Những yếu tố ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh viên điều dưỡng

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỌC TẬP KỸ NĂNG GIAO TIẾP  
CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG  
*
**  
***  
Nguyễn Trung Nam ,Nguyễn Văn Thắng , Lora Claywell  
TÓMTẮT  
Đặt vấn đề: Kỹ năng giao tiếp là một năng lực đặc biệt đã được khẳn định bằng quá trình được đào tạo và  
(2)  
rèn luyện của bản thân . Năng lực giao tiếp của một người chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố cá nhân, môi  
trường và xã hội. Do đó, việc khảo sát các yếu tốảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp là một hoạt động rất  
cần thiết.  
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của  
sinh viên và đo lường được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố.  
Phương pháp: Cắt ngang mô tả.  
Kết quả: Trongnghiên cứunày, những yếu tố ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp bao gồm: kỹ năng  
sống của sinh viên như sự tự tin, tính hòa đồng, sự bối rối, khả năng bắt chuyện, cách chuyển vấn đề giao tiếp và  
khả năng trình bày. Yếu tố cá nhân như, năng lực giao tiếp của giáo viên, phương pháp dạy của giáo viên, giọng  
nói của giáo viên và thái độ giao tiếp của nhân viên bệnh viện. Yếu tố môi trường như phương tiện ‐ trang thiết  
bị dạy học kỹ năng giao tiếp và môi trường sống riêng lẻ ở nhà trọ trong dân cư.  
Kết luận: Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh viên Điều dưỡng đã  
xác định được một số yếu tố ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh viên Điều dưỡng và mức độ ảnh  
hưởng của các yếu tố đó.  
Từ khóa:Yếu tố, ảnh hưởng, kỹ năng giao tiếp, dạy và học.  
ABSTRACT  
FACTORS THAT AFFECT THE LEARNING OF COMMUNICATION SKILLS  
OF NURSING STUDENTS  
Nguyen Trung Nam, Nguyen Van Thang, Lora Claywell  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 242‐ 247  
Background: The communication skills are special competence that has been confirmed by the educational  
(2)  
process and practice of themself . The communication competence was affected by a lot of factors such as personal  
factors, environmental factors and social factors. Therefore, finding factors that affect the learning communication  
skills is a necessary operation.  
Objectives: The study aimed to determine the factors that affect the learning of communication skills of  
nursing students and to measure the level of influence of each factor.  
Methods: Cross sessional survey.  
Results: In this study, the factors affect the learning of communication skills of nursing student include: life  
skills of nursing students such as belief, social character, and confusion. Ability of contact, ability of transfer  
communication problem and ability of presentation. Personal factors such as, communication competence of  
teachers, teaching method of teachers, voice of teachers, communication attitude of medical staffs. Environmental  
factors such as educational equipment and living at guest house of students.  
* Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam **Đại học Y Dược TP. HCM ***Friendship Bridge Association‐USA  
Tác giả liên lạc: CN Nguyễn Trung Nam  
ĐT: 0935881025  
242  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
Conclusion: The study of factors that affect the learning of communication skills of nursing students  
determined some factors that affect the learning of communication skills of nursing students and level of  
influence of it.  
Keywords: factors, affect, communication skills, teaching and learning  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Mục tiêu nghiên cứu  
Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến  
học tập KNGT của sinh viên điều đưỡng.  
Kỹ năng giao tiếp (KNGT) là năng lực đặc  
biệt quan trọng trong đời sống xã hội, trong  
lĩnh vực nghề nghiệp và đặc biệt trong y học.  
Theo Roberts L and Bucksey SJ (2007), hầu hết  
các đơn từ khiếu kiện của người bệnh, người  
nhà bệnh nhân đối với nhân viên y tế chủ yếu  
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng yếu  
tố, từng nhóm yếu tố.  
So sánh sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng  
của các yếu tố.  
(6)  
xuất phát từ các lỗi giao tiếp là chính . Giao  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
tiếp tốt của nhân viên y tế nói chung và của  
Điều dưỡng nói riêng sẽ hạn chế được tổn  
Đối tượng nghiên cứu  
Sinh viên các lớp Cao đẳng Điều dưỡng tại  
Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam.  
(6)  
thương cho người bệnh . Giao tiếp tốt của  
người Điều dưỡng giúp giảm được lo âu, sợ  
hãi, buồn phiền của người bệnh. Thậm chí giao  
tiếp tốt có thể khai thác được những thông tin  
thầm kín, khó nói hoặc e ngại của người bệnh.  
Theo Painter R (2010), giao tiếp kém của người  
Điều dưỡng có thể là nguyên nhân dẫn đến  
Địa điểm và thời gian nghiên cứu  
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 6 năm  
2012 đến tháng 7 năm 2013 tại Trường Cao đẳng  
Y tế Quảng Nam.  
(5)  
tổn thương và tử vong . Đặc biệt, thời gian  
Thiết kế nghiên cứu  
mà người điều dưỡng dành cho giao tiếp với  
bệnh nhân khá nhiều. Theo nghiên cứu của  
Westbrook JL, Duffield C, Li L and Creswick  
NJ (2011), người Điều dưỡng tốn khoảng 37%  
thời gian của họ cho việc chăm sóc người  
bệnh. Trong đó, 19% là dành cho giao tiếp với  
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.  
Cỡ mẫu nghiên cứu  
Sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác  
suất theo cỡ mẫu tối thiểu tương ứng với mười  
quan sát cho một biến số. Với bộ câu hỏi khảo  
sát gồm 53 biến số nên cỡ mẫu tối thiểu là 530.  
(7)  
người bệnh .  
Phương pháp chọn mẫu  
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đi sâu  
phân tích các yếu tố về kỹ năng sống sinh viên,  
các yếu tố về môi trường học tập, về năng lực  
giảng dạy của giáo viên gây ảnh hưởng đến quá  
trình học tập KNGT của sinh viên. Đây là những  
yếu tố mà chúng tôi cho rằng có thể gây ảnh  
hưởng đến học tập KNGT của sinh viên. Mục  
đích chính là để tìm ra các yếu tố gây ảnh hưởng  
đến quá trình học tập KNGT của sinh viên. Xác  
định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đó. Do  
đó, chúng tôi nhận thấy rằng nó thật sự rất quan  
trọng và cần thiết để tiến hành đề tài nghiên cứu  
“Những yếu tố ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao  
tiếp của sinh viên Điều dưỡng”.  
Với số lượng sinh viên Cao đẳng Điều  
dưỡng của hai khóa học (2010 ‐2013) và khóa  
học (2011‐2014) là 700 sinh viên. Để tăng tính giá  
trị cho nghiên cứu chúng tôi quyết định chọn  
toàn bộ số sinh viên của hai khóa học trên đưa  
vào nghiên cứu.  
Phương pháp thu thập số liệu  
Khảo sát thử nghiệm 10% số phiếu và Test  
bộ câu hỏi với hệ số Cronbach’s Alpha bằng  
phần mềm IBM‐SPSS version 19.0  
Chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp với đề tài  
và kết quả test Cronbach’s Alpha cho bộ câu hỏi  
đã được chỉnh sửa  
243  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
Đặc tính  
(2010-2013)  
Tần số (n=647) Tỷ lệ (%)  
Phần câu hỏi khảo sát về kỹ năng sống của sinh  
viên Điều dưỡng: Cronbach’s Alpha = 0,73.  
290  
357  
147  
40  
44,82  
55,18  
22,72  
6,18  
Khóa học  
(2011-2014)  
Vùng núi  
Phần câu hỏi khảo sát về mức độ ảnh hưởng  
của các yếu tố: Cronbach’s Alpha = 0,78.  
Trung du  
Nơi sinh sống Đồng bằng  
Ven biển  
367  
80  
56,72  
12,36  
2,01  
Tiến hành thu thập số liệu dựa vào bộ câu  
hỏi đã được chỉnh sửa.  
Thành thị  
13  
Kiểm tra sai lệch thông tin  
Rất nghèo  
6
0,93  
Nghèo  
77  
11,90  
85,63  
1,55  
Giải thích vấn đề nghiên cứu cho sinh viên  
trước khi phát phiếu 1 tuần.  
Kinh tế gia đình  
Đủ ăn  
Khá giả  
Giàu có  
554  
10  
Hướng dẫn sinh viên trả lời từng câu hỏi  
trong phiếu khảo sát.  
0
0,00  
Bảng 1 cho thấy hầu hết sinh viên Điều  
dưỡng là nữ giới (96,6%). Độ tuổi của sinh viên  
Cao đẳng điều dưỡng năm thứ hai và năm thứ  
ba tập trung ở lứa tuổi 20, 21 và 22 tuổi. Nơi sinh  
sống chủ yếu là vùng đồng bằng. Tuy nhiên,  
sinh viên sinh sống ở vùng núi chiếm số lượng  
không nhỏ với 147 (22,72%) tổng số sinh viên.  
Đặc biệt sinh viên sống vùng thành thị rất ít chỉ  
có 13 (2,01%). Với 554 (85,63%) sinh viên có điều  
kiện kinh tế gia đình đủ ăn. Đặc biệt không có  
sinh viên nào có điều kiện kinh tế gia đình giàu  
có.  
Phát bộ câu hỏi khảo sát cho sinh viên vào  
cuối buổi học.  
Nhắc nhỡ sinh viên tự trả lời câu hỏi độc lập  
khi ở nhà.  
Sinh viên gửi lại bộ câu hỏi khảo sát  
sau 1 tuần.  
Xử lý phân tích dữ liệu  
Làm sạch số liệu sau khi thu về phiếu khảo  
sát. Kết quả thu được 647 phiếu khảo sát đạt yêu  
cầu mà nghiên cứu đề ra. Nhập và phân tích số  
liệu bằng phần mềm SPSS version 19.0.  
Bảng 2. Đặc điểm chung của sinh viên ảnh hưởng  
đến học tập kỹ năng giao tiếp  
Xác định yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh  
hưởng dựa vào phân tích hồi qui, thống kê mô  
tả và kiểm định Chi ‐ Square tests giữa các yếu  
tố trên với năng lực giao tiếp do sinh viên tự  
đánh giá. So sánh sự khác nhau về mức độ ảnh  
hưởng của các yếu tố bằng kiểm định phi tham  
số Kruskal‐Wallis tests và kiểm định  
Bonferroni tests.  
P
Các yếu tố  
β
βs  
Tuổi  
0,035  
-0,155  
0,001  
0,094  
0,065  
-0,056  
0,002  
0,074  
0,07  
Giới  
0,055  
0,006  
0,074  
Nơi sống  
Kinh tế  
R = 0,114; R2 = 0,013; P = 0,07  
β: Hệ số hồi qui; βs: Hệ số hồi qui chuẩn  
Bảng 2 cho thấy cả bốn yếu tố về đặc điểm  
chungcủa sinh viên điều dưỡng có ảnh hưởng  
rất yếu đến học tập KNGT của sinh viên với hệ  
số tương quan chung (R = 0,114). Bốn yếu tố về  
đặc điểm chung của sinh viên Điều dưỡng chỉ  
làm ảnh hưởng 1,3% đến học tập KNGT của  
KẾT QUẢ  
Bảng 1. Đặc điểm chung của sinh viên Điều dưỡng  
Đặc tính  
Tần số (n=647) Tỷ lệ (%)  
Nam  
Nữ  
19  
22  
625  
1
3,40  
96,60  
0,15  
Giới tính  
2
sinh viên với (R = 0,013). Nhưng sự ảnh hưởng  
này không có ý nghĩa thống kê với P = 0,07  
20  
232  
237  
140  
33  
2
35,86  
36,63  
21,64  
5,10  
21  
22  
Bảng 3. Kỹ năng sống của sinh viên ảnh hưởng đến  
học tập kỹ năng giao tiếp  
Tuổi  
23  
24  
0,31  
Kỹ năng sống  
R
R2  
P
β
βs  
25  
1
0,15  
Nói chuyện  
-0,007 -0,008 0,161 0,026 0,85  
26  
1
0,15  
244  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
Kỹ năng sống  
Tự tin  
R
R2  
P
Kỹ năng sống  
đối phương  
R
R2  
P
β
βs  
β
βs  
0,109 0,153 0,294 0,086 <0,001  
0,084 0,114 0,021 0,041 0,007  
-0,075 -0,098 0,225 0,051 0,018  
0,08 0,135 0,205 0,042 0,001  
R = 0,428 R2 = 0,183 P < 0,001  
Hòa đồng  
Bối rối  
β: Hệ số hồi qui; βs: Hệ số hồi qui chuẩn; R: Hệ số tương  
quan  
Bắt chuyện  
Nhận biết tâm trạng -0,004 -0,005 0,076 0,006 0,9  
Phụ thuộc cảm xúc -0,027 -0,045 0,088 0,008 0,24  
Bảng 3 cho thấy kỹ năng sống của sinh  
viên có liên quan đến học tập KNGT với (R =  
0,428) và giải thích được 18,3% (R = 0,183) sự  
Quan tâm ngôn ngữ  
0,007 0,011 0,089 0,008 0,8  
không lời  
2
Quan tâm đến  
thay đổi về năng lực giao tiếp của sinh viên  
với (P < 0,001). Trong đó chỉ có sáu kỹ năng  
sống có ảnh hưởng đến học tập KNGT của  
sinh viên đó là:Sự tự tin có (R= 0,294) và giải  
thích 8,6% sự ảnh hưởng đến học tập KNGT  
của sinh viên với (P < 0,001). Tính hòa đồng có  
(R= 0,201) và giải thích 4,1% sự ảnh hưởng đến  
học tập KNGT của sinh viên với (P = 0,007). Sự  
bối rối có (R= 0,225) và giải thích 5,1% sự ảnh  
hưởng đến học tập KNGT của sinh viên với (P  
= 0,018). Khả năng bắt chuyện có (R= 0,205) và  
giải thích 4,2% sự ảnh hưởng đến học tập  
KNGT của sinh viên với (P = 0,001).Cách  
chuyển sang vấn đề giao tiếp khác khi xảy ra  
bất đồng quan điểm trong vấn đề giao tiếp  
trước đó có (R= 0,087) và giải thích 0,8% sự ảnh  
hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh  
viên với (P = 0,02). Khả năng trình bày có (R=  
0,259) và giải thích 6,7% sự ảnh hưởng đến học  
tập KNGT của sinh viên với P = 0,001  
0,02 0,03 0,134 0,018 0,5  
từ ngữ  
Đặt mình vào vị trí đối  
0,000 -0,001 0,1  
0,01  
0,9  
phương  
Cố hiểu đối phương -0,025 -0,044 0,03 0,001 0,32  
Giải thích cho  
0,007 0,012 0,058 0,003 0,7  
đối phương hiểu  
Kết thúc giao tiếp 0,037 0,068 0,035 0,001 0,09  
Chuyển vấn đề  
-0,053 -0,096 0,087 0,008 0,02  
giao tiếp  
Chấp nhận ý  
0,003 0,005 0,028 0,001 0,9  
đối phương  
Thuyết phục  
-0,013 -0,022 0,019 0,000 0,58  
đối phương  
Thảo luận các  
-0,023 -0,035 0,087 0,008 0,38  
vấn đề xã hội  
Thảo luận vấn đề  
-0,028 -0,046 0,02 0,000 0,23  
riêng tư  
Quan tâm  
-0,005 -0,008 0,058 0,003 0,85  
đến nỗi buồn  
Khai thác thông tin đối  
0,003 0,004 0,025 0,001 0,91  
phương  
Kết hợp ngôn ngữ 0,026 0,045 0,125 0,016 0,25  
Khả năng trình bày 0,109 0,138 0,259 0,067 0,001  
Làm chủ giao tiếp  
Phản hồi thông tin -0,008 -0,011 0,07 0,005 0,7  
0,004 0,005 0,056 0,003 0,9  
0,05 0,03 0,211 0,045 0,1  
Lắng nghe  
Bảng 4. Yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh viên  
Ảnh hưởng đến KNGT N = 647  
Yếu tố  
P
Rất yếu n (%) Yếu n (%) Vừa n (%) Mạnh n (%) Rất mạnh n (%)  
Kỹ năng sống  
Giới tính  
3 (0,5)  
62 (9,6)  
14 (2,2)  
1 (0,2)  
1 (0,2)  
6 (0,9)  
1 (0,2)  
1 (0,2)  
11 (1,7)  
246 (38)  
304 (47)  
83 (12,8)  
17 (2,6)  
0,04  
0,68  
112 (17,3) 347 (53,6) 109 (16,8)  
62 (9,6) 277 (42,8) 227 (35,1)  
Tuổi  
67 (10,4)  
258 (39,9)  
232 (35,9)  
87 (13,4)  
223 (34,5)  
205 (31,7)  
0,93  
Năng lực giao tiếp của giáo viên  
Phương pháp dạy của giáo viên  
Giọng nói của giáo viên  
Thái độ giao tiếp của giáo viên  
Thái độ giao tiếp của nhân viên bệnh viện  
5 (0,8)  
9 (1,4)  
88 (13,6) 295 (45,6)  
94 (14,5) 311 (48,1)  
<0,001  
<0,001  
0,04  
28 (4,3) 242 (37,4) 284 (43,9)  
7 (1,1)  
3 (0,5)  
88 (13,6) 328 (50,7)  
115 (17,8) 323 (49,9)  
0,71  
<0,001  
giáo viên dạy môn kỹ năng giao tiếp ảnh hưởng  
mạnh đến học tập KNGT của sinh viên với mức  
ảnh hưởng mạnh 295 (45,6%) và ảnh hưởng rất  
mạnh 258 (39,9%) với (p < 0,001). Phương pháp  
dạy học của giáo viên dạy KNGT ảnh hưởng  
Bảng 4 cho thấy kỹ năng sống của sinh viên  
ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của  
sinh viên ở mức trung bình 246 (38%), mức  
mạnh 304 (47%) và ảnh hưởng rất mạnh 83  
(12,8%) với (p = 0,04). Năng lực giao tiếp của  
245  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh viên với  
mức ảnh hưởng mạnh 311 (48,1%) và ảnh hưởng  
rất mạnh 232 (35,9%) với (p < 0,001). Giọng nói  
của giáo viên dạy kỹ năng giao tiếp ảnh hưởng  
vừa 242 (37,4%), ảnh hưởng mạnh 284 (43,9%)  
và ảnh hưởng rất mạnh 87 (13,4%) với (p = 0,04).  
Đặc biệt thái độ giao tiếp của nhân viên bệnh  
viện ảnh hưởng mạnh đến học tập KNGT của  
sinh viên với mức ảnh hưởng mạnh 323 (49,9%)  
và ảnh hưởng rất mạnh 205 (31,7%) với (p <  
0,001).  
Bảng 5. Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh viên  
Ảnh hưởng đến KNGT N = 647  
Yếu tố  
P
Rất yếu n (%) Yếu n (%) Vừa n (%) Mạnh n (%) Rất mạnh n (%)  
Nơi sinh sống  
Tình trạng kinh tế  
7 (1,1)  
31 (4,8)  
4 (0,6)  
1 (0,2)  
0
40 (6,2) 243 (37,6) 295 (45,6)  
96 (14,8) 332 (51,3) 161 (24,9)  
25 (3,9) 252 (38,9) 281 (43,4)  
62 (9,6)  
27 (4,2)  
0,65  
0,54  
0,84  
0,76  
0,22  
<0,001  
0,24  
0,55  
0,13  
0,01  
Môi trường trường học  
85 (13,1)  
173 (26,7)  
187 (28,9)  
116 (17,9)  
55 (8,5)  
Môi trường bệnh viện  
9 (1,4)  
108 (16,7)  
356 (55)  
Thực tập cộng đồng  
15 (2,3) 106 (16,4) 339 (52,4)  
Phương tiện, trang thiết bị dạy học  
Số lượng SV trong một nhóm thực tập  
Bản sắc văn hóa địa phương  
Môi trường ký túc xá  
7 (1,1)  
11 (1,7)  
2 (0,3)  
5 (0,8)  
26 (4)  
39 (6)  
238 (36,8) 247 (38,2)  
285 (44) 262 (40)  
34 (5,3)  
15 (2,3) 130 (20,1) 316 (48,8)  
27 (4,2) 255 (39,4) 283 (43,7)  
184 (28,4)  
77 (11,9)  
252 (38,9)  
Cuộc sống riêng lẻ ở nhà trọ  
57 (8,8)  
76 (11,7) 236 (36,5)  
Do vậy, thí sinh thi vào ngành Điều dưỡng đại  
đa số là nữ giới mà rất ít nam giới. Độ tuổi của  
sinh viên tập trung ở lứa tuổi 20, 21 và 22 tuổi.  
Độ tuổi này phù hợp với sinh viên năm thứ hai  
và năm thứ ba. Chứng tỏ các em thi vào ngành  
Điều dưỡng và học ngay năm đầu tiên chiếm tỷ  
lệ khá cao. Nơi sinh sống chủ yếu của sinh viên  
là vùng đồng bằng. Tuy nhiên, sinh viên sinh  
sống ở vùng núi chiếm số lượng không nhỏ với  
147 (22,72%) tổng số sinh viên. Đặc biệt sinh  
viên sống vùng thành thị rất ít chỉ có 13 (2,01%).  
Điều này cho thấy Ngành Điều dưỡng vẫn chưa  
thu hút được học sinh phổ thông sống vùng  
thành thị.Với 554 (85,63%) sinh viên có điều kiện  
kinh tế gia đình đủ ăn. Đặc biệt không có sinh  
viên nào có điều kiện kinh tế gia đình giàu có.  
Rất có thể do sự khiêm tốn của sinh viên không  
dám tự nhận mình là con nhà giàu có. Kết quả  
phân tích ở bảng 4 phù hợp với nghiên cứu của  
Bee SB (2012), Kỹ năng giao tiếp hiệu quả thật sự  
rất quan trọng đối với giáo viên trong việc phân  
chia phương pháp sư phạm, quản lý lớp học và  
Bảng 5 cho thấy phương tiện trang thiết bị  
phục vụ dạy học ảnh hưởng đến học tập KNGT  
của sinh viên ở mức vừa 238 (36,8%), mức mạnh  
247 (38,2%), mức rất mạnh 116 (17,9%) với p <  
0,001. Cuộc sống riêng lẻ ở nhà trọ trong thời  
gian học tập ảnh hưởng đến học tập KNGT của  
sinh viên ở mức mạnh 236 (36,5%), mức rất  
mạnh 252 (38,9%) với p = 0,01.  
BÀN LUẬN  
Kết quả nghiên cứu ở bảng 1 phù hợp với  
kết quả nghiên cứu của Hakimzadeh (2013), tỷ  
(3)  
lệ nữ giới trong sinh viên Điều dưỡng là 67,3% .  
Điều này phù hợp với thực tế tại các trường đào  
tạo Điều dưỡng cũng như lực lượng Điều dưỡng  
viên trong bệnh viện. Do đặc thù nghề nghiệp,  
nghề Điều dưỡng là nghề chăm sóc người bệnh,  
xuất phát từ sự nuôi dưỡng của người mẹ đối  
với người bệnh. Do đó quan niệm của xã hội  
phần lớn cho rằng nghề Điều dưỡng là phù hợp  
với giới nữ. Trong thực tế, lực lượng điều dưỡng  
trong các cơ sở y tế đa số là nữ. Mặt khác, quan  
niệm xã hội cho rằng công việc của người điều  
dưỡng trong các cơ sở y tế là thay băng, tiêm  
thuốc, truyền dịch, đo sinh hiệu, lấy bệnh phẩm  
xét nghiệm, vệ sinh cho người bệnh... Mà những  
công việc này đa số nam giới là không thích làm.  
(1)  
tương tác với lớp học . Một nghiên cứu khác  
của Koponen J, Pyorala E & Isotalus P (2012),  
phương pháp dạy của giáo viên ảnh hưởng đến  
(4)  
hiệu quả học tập của sinh viên .  
246  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
3.  
4.  
Hakimzadeh R and et al (2013). Factors affecting the teaching‐  
learning in nursing education. Global Submmit on Education.  
Koponen J, Pyorala E & Isotalus P (2012). Comparing three  
experiential learning methods and their effect on medical  
students’ attitudes to learning communication skills. Medical  
teacher.  
Painter R (2010). Poor nursing communication causes  
needless hospital injuries and deaths. Medical Malpractice  
June 21, 2010.  
Roberts L, Bucksey SJ (2007) Communicating with patients:  
what happens in practice? Physical Therapy 87 (5):586–594.  
Westbrook JL, Duffield C, Li L and Creswick NJ (2011). How  
much time do nurses have for patients? A longitudinal study  
quantifying hospital nurses’ patterns of task time distribution  
and interactions with health professionals. BMC Health  
Services Research 2011, 11:319.  
KẾT LUẬN  
Nghiên cứu này đã chỉ ra các yếu tố ảnh  
hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh  
viên điều dưỡng đó là: sự tự tin, tính hòa đồng,  
sự bối rối, khả năng bắt chuyện, cách chuyển  
vấn đề giao tiếp, khả năng trình bày, năng lực  
giao tiếp của giảng viên, phương pháp dạy của  
giảng viên, giọng nói của giảng viên, thái độ  
giao tiếp của nhân viên bệnh viện, phương tiện‐  
trang thiết bị dạy học kỹ năng giao tiếp và cuộc  
sống riêng lẻ ở nhà trọ trong dân cư. Mức độ  
ảnh hưởng của các yếu tố này là khác nhau với  
mức ý nghĩa thống kê P < 0,001.  
5.  
6.  
7.  
Ngày nhận bài  
Ngày phản biện nhận xét bài báo  
Ngày bài báo được đăng:  
25/08/2013.  
04/09/2013.  
18/10/2013  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Bee SB (2012). The impact of teachers’ communication skills  
on teaching. Major articles, Feb 2012, ISSN 1755‐9715.  
Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2010). Chương trình khung giáo dục  
đại học.  
2.  
247  
Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học  
pdf 6 trang yennguyen 23540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những yếu tố ảnh hưởng đến học tập kỹ năng giao tiếp của sinh viên điều dưỡng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_yeu_to_anh_huong_den_hoc_tap_ky_nang_giao_tiep_cua_sin.pdf