quan tâm đến hiện tượng đa cộng tuyến  
khi phân tích hồi quy đa biến.  
Bước đầu tiên khi tiến hành phân tích hồi quy  
là xem xét các mối tương quan tuyến tính giữa  
biến phụ thuộc và từng biến độc lập, cũng như  
giữa các biến độc lập với nhau. Kết quả cho  
thấy, các biến độc lập có tương quan với biến  
phụ thuộc khá mạnh, các hệ số tương quan có ý  
nghĩa thống kê (Sig. < 0,05). Như vậy, nghiên  
cứu tiếp tục tiến hành phân tích hồi quy. Tuy  
Phân tích hồi quy được thực hiện với một  
biến phụ thuộc là Sự hài lòng của hộ nuôi về  
năng suất nuôi cá lồng với 5 biến độc lập được  
thể hiện ở Bảng 6.  
77  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
Bảng 6. Phân tích trọng số hồi quy  
Trọng số hồi quy  
Hệ số chưa chuẩn hóa  
Hệ số chuẩn hóa  
Mô hình  
t
Sig.  
B
Sai số chuẩn  
0,675  
Beta  
Hằng số  
Điều kiện môi trường  
Kỹ thuật nuôi  
-3,579  
0,346  
0,239  
0,174  
0,478  
0,478  
-5,299  
5,043  
3,421  
2,863  
8,421  
5,602  
0,000  
0,000  
0,001  
0,005  
0,000  
0,000  
0,069  
0,349  
0,234  
0,198  
0,582  
0,387  
0,070  
Con giống  
0,061  
Chi phí nuôi  
0,057  
Chính sách hỗ trợ  
0,085  
R2 = 0,608; R2 hiệu chỉnh = 0,585; F = 26,059; Sig. F = 0,000  
Kết quả hệ số xác định R2 = 0,608 và R2 hiệu  
chỉnh = 0,585 (Bảng 4) cho thấy, khoảng 58,5%  
ảnh hưởng của các nhân tố đang xét đến hoạt  
động nuôi cá lồng, còn lại 41,5% ảnh hưởng của  
các yếu tố khác ngoài mô hình.  
thấy biến này có tác động lớn nhất đến hoạt động  
nuôi cá lồng, cụ thể: nếu tăng chi phí sản xuất  
thêm 1 điểm (trong khi các biến khác vẫn giữ  
nguyên), thì hiệu quả hoạt động nuôi cá lồng  
tăng lên 0,582 điểm. Vì vậy, các cấp chính  
quyền cần có các chính sách hỗ trợ đầu tư về vốn  
cho các hộ dân nuôi cá lồng góp phần tăng hiệu  
quả của hoạt động nuôi cá lồng.  
Kiểm định F cho thấy mức ý nghĩa Sig =  
0,000, đồng thời trong kiểm tra đa cộng tuyến hệ  
số VIF của biến độc lập đều nhỏ hơn 2 (nghĩa là  
không có hiện tượng đa cộng tuyến). Các biến  
độc lập được đưa vào mô hình hồi quy đều có  
giá trị Sig. < 0,05 bao gồm MT (0,000), KT  
(0,001), CG (0,005), CP (0,000), CS (0,000).  
Phương trình hồi quy đa biến được xây dựng có  
dạng như sau:  
Chính sách hỗ trợ phát triển nuôi cá lồng  
cũng ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng với  
hệ số hồi quy bằng 0,387 và mức ý nghĩa là  
0,000 < 0,05%. Điều này cho thấy, các dự án đầu  
tư phát triển, tập huấn, chính sách hỗ trợ vốn và  
nghiên cứu con giống đều góp phần tích cực vào  
kết quả của hoạt động nuôi cá lồng.  
Y = 0,582X4 + 0,387X5 + 0,349X1  
+ 0,234X2 + 0,198X3  
(3)  
Điều kiện môi trường cũng là nhân tố tác  
động khá mạnh đến hoạt động nuôi cá lồng với  
hệ số hồi quy là 0,349 và mức ý nghĩa là 0,000  
(< 0,05). Theo kết quả đánh giá của Viện Kinh  
tế và Quy hoạch Thủy sản (2019) [14], trong 6  
Phân tích hồi quy chỉ ra các hệ số của mô hình  
đều mang dấu dương (mối quan hệ thuận giữa  
các biến độc lập và biến phụ thuộc). Điều này  
cho thấy, cải thiện bất kỳ nhân tố nào cũng đều  
góp phần tích cực vào hiệu quả hoạt động nuôi  
cá lồng.  
-
-
thông số quan trắc (nhiệt độ, pH, NO3 , NO2 ,  
+
NH4 , DO) đo tại 30 điểm trên hồ thủy điện Hòa  
Bình thì thông số DO ở tầng giữa và tầng đáy tại  
các điểm đo đều < 4 mg/l (thấp hơn tiêu chuẩn  
Chi phí sản xuất có hệ số hồi quy lớn nhất  
(0,582) với mức ý nghĩa là 0,000 < 0,05, cho  
78  
Phạm Thị Thu Hà, Phan Thị Ngọc Diệp - Phâ n tí ch nhâ n tố ảnh hưởng đến hoạt động …  
là 6 mg/l), do vậy không phù hợp cho các loài  
sinh vật thủy sinh. Ở vùng hồ thuỷ điện Hoà  
Bình, cá được nuôi ở độ sâu đến 10m. Theo số  
liệu quan trắc thì cá sống ở độ sâu này sẽ bị thiếu  
oxy, vì vậy người nuôi phải lắp thêm máy sục  
khí ở các lồng cá để tăng hàm lượng ôxy hoà tan  
trong nước cho cá.  
nuôi, Con giống, Chi phí sản xuất, Chính sách  
hỗ trợ) và 17 biến thành phần tương ứng ảnh  
hưởng tới hoạt động nuôi cá lồng ở vùng hồ thuỷ  
điện Hoà Bình.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhân tố Chi phí  
sản xuất có ảnh hưởng mạnh nhất, nhân tố Con  
giống ít ảnh hưởng nhất đến hoạt động nuôi cá  
lồng. Khoảng 58,5% ảnh hưởng của các nhân tố  
đang xét đến hoạt động nuôi cá lồng, còn lại  
41,5% là do ảnh hưởng của các yếu tố khác  
ngoài mô hình. Vì vậy, hướng nghiên cứu tiếp  
theo có thể xem xét bổ sung thêm với nhiều biến  
thành phần khác vào mô hình đánh giá. Đây là  
một hướng đi có ý nghĩa khoa học và thực tiễn  
nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động nuôi cá  
lồng ở vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình.  
Nhân tố kỹ thuật nuôi tác động đáng kể đến  
hoạt động nuôi cá lồng với hệ số hồi quy là 0,234  
với mức ý nghĩa là 0,001 (< 0,05). Hiện nay diện  
tích nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến  
chiếm tỷ lệ rất lớn, chưa sử dụng nhiều lao động  
có trình độ và tay nghề cao, hiệu quả sử dụng lao  
động chưa cao. Vì vậy, trong thời gian tới cần  
có thêm các giải pháp khuyến khích các hộ có  
điều kiện chuyển sang nuôi thâm canh và bán  
thâm canh (ưu tiên hỗ trợ phát triển cơ sở hạ  
tầng, vay vốn, tập huấn đào tạo kỹ thuật cho  
người dân...).  
Dựa trên kết quả đạt được, nghiên cứu đề  
xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt  
động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hòa  
Bình bao gồm:  
Con giống là nhân tố tác động đáng kể đến  
hoạt động nuôi cá lồng với hệ số hồi quy là 0,198  
và mức ý nghĩa là 0,005 (< 0,05). Toàn tỉnh Hòa  
Bình hiện có 03 cơ sở sản xuất và ươm nuôi cá  
giống, các cơ sở chủ yếu cho sinh sản nhân tạo  
và ươm nuôi các giống cá (trắm cỏ, chép, mè,  
trôi, rô phi, lăng chấm, trắm đen...), chỉ đáp ứng  
được khoảng 60% nhu cầu con giống, còn lại  
chủ yếu được nhập từ các tỉnh lân cận như Phú  
Thọ, Ninh Bình, Hà Nam, Thái Nguyên, Thanh  
Hóa, Hà Nội [1]. Vì vậy, cần kiểm soát chất  
lượng con giống đầu vào được nhập từ các nơi  
khác và đồng thời sản xuất cá giống đảm bảo  
cung cấp nguồn cá giống chất lượng cho sản  
xuất, góp phần nâng cao năng suất, giá trị và  
chất lượng sản phẩm.  
- Các cấp chính quyền cần tăng cường nâng  
cao kỹ thuật nuôi cá lồng cho các hộ dân (thông  
qua tập huấn, các dự án đầu tư hợp tác phát triển  
nuôi cá lồng giữa doanh nghiệp và các hộ dân).  
- Phát triển các chính sách hỗ trợ, đầu tư chi  
phí cho hoạt động nuôi cá lồng (bằng cách cho  
vay vốn đầu tư, hỗ trợ chi phí lắp đặt lồng nuôi,  
con giống và nguồn thức ăn).  
- Định kỳ tiến hành đo đạc một số thông số  
môi trường nước như pH, nhiệt độ, DO... thường  
xuyên vệ sinh lồng nuôi, lắp đặt thiết bị máy sục  
khí để tăng hàm lượng oxy hoà tan trong nước...  
- Đầu tư phát triển nghiên cứu các giống cá  
phù hợp với điều kiện tại địa phương, đảm bảo  
chế độ ăn và phòng ngừa dịch bệnh, kịp thời báo  
cho cơ quan chuyên môn tư vấn, hỗ trợ khi có  
các tình huống bất thường để giảm thiểu thiệt  
hại.  
4. Kết luận  
Dựa trên cơ sở lý thuyết hàm sản xuất của  
Cobb-Douglas, nghiên cứu đã xây dựng được 5  
nhân tố chính (Điều kiện môi trường, Kỹ thuật  
79  
Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 2(33) – Thá ng 6/2021  
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
2.  
3.  
4.  
5.  
Chi cục Thủy sản tỉnh Hò a Bì nh (2016, 2017, 2018, 2019), Bá o cá o Tổng kết thực hiện kế hoạch năm 2016, 2017,  
2018, 2019 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2017, 2018, 2019, 2020.  
Tỉnh ủy Hò a Bì nh (2014), Nghị quyết số 12 – NQ/TU của Ban thường vụ tỉnh ủy về phá t triển nuô i cá lồng, bè hồ thủy  
điện Hòa Bình, giai đoạn 2014 – 2020.  
Lưu Thị Thảo (2019), Cá c nhâ n tố ảnh hưởng đến năng suất cá lồng tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hò a Bì nh, Tạp chí Khoa  
học – Cô ng nghệ Thủy sản, 1, tr. 73 – 80.  
Lưu Thị Thảo, Lê Đình Hải (2019), Phá t triển nghề nuô i cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hoà Bì nh, tỉnh Hoà Bì nh, Tạp  
chí khoa học và cô ng nghệ Lâ m nghiệp. Kinh tế và chí nh sá ch. 3, 191-2000.  
Rohasliney Hashimab & Noor Fakira Ismaila. (2015), Fish biomass in relation to water quality index as an indication  
of fisheries productivity of four selected fish species along the Galas River, Kelantan, Malaysia, Procedia  
Environmental Sciences, 30, pp. 38 – 43.  
6.  
7.  
8.  
9.  
Ronald D. Zweig, John D. Morton, Macol M. Stewart. (1999), Source Water Quality for Aquaculture: A Guide for  
Assessment, Washington, D.C: The World Bank.  
Islam, S., Rasul, T., Alam, J. B., & Haque, M. A. (2010), Evaluation of Water Quality of the Titas River Using NSF  
Water Quality Index, Journal of Scientific Research, 3(1), pp. 151 – 159, doi:10.3329/jsr.v3i1.6170.  
David E. Antwi, John K.M. Kuwornu, Edward E. Onumah & Ram C. Bhujel (2016), Productivity and constrants analysis  
of commercial tilapia farms in Ghana, Kasetsart Journal of Social Sciences, 38(3), pp.282 – 290.  
Hoàng Quang Thành & Nguyễn Đình Phúc (2012), Cá c yếu tố ảnh hưởng đến năng suất nuô i tô m ở huyện Tuy  
Phước, tỉnh Bình Định, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, 72B(3), tr. 317 – 324.  
10. Tabachnick Barbara G và Fidell Linda S (1996), Using multivariate statistics , Northridge, Cal.: Harper Collins.  
11. Hair Joseph F, Anderson RE, Tatham RL, và Black WC (1998), Multivariate Data Analysis Prentice Hall, Upper Saddle  
River, NJ, số 730.  
12. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phâ n tí ch dữ liệu nghiên cứu với SPSS, NXB Hồng Đức 2008.  
13. Hair Joseph F, Anderson Rolph E, Babin Barry J, và Black Wiiliam C (2010), Multivariate data analysis: A global  
perspective (Vol. 7), Upper Saddle River, NJ: Pearson.  
14. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản (2019), Đánh giá hiện trạng môi trường và sức tải mô i trường ở hồ chứa thuỷ  
điện Hoà Bì nh, Báo cáo chuyên đề.  
Thô ng tin tá c giả:  
Phạm Thị Thu Hà - Trường Đại học Khoa học tự nhiên,  
Đại học Quốc Gia Hà Nội.  
Nhật ký tò a soạn  
Ngày nhận bài: 23/3/2021  
Biên tập: 5/2021  
Email: [email protected]; Điện thoại: 0948813688  
Địa chỉ liên hệ: 334 Nguyễn Trã i, Thanh Xuâ n, Hanoi.  
Phan Thị Ngọc Diệp, Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản.  
80  
pdf 10 trang yennguyen 12120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nuôi cá lồng tại vùng hồ thuỷ điện Hoà Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_nhan_to_anh_huong_den_hoat_dong_nuoi_ca_long_tai_v.pdf