Khung thép bỏ đá dạng bậc nước gia cố mái đập đá đổ đắp dở khi xả lũ thi công

KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
KHUNG THÉP BỎ ĐÁ DẠNG BẬC NƯỚC GIA CỐ  
MÁI ĐẬP ĐÁ ĐỔ ĐẮP DỞ KHI XẢ LŨ THI CÔNG  
Nguyễn Vũ Việt  
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam  
Tóm tắt: Trong xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện lớn thời gian dẫn dòng thi công kéo  
dài vài ba năm; do đó khi xả lưu lượng dẫn dòng thi công vào mùa lũ qua cống hay tuy nen … sẽ  
rất tốn kém. Vì vậy, một số nước đã nghiên cứu và áp dụng biện pháp xả lũ thi công qua đập xây  
dở dạng bậc nước. Bài viết nêu một số ý kiến về khung thép bỏ đá dạng bậc nước gia cố mái đập  
đá đổ đắp dở khi xả lũ thi công.  
Từ khóa: Đập đá đổ đắp dở, khung thép bỏ đá, đập dạng bậc nước.  
Summary: In the construction of irrigation and large hydroelectricity works, the construction  
diversion time lasts several years; In flooding season, the discharging flow through sewers or  
tunnels ... will be very expensive. Therefore, some countries have studied and applied measures  
to discharge flood construction through dams in form of water level. The paper presents some  
ideas about the steel stone frame in the form of reinforcing the dam slope roof when filling up  
the flood for construction.  
Key word: discharge flood construction dams, steel stone frame, dam slope roof  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ*  
1.1. Chế độ thủy lực trên bậc nước  
Trước đây trên các đoạn sông đi qua chỗ địa Chế độ thủy lực từ đỉnh đập đá đổ đắp dở chảy  
hình thay đổi đột ngột từ cao xuống thấp phải qua các bậc xuống chân đập có thể được coi là  
làm công trình chuyển tiếp. Nhiệm vụ của sự hình thành của nhiều bậc nước liên tiếp có  
công trình là tiêu năng; tránh xói lở hạ lưu. dòng chảy rơi tự do như hình 1.  
Trong trường hợp này thường làm công trình  
chuyển tiếp dạng bậc nước. Với những công  
trình vĩnh cửu như đập Bái Thượng, đã dùng  
vật liệu bằng bê tông đầm lăn xây dựng dạng  
bậc nước, độ cao của các bậc nước có thể chọn  
h từ 0.40m1.0m.  
Nuíc nh¶y  
Dßng ªm  
Dßng xiÕt  
pg  
h
h®  
k
hc  
hpg  
hc  
L
Gần đây, khi xả lũ thi công qua đập đá đổ đắp  
dở, vì là công trình tạm nên một số công trình  
đã áp dụng rọ thép bỏ đá theo dạng bậc nước  
tiêu năng, giảm thiểu xói lở.  
Hình 1: Chế độ thủy lực trên bậc nước  
Trường hợp bậc nước bằng các rọ thép bỏ đá  
có phần bậc nhô đủ rộng thì dòng chảy từ mỗi  
bậc phun xuống bậc kế tiếp tạo thành dạng  
mũi phun có góc hắt = 0, sau dòng phun có  
nước nhảy. Khi đó mái hạ lưu đập đá đổ có thể  
coi là một hệ thống các bậc nước hoàn chỉnh  
liên tiếp nhau. Nếu bậc không đủ rộng để có  
thể gói trọn cả dòng rơi và nước nhảy thì dòng  
chảy sẽ đổ từ bậc nọ xuống bậc kia thành các  
Mức độ và hiệu quả tiêu năng trên từng bậc  
nước phụ thuộc vào hình thức kết cấu. Do đó  
cần chọn kết cấu như thế nào cho hợp lý.  
Ngày nhận bài: 06/4/2019  
Ngày thông qua phản biện: 11/5/2019  
Ngày duyệt đăng: 12/6/2019  
1
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
cung cong liên tiếp, nếu bậc ngắn thì dòng cho thấy luôn nhỏ hơn độ sâu phân giới hpg, có  
chảy vượt qua cả mũi bậc và đổ xuống bậc kế thể xác định theo công thức thực nghiệm của  
tiếp. Từ tính chất thủy lực này khi thiết kế bậc Mooer và Rand.  
có chiều cao đã định [h=a(m)] thì chiều dài  
mỗi rọ thép phải có kích thước nhất định:  
h1 = 0.715hpg  
(3)  
g
2
1
3
Zo  
Zo  
Lrọ = L1 + L2 + L3  
(1)  
Z
1
Trong đó:  
Z
3
Lrọ - Chiều dài cần thiết của rọ thép (m)  
L1 - Chiều dài gối vào bên trong thân đập (m)  
X
L2 - Chiều dài tạo ra bậc nước, hứng được  
dòng rơi từ bậc phía trên đổ xuống (m)  
Hình 2: Các thông số bậc nước  
L3 - Chiều dài để dòng chảy sinh nước nhảy  
trên bậc nước (m)  
Năng lượng của dòng chảy được tiêu hao qua  
dòng phun rơi một phần khuếch tán trong  
không khí, một phần tiêu hao do dòng phun va  
đập với mặt rọ đá và một phần tiêu hao do nước  
nhảy ở trên bậc (trường hợp bậc rọ đá đủ dài).  
Qua nghiên cứu thí nghiệm mô hình để bậc  
nước có kết cấu ổn định thì chiều dài L1L2;  
thường là lớn hơn L2 để đảm bảo trọng tâm  
của rọ nằm thiên về phía thân đập (đây là  
trường hợp bậc không hình thành nước nhảy  
trên bậc).  
Trường hợp chiều cao chênh lệch giữa đỉnh  
đập đá đổ với đáy lòng sông hạ lưu lớn, nếu  
mỗi bậc phải làm đủ chiều dài L= (L1 + L2  
+L3) thì khối lượng làm rọ thép bỏ đá sẽ tăng  
lên nhiều. Vì vậy sẽ làm rọ đá có chiều dài  
L=(L1 + L2) để giảm bớt chiều dài xây dựng  
tạm thời khi xả lũ thi công; song để giảm bớt  
chiều dài xây dựng tạm thời khi xả lũ thi công,  
để đảm bảo an toàn cho công trình cần phải  
chấp nhận việc tăng cường công tác gia cố  
bằng tăng đường kính thép hàn lưới của rọ, và  
tăng thép néo.  
Muốn xác định được chiều dài L1 và L2 cần  
phải tính được khoảng cách phóng xa của dòng  
chảy từ đỉnh đập đá đổ xuống bậc thứ nhất. Ta  
gọi X là khoảng cách phóng xa thì X được xác  
định theo công thức:  
X 2  
Zg fg
Zg f3  
(2)  
Trong đó:  
fg- Cao độ đỉnh bậc thứ nhất  
Zg- Cao độ trung bình mực nước ở cuối bậc  
1.2. Tính kết cấu cho rọ đá  
Z
Z 1  
2
0
thứ nhất  
Ở trên đã trình bày phương pháp tính thủy lực  
cho mái đập đá đổ được thiết kế theo dạng bậc  
thang. Để đáp ứng được tình hình thủy lực và  
chịu được vận tốc dòng chảy khi xả lũ thi công  
thì không thể dùng rọ thép thông thường mà  
thiết kế loại rọ thép bỏ đá phi tiêu chuẩn.  
Z g  
f3 - Cao độ đỉnh bậc thứ hai  
Các ký hiệu trong công thức (2) thể hiện trên  
hình 2.  
Khi có thí nghiệm ta sử dụng trị số đo đường  
mặt nước để xác định giá trị Z0, Z1 để suy ra  
Zg. Khi chưa có số liệu thí nghiệm thì tính Z0  
và Z1 như mực nước trên đập tràn đỉnh rộng  
chảy tự do. Độ sâu dòng chảy ở mặt cắt 1-1 tại  
mũi hất (mép cuối bậc) là h1 qua thực nghiệm  
Dưới đây giới thiệu cách tính toán rọ thép bỏ đá.  
a. Nguyên tắc bố trí rọ đá và các chi tiết:  
Với quan điểm độ bền và ổn định, rọ đá và  
công trình phải thoả mãn các yêu cầu:  
2
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
+ Phân bố lưới thép trong công trình là đồng đều;  
c. Tính kết cấu rọ thép:  
+ Công trình không bị biến dạng do lực cắt Rọ phải đảm bảo không bị cuốn trôi, tức là ổn  
gây ra.  
định dưới tác dụng của dòng chảy. Chiều dày  
rọ được xác định như sau:  
Muốn đạt được yêu cầu thứ hai thì nên bố trí  
nhiều thép thẳng đứng và song song với - Ứng suất cắt trên mặt rọ là đ=whi ở mái bờ  
hướng tác dụng của lực cắt.  
hai bên thì m=0.75 đ ta có:  
V2  
R1/ 3  
b. Rọ thép bỏ đá  
(T/m2) (4)  
m 0.75w hi 0.75w n2  
+ Hình dạng tương tự như rọ đá, nhưng kết cấu  
chắc chắn hơn, các tấm lưới không dùng lưới  
thép đan bện mà dùng thép có đường kính từ  
6mm trở lên hàn liên kết thành các tấm lưới theo  
kích thước thiết kế, ô lưới dạng hình vuông: aa  
=10cm 10cm hoặc a a = 15cm 15cm.  
Trong đó:  
w - Dung trọng của nước (T/m3)  
h- Chiều sâu trung bình dòng chảy (m)  
i- Độ dốc đường mặt nước  
Thép làm khung của rọ có đường kính lớn,  
dùng thép 2026mm; trong mỗi rọ các vách  
ngăn cũng làm khung để tăng độ bền ổn định  
cho thảm rọ đá.  
n- Hệ số nhám của rọ  
V - Vận tốc trung bình của dòng chảy (m/s)  
R- Bán kính thủy lực (m)  
Khi chưa có số liệu thí nghiệm mô hình thì vận  
tốc V được tính theo công thức Manning:  
Để chống sự phá hoại của dòng chảy, trên tấm  
nắp rọ còn dùng thép 2226 hàn nối với các  
thanh thép khung của rọ; khoảng cách chia ô  
để hàn là 1.0m 1.0 hoặc 1.5m 1.5m. Loại  
rọ đá này được dùng khi bảo vệ mái các đập đá  
đổ xây dở cho tràn nước để xả lũ thi công.  
Nhằm giữ ổn định cuốn trôi rọ đá khi gradien  
dòng chảy lớn, thì dưới đáy rọ còn dùng thép  
néo, đường kính của thép néo là 2226.  
V=1/nR2/3 i1/2  
(5)  
Trường hợp dòng chảy trượt trên các bậc thang  
thì tạm lấy i=i của mái đập hạ lưu (Z/L, Z là  
chênh lệch độ cao tính từ đỉnh đập đá đổ đến  
đáy sông hạ lưu, L là chiều dài các bậc từ đỉnh  
đập đá đổ đến chân bậc cuối cùng). Còn bán  
kính thủy lực R khi bề rộng đập tràn đá đổ  
tương đối lớn thì lấy Rh.  
Mật độ thép néo phụ thuộc vào gradien dòng  
chảy. Một số công trình bố trí thép néo theo  
dạng hoa mai, với cự ly 1m 1m hoặc 2m   
2m hoặc 3m 3m; cố định thép néo vào các  
cục bê tông: 0.5m 0.5m 0.5m chôn sâu vào  
thân mái đập; chiều dài thép néo tối tiểu là 3m,  
lớn có thể đến 78m thông qua tính toán lực  
kéo ở đáy của rọ.  
+ Lực cắt giới hạn tại mặt dưới của rọ tính  
theo công thức:  
cđ= C(đ - w) t (T/m2)  
(6)  
Trong đó:  
t- Chiều dày rọ (m)  
đ - Trọng lượng đơn vị của đá (T/m3)  
N¾p ®Ëy  
ThÐp khung   
C - Hệ số thực nghiệm được lấy như sau  
ThÐp   
C=0.10 đối với rọ bỏ đá, C=0.047 với đá rời  
V¸ch ng¨n  
+ Lực cắt giới hạn của rọ đá ở hai mái bờ, theo [1]:  
1m  
3m  
2
1m  
(T/m2)  
(7)  
Sin   
cm=cđ  
1   
2
Sin   
Hình 3: Mô tả cấu tạo rọ thép  
3
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Trong đó:  
chiều dày 0.50m trở lên.  
- Góc nghiêng của mái dốc bờ so với mặt Trên cơ sở tài liệu tham khảo [9] tính toán  
phẳng nằm ngang (độ)  
thực tế cho công trình xả lũ thi công lớn  
(Q=2000m3/s; 4500m3/s) nêu ở dưới đây.  
- Góc nghỉ tự nhiên của đá, đối với rọ đá  
thường lấy = 41  
2. KÕT QU¶ NGHI£N CøU  
Điều kiện ổn định của thảm rọ đá trên mái hai  
bờ là:  
2.1. Xác định các thông số thủy lực  
Để kiểm tra sự làm việc của rọ đá trên mái,  
tính toán kiểm tra với 2 cấp lưu lượng Q =  
2000m3/s và 4500m3/s. Ứng với mỗi cấp lưu  
lượng xác định được đường mặt nước, vận  
tốc... tại các mặt cắt điển hình: đầu, giữa,  
cuối và chân đập; chú ý vùng chân đập (mực  
nước hạ lưu dao động). Sơ đồ tính toán và  
giá trị đầu vào dùng trong tính toán được thể  
hiện ở hình 4.  
mcm  
(8)  
Cân bằng giá trị của m và cm sẽ tìm được  
chiều dày t của rọ đá.  
Dựa theo cách tính như trên thì chiều dày rọ  
đá thường không lớn, nên theo kinh nghiệm  
thực tế người ta chọn chiều dày rọ đá theo  
vận tốc tới hạn của dòng chảy (Vth). Khi mà  
vận tốc lớn hơn 5m/s cần dùng rọ đá có  
V
A (m/s),  
C (m)  
V' B (m/s)  
=
=
=
=
H
P'  
D (mH2O)  
(3)  
(4)  
(1)  
Z
(2)  
(5)  
Hình 4: Sơ đồ tính toán  
Qua tính toán xác định được các thông số Độ sâu dòng chảy: H=2,7 m; áp suất mạch  
thủy lực chính (vận tốc, mạch động vân tốc, động P’=0,40 mH2O (mét cột nước)  
độ sâu dòng chảy và áp suất mạch động)  
cho 2 cấp lưu lượng trên, ở vùng chân đập,  
như sau:  
2.2. Lý thuyết tính toán  
Áp dụng phần mềm ANSYS tính toán kết cấu.  
Phần mềm ANSYS có khả năng phân tích  
2.1.1. Ứng với cấp q=9,50 m3/s.m (Q=2000 m3/s)  
nhiệt ổn định và nhiệt không ổn định trong hệ  
Vận tốc dòng chảy V=6,00 m/s ; mạch động  
kết cấu. Do trường nhiệt và trường thấm có  
vận tốc V’=0,15 m/s  
tính chất tương đồng vì vậy có thể sử dụng  
Độ sâu dòng chảy : H=2,40 m ; áp suất mạch công năng phân tích nhiệt ANSYS để tính toán  
động P’=0,30 mH2O (mét cột nước)  
kiểm tra thấm qua khối đá đổ đắp dở.  
2.1.2. Ứng với cấp q=21,50 m3/s.m (Q=4500 m3/s)  
Để mô hình trường nhiệt độ và mô hình trường  
thấm tương đồng, cần thỏa mãn các điều kiện  
dưới đây:  
Vận tốc dòng chảy V=10,00 m/s ; mạch động  
vận tốc V’=0,30 m/s  
4
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
2.2.1.Tương tự hình học.  
Khung rọ thép sử dụng phần tử LINK1.  
Đây là phần tử thanh 2 chiều chịu kéo nén  
dọc trục.  
Biên ngoài của mô hình trường nhiệt độ và  
biên ngoài của phạm vi nghiên cứu thấm tương  
đồng hình học. Khi phạm vi thấm là lớp đá Thanh thép neo sử dụng phần tử BEAM3-  
đồng đều, mô hình cũng cần đồng đều; khi hình 7. Đây là phần tử thanh 2 chiều chịu kéo  
phạm vi thấm là lớp đá không đồng đều, yêu nén dọc trục và chịu uốn. Đặc trưng hình học  
cầu trong mô hình nên có đường phân chia dẫn của phần tử là kích thước mặt cắt ngang của  
nhiệt không giống nhau bảo đảm tương đồng phần tử.  
đường phân chia lớp đá không giống nhau.  
2.2.2. Điều kiện biên tương đương.  
Tức là biên đoạn nhiệt của mô hình mô phỏng  
nhiệt độ và biên ngăn nước phạm vi thấm là  
tương đương. Biên dẫn nhiệt và biên thấm  
nước là tương đương, nhiệt độ trên biên dẫn  
nhiệt và cột nước trên biên thấm nước là  
tương đương.  
Hình 7: Phần tử BEAM3  
2.2.3. Mô hình tính toán  
Đầu tiên tiến hành phân tích trường thấm sau  
Tính toán kiểm tra kết cấu khung thép bỏ đá  
đó tiến hành phân tích chịu lực của kết cấu.  
bằng phần mềm ANSYS. Mô hình phần tử hữu  
Biên đáy đập và biên thượng lưu đập là  
hạn mô phỏng kết cấu khối đá đổ bảo vệ mái  
biên không thấm. Biên mặt đập là biên  
hạ lưu bằng khung thép bỏ đá ở hình 5  
thấm nước ứng với cột nước tính toán  
dòng mặt trên đỉnh và mái hạ lưu là biên  
thoát nước.  
Gán cột nước tổng ở biên mặt đập và biên hạ  
lưu đập, sẽ phát sinh dòng thấm trong khối đá  
đổ về hạ lưu và phổ cột nước áp lực trong thân  
đập (xem hình 8).  
Hình 5: Mô hình phần tử hữu hạn  
Khối đá đổ và đá trong rọ sử dụng phần tử  
PLANE55 (phần tử tính toán nhiệt) và  
PLANE42 (phần tử tính toán kết cấu)- hình 6  
Hình 8: Dòng thấm qua đập đá đổ đắp dở  
2.3. Kết quả tính toán kết cấu  
2.3.1 Tính toán lực kéo  
Ứng với mỗi cấp lưu lượng khác nhau xác  
Hình 6: Phần tử PLANE42  
5
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
định được phổ chuyển vị của kết cấu, áp lực 2.3.1.1.Ứng với cấp lưu lượng q=9,50 m3/s.m  
tác dụng lên rọ đá mái hạ lưu do dòng thấm (Q = 2000m3/s)  
gây ra và lực kéo trong thanh neo. Dưới đây  
Lực dọc lớn nhất trong thanh neo Nk = 1,719T  
nêu kết quả ứng với hai cấp lưu lượng  
+ Kiểm tra khả năng chịu kéo của thanh neo  
Q=2000 m3/s và Q=4500m3/s.  
ứng với đường kính thanh neo 25:  
1,719103  
m
k
1
σk   
87,5  
daN/cm2  
Rk   
2100 1750  
daN/cm2  
3,14162,52  
1,2  
k=87,5(daN/cm2) < [Rk] =1750 (daN/cm2)  
Thanh neo 25 đủ khả năng chịu kéo.  
+ Kiểm tra khả năng chịu kéo của thanh neo ứng với đường kính thanh neo 18:  
1,719103  
m
k
1
σk   
169  
daN/cm2  
Rk   
2100 1750  
daN/cm2  
3,14161,82  
1,2  
k=169(daN/cm2) < [Rk] =1750 (daN/cm2)  
Trong đó: - 2100 (daN/cm2) là ứng suất kéo cho phép của thép neo  
- 1,2 là hệ số hiệu chỉnh  
Thanh neo 18 đủ khả năng chịu kéo.  
và Cửa Đạt, … Theo kinh nghiệm thường bố  
trí thanh neo ≥25mm, tính toán chỉ dùng  
18mm là đảm bảo an toàn.  
Do các rọ thép được đặt chồng lên nhau có ma  
sát do trọng lượng bản thân lớn, các thanh neo  
chỉ làm nhiệm vụ tăng khả năng ổn định tổng Từ kết quả tính toán đối với 2 đường kính  
thể của mái nên lực kéo lớn nhất trong thanh thanh neo 18 và 25 ở trên cho thấy: thanh  
neo tương đối nhỏ, các thanh neo đảm bảo khả neo đủ khả năng chịu lực, tuy nhiên để đảm  
năng chịu lực không bị kéo đứt. Tuy lực kéo bảo điều kiện về kinh tế và kỹ thuật kiến nghị  
nhỏ nhưng theo kinh nghiệm ở thế giới và chọn đường kính thanh neo 18 là đảm bảo  
trong nước đều bố trí thanh neo; vì khi xả lũ an toàn.  
đột ngột dòng chảy tác động theo 2 phương là  
dòng thấm trong thân đập ra và dòng chảy mặt  
ở trên đỉnh dội xuống mái đập, … dễ gây mất  
ổn định kết cấu gia cố bảo vệ mái đập. Do đó  
2.3.1.2. Ứng với cấp lưu lượng q = 21,50  
m3/s.m (Q=4500m3/s)  
Lực dọc lớn nhất trong thanh neo Nk = 2,193T  
các công trình thí nghiệm mô hình và thực tế + Kiểm tra khả năng chịu kéo của thanh neo  
thi công đều bố trí thép neo như Tuyên Quang ứng với đường kính thanh neo 25:  
2,193103  
m
1
k   
111,7 daN/cm2 Rk   
2100 1750 daN/cm2  
3,14162,52  
k
1,2  
k=111,7(daN/cm2) < [Rk] =1750 (daN/cm2)  
Thanh neo 25 đủ khả năng chịu kéo.  
+ Kiểm tra khả năng chịu kéo của thanh neo ứng với đường kính thanh neo 18:  
6
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
2,193103  
m
1
k   
215 daN/cm2 Rk   
2100 1750 daN/cm2  
3,14161,82  
k
1,2  
k=215(daN/cm2) < [Rk] =1750 (daN/cm2)  
Trong đó: - 2100 (daN/cm2) là ứng suất kéo cho phép của thép neo  
- 1,2 là hệ số hiệu chỉnh  
Thanh neo 18 đủ khả năng chịu lực kéo và  
Thanh neo 18 đủ khả năng chịu kéo.  
lực cắt.  
Do các rọ thép được đặt chồng lên nhau có  
ma sát do trọng lượng bản thân lớn, các  
thanh neo chỉ làm nhiệm vụ tăng khả năng  
ổn định tổng thể của mái nên lực kéo lớn  
nhất trong thanh neo tương đối nhỏ, các  
thanh neo đảm bảo khả năng chịu lực không  
bị kéo đứt. Tương tự như cấp lưu lượng  
Q = 2000m3/s, đối với cấp lưu lượng  
Q = 4500m3/s, để đảm bảo điều kiện về kinh  
tế và kỹ thuật kiến nghị lựa chọn đường kính  
thanh neo 18 là đảm bảo an toàn.  
2.3.2. Kiểm tra ổn định:  
Với cấp lưu lượng q=9,50 m3/s.m (2000 m3/s)  
và q=21,50 m3/s.m (4500 m3/s)  
2.3.2.1. Số liệu tính toán  
Tính toán trong trường hợp chiều cao khối đá  
khi tràn nước là 16.0m. Mặt thượng lưu khối  
đá đổ được bảo vệ bằng lớp bê tông không  
thấm với hệ số mái 1:1,4. Mặt hạ lưu khối đá  
đổ được bảo vệ bằng khung thép bỏ đá dạng  
bậc nước đặt trên mái với hệ số mái 1:1,5.  
Chiều dài mặt đập tại cao trình tràn nước L =  
239m. Chỉ tiêu cơ lý của các loại vật liệu dùng  
trong tính toán như sau:  
Lực cắt trong thanh neo rất nhỏ xấp xỉ bằng 0.  
Hay nói cách khác thanh neo rọ thép chủ yếu  
chịu kéo.  
Bảng 1: Chỉ tiêu cơ lý của vật liệu dùng trong tính toán  
TT  
1
2
3
4
Vật liệu  
Bê tông cốt thép  
Khối đá đổ  
Rọ đá  
bh (T/m3)  
2,50  
E (kN/m2)  
2,4107  
2,6106  
2,1106  
2,1108  
0,20  
0,25  
0,25  
0,30  
2,10  
2,00  
7,85  
Thép neo  
Hệ số bảo đảm [Kođ]- được xét theo quy mô, mái dốc nhân tạo bằng đá đắp có thể lấy theo  
nhiệm vụ của công trình, đối với công trình có bảng sau:  
Hệ số ổn định [Kođ]  
Đặc biệt  
1,25  
Cấp I  
1,20  
Cấp II, III, IV  
1,15  
Với cấp lưu lượng q=9,50 m3/s.m (Q=2000 m3/s)  
K=1,494 > [K]=1,20  
Với cấp lưu lượng q=21,50 m3/s.m (Q=4500 m3/s)  
2.3.2.2. Kết quả tính ổn định  
Kiểm tra ổn định mái hạ lưu đập đá đổ đắp dở  
bằng phần mềm Geo-Slope  
K=1,361 > [K]=1,20  
Kết quả tính cho thấy:  
7
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
KHOA HỌC  
CÔNG NGHỆ  
Như vậy mái ổn định không bị trượt.  
thân đập bằng các thép neo 18 dài 12,50m(cả  
uốn), các thanh neo đặt cách nhau tối đa 2,50  
m. Kết cấu như trên đảm bảo ổn định, an toàn  
cho công trình khi xả lũ thi công qua đoạn đập  
đá đổ đắp dở.  
3. KẾT LUẬN  
Qua tính toán kiểm tra kết cấu, ổn định gia cố  
mái hạ lưu đập đá đổ bằng khung thép bỏ đá  
có thể rút ra một số nhận xét sau:  
- Các kết cấu trên phù hợp với các công  
trình: Chiều cao đập đá đổ đắp dở H16m, lưu  
lượng đơn vị lũ thi công q21,50 m3/s.m.  
- Khung thép bỏ đá có cấu tạo đặc biệt  
(không phải rọ đá chống bão lụt): Khung được  
gia công chế tạo bằng thép có đường kính  
d≥18mm, gia cường thêm thép có đường kính  
d≥18mm, mắt lưới xung quanh bằng thép 6  
hàn thành ô vuông có kích thước 20×20cm  
(riêng mặt trước ô vuông có kích thước  
10×10cm). Đá bỏ trong rọ có đường kính  
d≥25cm. Các khung thép bỏ đá được neo vào  
- Để hoàn thiện cần nghiên cứu kết cấu gia  
cố bằng tấm BTCT để so sánh kinh tế-kỹ thuật  
với khung thép bỏ đá.  
Những nội dung nghiên cứu trên chúng tôi sẽ  
trình bày vào dịp khác.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] QCVN 04-05-2012, Công trình thủy lợi- Các quy định chủ yếu về thiết kế.  
[2] TCVN 9147-2012, Công trình thủy lợi - Quy trình tính toán thủy lực đập tràn  
[3] TCVN 9610-2012, Công trình thủy lợi - Yêu cầu thiết kế dẫn dòng trong xây dựng.  
[4] X.V.ZBAS, thủy lực chặn lòng sông, Võ Phán, Trương Nhật Thanh dịch, NXB KHKT,  
năm 1974.  
[5] Viện Năng Lượng (2002), Báo cáo kết quả thí nghiệm mô hình công trình thủyđiện Tuyên Quang.  
[6] Viện Khoa học Thuỷ lợi (2006), Báo cáo kết quả nghiên cứu thí nghiệm mô hình thủy lực  
xả lũ thi công qua đập đá đổ đắp dở, công trình Cửa Đạt, Thanh Hóa.  
[7] Trần Quốc Thưởng, (2005): Thí nghiệm mô hình thủy lực - NXB xây dựng, Hà Nội.  
[8] Trần Quốc Thưởng (2008): Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước mã số 6-201J  
[9] Nguyễn Vũ Việt (2017): Xả lũ thi công qua tràn tạm – NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.  
8
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỦY LỢI SỐ 54 - 2019  
pdf 8 trang yennguyen 13320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khung thép bỏ đá dạng bậc nước gia cố mái đập đá đổ đắp dở khi xả lũ thi công", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhung_thep_bo_da_dang_bac_nuoc_gia_co_mai_dap_da_do_dap_do_k.pdf