Ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh

33  
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC XAÕ HOÄI SOÁ 11(183)-2013  
VAÊN HOÏC - NGOÂN NGÖÕ HOÏC - NGHIEÂN CÖÙU VAÊN HOÙA - NGHEÄ THUAÄT  
NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP GIA ĐÌNH  
CỦA NGƯỜI CHĂM Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN  
và quan trọng nhất của các thành viên  
trong cộng đồng người. Nhờ có ngôn ngữ  
mà con người có diễn đạt làm cho người  
khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng  
thái và nguyện vọng của mình. Ngôn ngữ  
cũng chính là phương tiện để truyền lại  
những kinh nghiệm, tri thức, trí tuệ… làm  
nên giá trị văn hóa của mỗi tộc người. Nhờ  
có ngôn ngữ, các cộng đồng người được  
gắn kết với nhau, là tác nhân để duy trì,  
củng cố niềm tin, tập quán và những quy  
định của cộng đồng.  
TÓM TẮT  
Bài viết đề cập đến giao tiếp trong phạm vi  
gia đình của người Chăm tại TPHCM trong  
bối cảnh cuộc sống đô thị hóa đang diễn ra  
mạnh mẽ tạo điều kiện cho sự giao thoa  
tiếp xúc ngôn ngữ. Trạng thái song ngữ  
tiếng Việt-tiếng Chăm được coi là trạng  
thái chủ đạo, trong đó tiếng Chăm chiếm ưu  
thế trong đời sống cộng đồng của người  
Chăm. Bằng các số liệu khảo sát định  
lượng và định tính tại phường 17, quận Phú  
Nhuận, TPHCM trong năm 2012, bài viết  
giúp chúng ta nhận diện được các nhân tố  
ảnh hưởng đến ngôn ngữ trong giao tiếp  
của người Chăm thông qua các tiêu chí:  
giới tính, tuổi tác, học vấn và nghề nghiệp.  
Mỗi con người (ngoại trừ những trường  
hợp hết sức đặc biệt) đều được sinh ra và  
lớn lên từ một gia đình. Mỗi một gia đình  
lại hợp nhau thành cộng đồng làng xóm,  
rộng hơn là Tổ quốc. Trong lịch sử phát  
triển của xã hội, gia đình bao giờ cũng là  
giá trị hạt nhân. Những giá trị về văn hóa  
gia đình là một bộ phận không thể thiếu để  
làm nên những giá trị văn hóa chung của  
văn minh nhân loại.  
DẪN NHẬP  
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản  
Trần Phương Nguyên. Thạc sĩ. Viện Khoa học  
Xã hội vùng Nam Bộ.  
Trong gia đình, con người sử dụng ngôn  
ngữ đầu đời của mình là tiếng mẹ đẻ. Đây  
chính là sợi dây gắn kết giữa các thành  
viên trong gia đình và cộng đồng, là tình  
cảm ngôn ngữ thiêng liêng, gần gũi, góp  
phần hình thành và phát triển nhân cách  
mỗi người. Với chức năng là phương tiện  
Bài viết là một phần kết quả nghiên cứu của  
đề tài cấp Bộ “Một số vấn đề chính sách ngôn  
ngữ đối với công đồng người Chăm trong sự  
phát triển bền vững vùng Nam Bộ, 2011-  
2012”. Chủ nhiệm đề tài: Trần Phương  
Nguyên. Chủ trì: Viện Phát triển bền vững  
vùng Nam Bộ  
34  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
giao tiếp quan trọng nhất của con người,  
ngôn ngữ là phương tiện đích thực để con  
người truyền lại tri thức cho đời sau.  
Những tri thức bản địa cùng với tri thức  
hiện đại sẽ góp phần quan trọng vào việc  
phát triển xã hội bền vững.  
người của một dân tộc. Thế giới ngôn ngữ  
của con người được hình thành từ hai nửa:  
một nửa là năng lực ngôn ngữ (thuộc  
phạm trù tâm lý) và một nửa khác là sự  
vận dụng ngôn ngữ (thuộc phạm trù xã  
hội).  
Xét ở góc độ ngôn ngữ, những cá nhân  
trong cộng đồng các dân tộc thiểu số  
(trong đó gia đình là nền tảng) phải đồng  
thời sử dụng tốt cả tiếng mẹ đẻ và ngôn  
ngữ quốc gia là tiếng Việt, bởi vì muốn  
phát triển kinh tế và khoa học công nghệ  
cần hội nhập với thế giới, và do đó cần  
phải giảm bớt các rào cản về ngôn ngữ. Ở  
trường hợp người Chăm, tiếng Việt sẽ  
mang lại cơ hội về giáo dục, nắm bắt khoa  
học kỹ thuật, những lợi ích kinh tế và cả  
địa vị xã hội. Tiếng Chăm sẽ là cầu nối để  
bảo lưu và phát huy các giá trị văn hóa dân  
tộc. Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt mà không  
coi trọng việc học tiếng mẹ đẻ sẽ làm mai  
một và mất dần bản sắc văn hóa của một  
tộc người, của một quốc gia đa dân tộc và  
xét về lâu dài, sẽ là sự phát triển thiếu bền  
vững.  
Năng lực giao tiếp có thể hiểu là năng lực  
vận dụng ngôn ngữ để tiến hành giao tiếp  
xã hội. Khái niệm năng lực giao tiếp là sự  
kết hợp linh hoạt của ba tham tố gồm: cấu  
trúc ngôn ngữ, vận dụng ngôn ngữ và đời  
sống xã hội (Dell Hymes, 1964, dẫn theo  
Nguyễn Văn Khang, 2009, tr. 183).  
Năng lực giao tiếp bao gồm năng lực tạo  
mã (vận dụng) và giải mã (lý giải) được thể  
hiện ở các mặt của hành vi nói năng, đó là  
việc sử dụng biến thể ngôn ngữ thích hợp  
với bối cảnh giao tiếp.  
Trong nghiên cứu của mình, Dell Hymes  
(1964) nhấn mạnh đến khả năng giao tiếp  
(communicative competence) của thành  
viên trong cộng đồng không chỉ là khả  
năng phát âm, hiểu từ vựng và dùng đúng  
quy luật cú pháp, mà còn là sự hiểu biết về  
những quy luật xác định mối tương quan  
giữa ngôn từ và cảnh huống. Nói cách  
khác, khả năng giao tiếp còn có thêm yếu  
tố sử dụng ngôn từ thích hợp trong một  
cảnh huống cụ thể.  
1. QUAN HỆ GIAO TIẾP VÀ CÁC HÌNH  
THỨC GIAO TIẾP  
Trong xã hội, giao tiếp có nhiều phương  
tiện và phương thức khác nhau (tín hiệu,  
ký hiệu, âm thanh, hình vẽ, ánh sáng…)  
nhưng giao tiếp bằng ngôn ngữ là quan  
trọng nhất, được hình thành sớm nhất,  
xuất hiện cùng với ý thức và mang tính  
bản năng.  
J. Fishman (1968, dẫn theo Nguyễn Văn  
Khang, 2012, tr. 45) đã cho rằng, trong xã  
hội đa ngữ, từ vô số bối cảnh giao tiếp  
đồng dạng có thể khái quát thành “lĩnh  
vực” như gia đình, giáo dục, tôn giáo…  
Trong từng lĩnh vực lại có thể chia nhỏ  
thành các tiểu lĩnh vực. Ví dụ, lĩnh vực gia  
đình có thể chia thành ba đời, bốn đời.  
Giao tiếp ngôn ngữ là hoạt động cơ bản,  
tự nhiên, thiết yếu cho sự sinh tồn và phát  
triển của con người trong các mối quan hệ  
với tự nhiên và xã hội. Nó chính là tình  
cảm giao tiếp giữa con người với con  
Đồng quan điểm trên, W. Labov (1966) cho  
rằng, vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học xã  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
35  
hội là phải tìm hiểu xem ai nói, vì sao nói  
và nói như thế nào. Sau này các nhà ngôn  
ngữ học phân tích thành 6 yếu tố cụ thể: Ai  
nói (Who), nói với ai (Whom), nói ở nơi  
nào (Where), nói khi nào (When), vì sao  
nói (Why) và nói gì (What) (Nguyễn Văn  
Khang, 2012, tr. 45). Theo đó, nội dung cơ  
bản của mô thức về biến đổi xã hội của  
W.Labov gồm hai mặt: Sự biến đổi xã hội  
và sự biến đổi phong cách. “Sự biến đổi xã  
hội” được hiểu là ngôn ngữ thay đổi theo  
thuộc tính xã hội của người sử dụng” còn  
“biến đổi phong cách” được hiểu là ngôn  
ngữ thay đổi theo ngữ cảnh. Labov (1967)  
cho rằng cùng một sự vật, hiện tượng  
nhưng tồn tại cách nói khác nhau. Sở dĩ  
người nói sử dụng phong cách nói này mà  
không sử dụng phong cách nói kia là có  
liên quan đến bối cảnh xã hội của người  
nói và ngữ cảnh khi nói.  
gia đình) nói chung. Nói cách khác, ngôn  
ngữ có vai trò trong việc tái tạo cảnh  
huống giao tiếp và tái tạo lại cấu trúc xã  
hội-văn hóa vĩ mô (giới, giai tầng xã hội,  
ranh giới các dân tộc).  
Một cộng đồng ngôn từ có thể sử dụng  
nhiều ngôn ngữ khác nhau để giao tiếp và  
trong trường hợp này, có những quy luật  
tương đối rõ rệt về việc khi nào sử dụng  
ngôn ngữ này và khi nào sử dụng ngôn  
ngữ kia. Đó chính là sự lựa chọn ngôn ngữ.  
Có thể chọn một ngôn ngữ hoặc đồng thời  
cả 2, 3 ngôn ngữ để giao tiếp hay giao tiếp  
theo hướng trộn mã. Chọn cách giao tiếp  
nào là phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố  
xã hội như: ý thức tự giác tộc người, năng  
lực giao tiếp hay mục đích và chiến lược  
giao tiếp.  
2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ GIA ĐÌNH  
NGƯỜI CHĂM Ở TPHCM  
Một cộng đồng xã hội khi lựa chọn ngôn  
ngữ để sử dụng trong một ngữ cảnh nhất  
định đều thể hiện một mô thức khá nghiêm  
chỉnh, có liên quan mật thiết đến sự đánh  
giá chủ quan đối với ngôn ngữ của cộng  
đồng xã hội.  
Gia đình là một thiết chế xã hội có đặc thù  
liên kết con người lại với nhau, nhằm thực  
hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và  
giáo dục con cái. Sự liên kết ít nhất là hai  
người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn  
nhân và nhận con nuôi. Những người này  
có thể sống khác hoặc cùng mái nhà với  
nhau (Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý,  
2009, tr. 54).  
Austin (1975, dẫn theo Lương Văn Hy, 2000,  
tr. 12) cũng nhận định, khi con người giao  
tiếp với nhau không thể không xem xét đến  
bối cảnh giao tiếp, một lời nói nào đó chỉ  
có thể có được hiệu quả và phù hợp khi  
đặt nó ở trong một bối cảnh giao tiếp cụ  
thể. Điều này có nghĩa là nghiên cứu ngôn  
ngữ phải nghiên cứu mối quan hệ giữa  
hành động ngôn từ với bối cảnh hiện thực.  
Như vậy, gia đình là một khái niệm bao  
gồm nhiều yếu tố: sinh học, tâm lý, văn  
hóa, kinh tế,… Từ mỗi góc độ nghiên cứu,  
khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra  
một khái niệm cụ thể, phù hợp với nội  
dung nghiên cứu.  
Gia đình người Chăm ở Việt Nam trước  
đây theo chế độ mẫu hệ, nhưng dưới tác  
động của các nhân tố xã hội trong đó có  
tôn giáo, thiết chế dòng họ của người  
Như vậy, ngôn từ có một chức năng nhất  
định trong việc định hình giao tiếp và quan  
hệ xã hội, cũng như trong việc hình thành  
và tái tạo cấu trúc xã hội (gồm cả cấu trúc  
36  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
Chăm Islam đã biến đổi, kéo theo sự thay  
đổi về văn hóa xã hội của người Chăm.  
Hiện nay người Chăm ở TPHCM theo chế  
độ phụ hệ. Điều này được thể hiện qua  
việc thừa kế tài sản và đặt tên con(1). Mặc  
dù vị trí của nam giới luôn được coi trọng,  
nhưng người mẹ vẫn có vai trò đặc biệt  
nhất, tuy không đưa ra quyết định chính  
thức nhưng lại có sự chi phối lớn trong  
những quyết định của thành viên khác,  
nhất là đối với các con. Điều này có ảnh  
hưởng đến việc sử dụng ngôn ngữ trong  
gia đình, thường thì người mẹ nói ngôn  
ngữ nào thì những đứa con sẽ nói ngôn  
ngữ đó thậm chí cả người chồng cũng có  
sự thay đổi ngôn ngữ theo vợ (kết quả  
phỏng vấn định tính của đề tài năm 2012).  
với một cặp vợ chồng chưa có con, là  
nhóm người thể hiện mối quan hệ của  
chồng và vợ với các con. Do vậy, cũng có  
thể có gia đình nhỏ đầy đủ và gia đình nhỏ  
không đầy đủ. Gia đình nhỏ đầy đủ là loại  
gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối  
quan hệ (chồng, vợ, các con); ngược lại,  
gia đình nhỏ không đầy đủ là loại gia đình  
không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là  
trong đó chỉ tồn tại quan hệ của người vợ  
với người chồng hoặc chỉ của người bố  
hoặc người mẹ với các con. Gia đình nhỏ  
là dạng gia đình đặc biệt quan trọng, là  
kiểu gia đình của tương lai và ngày càng  
phổ biến trong xã hội công nghiệp hiện đại.  
Cấu trúc các dạng gia đình trong cộng  
đồng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử  
dụng ngôn ngữ bởi vì sau hôn nhân, các  
gia đình được chia tách dường như có mối  
quan hệ xa dần với các thế hệ trước đó,  
các yếu tố văn hóa truyền thống dần bị chi  
phối bởi môi trường đô thị hóa trong đó có  
ngôn ngữ. Thêm vào đó, tình trạng hôn  
nhân đa ngôn ngữ trong các gia đình khi bị  
chia tách nhỏ, sẽ làm mai một và thay đổi  
dần yếu tố ngôn ngữ truyền thống, đã  
được xây dựng trong gia đình từ thế hệ  
này sang thế hệ khác. Điều này cho thấy  
tầm quan trọng sống còn của ngôn ngữ  
trong môi trường gia đình. Colin Baker  
(2008, tr. 115) cho rằng: môi trường gia  
đình trở thành nguyên nhân trực tiếp cho  
sự sụp đổ, sự phục hồi, sự duy trì của  
ngôn ngữ thiểu số.  
Gia đình người Chăm ở TPHCM tồn tại  
dưới 2 dạng: gia đình lớn và gia đình nhỏ.  
– Gia đình lớn (gia đình ba thế hệ hoặc gia  
đình mở rộng) thường được coi là gia đình  
truyền thống liên quan tới mô hình gia đình  
trong quá khứ. Đó là một nhóm người ruột  
thịt vài thế hệ sống chung với nhau dưới  
một mái nhà, thường từ ba thế hệ trở lên,  
tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả  
những người ruột thịt từ tuyến phụ. Dạng  
cổ điển của gia đình lớn là gia đình trưởng  
lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ. Nó liên  
kết ít nhất vài gia đình nhỏ và những người  
lẻ loi. Ngày nay, gia đình lớn thường gồm  
cặp vợ chồng, con cái và bố mẹ của họ.  
Trong gia đình này, quyền hành không ở  
trong tay của người lớn tuổi nhất.  
3. SỬ DỤNG NGÔN NGỮ GIAO TIẾP  
TRONG GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CHĂM Ở  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
– Gia đình nhỏ (gia đình cá thể hoặc gia  
đình hạt nhân) Hiện nay dạng gia đình này  
trở nên phổ biến, chiếm tới 61%(2) trong  
tổng số hộ được khảo sát trong đó 58% là  
tiểu gia đình trọn vẹn và 3% là tiểu gia đình  
Hoàn cảnh giao tiếp gắn liền với địa bàn  
sử dụng, tình trạng sử dụng ngôn ngữ,  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
37  
dẫn đến sự giao thoa, tiếp xúc ngôn ngữ,  
do tiếp xúc tộc người.  
thái độ tích cực đối với ngôn ngữ của cộng  
đồng. Có thể nói, đặc điểm tôn giáo, một  
yếu tố hợp thành cảnh huống ngôn ngữ của  
tiếng Chăm Nam Bộ đã nâng cao vị thế  
của tiếng Chăm trong giao tiếp cộng đồng,  
làm cho xã hội Chăm trở nên bền chặt.  
3.1. Bối cảnh giao tiếp của người Chăm ở  
TPHCM  
Bối cảnh, môi trường giao tiếp của người  
Chăm ở TPHCM là cuộc sống sôi động  
của đô thị đang phát triển nhanh, giao tiếp  
gia đình phụ thuộc vào các yếu tố xã hội,  
liên quan đến môi trường song ngữ, đa  
ngữ, chủ yếu là tiếng Việt phổ thông và  
tiếng Việt Nam Bộ, tiếp theo là tiếng Khmer,  
tiếng Anh, tiếng Hoa…  
Xét ở bình diện giao tiếp xã hội, người  
Chăm ở TPHCM đều sử dụng song ngữ  
Chăm-Việt. Nhiều trường hợp người Chăm  
còn sử dụng cả tiếng Khmer và tiếng Hoa.  
Nhưng trong cộng đồng người Chăm, sử  
dụng tiếng Chăm trở thành một quy ước  
trong cộng đồng. Hầu như 100% người  
Chăm đều nói được tiếng Chăm và dùng  
tiếng Chăm trong giao tiếp gia đình. Ngoài  
ra, người Chăm còn sử dụng tiếng Chăm  
(Arab) để đọc kinh Coran và trau dồi giáo lý.  
Phạm vi giao tiếp trong gia đình và xã hội  
của người Chăm tại TPHCM sẽ gợi mở  
những vấn đề liên quan đến việc sử dụng  
tiếng mẹ đẻ (bản ngữ). Yếu tố thuần Chăm  
có phần nổi trội hơn mặc dù chỉ ở mức  
tương đối.  
Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông, đây là  
cầu nối để các cộng đồng người dân tộc  
thiểu số có thể hưởng thụ được các nhu  
cầu khác của xã hội như tiếp thu kiến thức  
khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế, giáo  
dục và cả cơ hội việc làm. Biết tiếng Việt,  
người Chăm có cơ hội hòa nhập cộng  
đồng và có điều kiện phát triển. Trong khi  
đó, tiếng Chăm giúp cho việc bảo tồn các  
giá trị văn hóa, củng cố bản sắc cộng đồng,  
làm cho sự phát triển trở nên toàn diện và  
bền vững. Sự phân công chức năng giao  
tiếp (hay môi trường giao tiếp) giữa tiếng  
Chăm và tiếng Việt khá rõ ràng. Vì thế, có  
thể nói người Chăm ở TPHCM không thể  
thiếu đi một trong hai ngôn ngữ trong cuộc  
sống hàng ngày của họ.  
Xét về mặt dân số, người Chăm có số dân  
không đông so với các dân tộc khác ở  
Nam Bộ cũng như TPHCM (đứng thứ 4,  
sau người Kinh, người Hoa và Khmer).  
Điều này ít nhiều có sự bất lợi trong việc  
duy trì và phát triển tiếng Chăm trong mối  
quan hệ với các cộng đồng có số dân lớn  
hơn, làm giảm khả năng hành chức của  
ngôn ngữ vì thiếu môi trường giao tiếp.  
Tuy nhiên với lợi thế là phương tiện truyền  
bá kinh thánh của một tôn giáo (đạo Islam),  
tiếng Chăm có một vị trí quan trọng trong  
đời sống văn hóa tâm linh của người  
Chăm theo đạo Islam. Nó không những  
được sử dụng như một công cụ giao tiếp  
mà còn là sợi dây liên kết giữa những  
người Chăm trong văn hóa tâm linh của họ. Khảo sát tại địa bàn TPHCM thì có tới 98%  
Từ việc cầu nguyện hàng ngày, cho đến  
các nghi lễ tang ma, cưới hỏi, hay trong  
các lễ hội, họ đều sử dụng tiếng Chăm làm  
phương tiện biểu đạt. Điều này, thể hiện  
người Chăm biết tiếng Việt, một số người  
còn biết cả tiếng Anh và và tiếng Melayu.  
Đây chính là cầu nối để họ tìm kiếm cơ hội  
giáo dục tốt nhất cho mình. Người Chăm  
38  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
tiếp nhận tiếng Việt qua giao tiếp hàng  
ngày và qua giáo dục. Những người lớn  
tuổi trong cộng đồng biết tiếng Việt do giao  
tiếp ngoài cộng đồng, còn trẻ em thì do  
được đến trường từ rất sớm. Môi trường  
giáo dục ở TPHCM được coi là ít có sự  
khác biệt với trẻ em các dân tộc so với ở  
vùng nông thôn. Tuy các em không thông  
thạo tiếng Việt bằng những trẻ em người  
Kinh nhưng khả năng nói tiếng Việt của  
các em đều đạt trình độ giao tiếp chấp  
nhận được. Một điều đáng chú ý là người  
Chăm có thể chuyển mã một cách thành  
thạo từ tiếng Việt sang tiếng Chăm và  
ngược lại khi giao tiếp.  
Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể, người  
Chăm vẫn phải lựa chọn ngôn ngữ cho  
phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, hoặc là  
sử dụng tiếng Chăm, tiếng Việt và cả tiếng  
Khmer, hoặc là tiếng Melayu, tiếng Anh.  
Sự lựa chọn ấy phụ thuộc vào môi trường  
giao tiếp trong gia đình hay ngoài xã hội.  
3.2. Đặc điểm giao tiếp ngôn ngữ trong gia  
đình của người Chăm ở TPHCM  
Ở trong bối cảnh giao tiếp này có hai  
trường hợp xảy ra, đó là giao tiếp với các  
thành viên trong gia đình và giao tiếp với  
khách. Ở mỗi hoàn cảnh giao tiếp khác  
nhau, người Chăm sử dụng ngôn ngữ  
khác nhau cho phù hợp.  
Một số lượng lớn người Chăm ở TPHCM  
do mưu sinh đã phải bươn chải làm ăn bên  
ngoài cộng đồng, vì thế đã tạo ra những  
mối liên hệ khác trong xã hội, sử dụng các  
ngôn ngữ khác nhau, trong đó tiếng Việt là  
chủ yếu, ngoài ra còn có cả tiếng Anh,  
Khmer và một vài  
Giao tiếp trong gia đình bao gồm bố, mẹ,  
ông, bà, anh, chị, em, cô, dì, chú, bác…  
hầu hết người Chăm đều sử dụng tiếng  
mẹ đẻ. Trong quá trình đi điền dã, chúng  
tôi nhận thấy rằng, mặc dù trong gia đình  
Biểu đồ 1: Tình trạng sử dụng tiếng Chăm khi giao tiếp trong gia đình  
trường hợp là tiếng  
Hoa. Việc sử dụng  
đa ngôn ngữ, ngoài  
lý do làm ăn buôn  
bán, còn vì có một  
số người Chăm kết  
hôn với người dân  
tộc khác, chủ yếu  
là người Khmer.  
Mặc dù trong bối  
cảnh ngôn ngữ  
không thuần nhất,  
nhưng người Chăm  
ở TPHCM luôn ý  
thức cao về việc  
sử dụng tiếng nói  
của dân tộc mình.  
Nguồn: Kết quả điều tra định lượng đề tài năm 2012.  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
39  
có những cặp hôn nhân khác dân tộc,  
chẳng hạn như kết hôn với người Kinh,  
Khmer hoặc người Hoa thì những người  
ngoại tộc đó đều phải học tiếng Chăm và  
thường sử dụng tiếng Chăm. Nhưng vì  
trong gia đình có người khác dân tộc sinh  
sống nên đôi khi các thành viên trong gia  
đình vẫn có sử dụng tiếng Việt trong giao  
tiếp, chẳng hạn như khi xem ti vi hoặc bàn  
luận một vấn đề gì đó của gia đình. Tuy  
nhiên, nét chủ đạo ở đây vẫn là tiếng  
Chăm. Trạng thái ngôn ngữ phổ biến ở thế  
hệ ông bà là đơn ngữ (tiếng mẹ đẻ). Ở các  
thế hệ sau như bố, mẹ, con, cháu, trạng  
thái ngôn ngữ là song ngữ (tiếng Chăm và  
tiếng Việt). Tình trạng này có xu hướng  
tăng dần ở các thế hệ tiếp theo.  
là cộng đồng Chăm ở phường 17) với 117  
người. Đây là địa bàn tập trung người  
Chăm đông thứ 2 ở TPHCM (771 người,  
chiếm 20,45%), nằm ngay trục giao thông  
chính của quận Phú Nhuận. Toàn bộ  
người Chăm đều theo đạo Hồi (Islam),  
cuộc sống sinh hoạt mang những nét đặc  
thù. Họ mưu sinh chủ yếu bằng nghề buôn  
bán-dịch vụ và làm thuê.  
Trong mẫu khảo sát xét nam là 53 người  
(45,3%) và nữ là 64 người (54,7%). Về  
nhóm tuổi, số người từ 15 đến 18 tuổi là 8  
người (6,8%), từ 19 đến 30 tuổi là 66  
người (56,4%), từ 31 đến 60 tuổi là 43  
người (36,8%) và trên 60 tuổi không có. Về  
nghề nghiệp, mẫu có 18 người làm công  
việc nội trợ (15,4%), 76 người hoạt động  
buôn bán-dịch vụ (65,%), 16 người là học  
sinh, sinh viên, công nhân viên (13,7%) và  
7 người làm các công việc khác (6%) như  
bảo vệ, giáo viên dạy thể dục nhịp điệu, kỹ  
sư xây dựng,… Buôn bán-dịch vụ là nghề  
nghiệp nổi trội của người Chăm trong mẫu  
khảo sát. Về học vấn, số người chưa và  
không đi học là 12 người (10,3%), người  
có trình độ tiểu học là 3 người (2,6%), trình  
độ cấp 2 là 42 người (35,9%), trình độ cấp  
3 là 44 người (37,6%) và trình độ đại học  
là 16 người (13,7%).  
Khi giao tiếp với khách trong gia đình, nếu  
là khách quen (hàng xóm) cùng dân tộc,  
người Chăm sử dụng tiếng Chăm và tiếng  
Việt, tiếng Chăm là 50,5%, vừa Việt vừa  
Chăm là 47,9%. Có một vài trường hợp sử  
dụng tiếng Khmer do trước đây họ có một  
thời gian dài sinh sống và làm ăn buôn bán  
với người Khmer, hoặc có vợ hay chồng là  
người Khmer.  
Đối với khách quen là người khác dân tộc  
thì hầu như họ sử dụng tiếng Việt trong  
giao tiếp, trừ khi họ không biết nhiều về  
tiếng Việt mà trong khi đó người khách lại  
biết nói tiếng Chăm và chủ động giao tiếp  
bằng tiếng Chăm trước. Cách sử dụng  
ngôn ngữ này không chỉ với người Việt mà  
cả với người Khmer và người Hoa.  
3.3.1. Giao tiếp với các thành viên trong  
gia đình  
Các tiêu chí về nhân khẩu xã hội bao gồm:  
giới tính, tuổi tác, học vấn và nghề nghiệp.  
Đây là những đặc điểm quan trọng tạo ra  
sự khác biệt căn bản về giai tầng. Qua  
khảo sát sẽ giúp chúng ta nhận diện  
những nhân tố đã làm nên sự khác nhau  
trong giao tiếp gia đình của người Chăm ở  
TPHCM.  
3.3. Một số đặc điểm trong giao tiếp gia  
đình qua khảo sát các tiêu chí nhân khẩu  
học  
Tại TPHCM, nhóm đề tài lựa chọn quận  
Phú Nhuận làm địa bàn nghiên cứu (cụ thể  
40  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
Xét về giới tính, khi giao tiếp với bố mẹ và  
cô dì chú bác, nam giới sử dụng tiếng  
Chăm thấp hơn nữ giới nhưng không đáng  
kể (với bố mẹ: 92,5%; 86,8%); (với cô dì,  
chú bác: 93,7%; 93%). Số người nam sử  
dụng song ngữ (Chăm-Việt) để giao tiếp  
cao hơn nữ (nam: 7,5%; nữ: 4,7%). Khi  
giao tiếp với con cái, nam giới cũng ít sử  
dụng tiếng Chăm hơn là nữ, mức độ chênh  
lệch là 3,5%. Trong khi đó, mức độ sử  
dụng hoàn toàn bằng tiếng Chăm của nữ  
giới cũng cao hơn nam giới (45,3% so với  
30,2%). Xét trong toàn bộ mối quan hệ gia  
đình thì tỉ lệ nói tiếng Chăm của nữ nhiều  
hơn nam giới nhưng không đáng kể: (nam:  
76%; nữ: 73,6%). Mức độ sử dụng song  
ngữ của nữ cũng nhiều hơn nam: 11,3%  
so với 1,6%.  
19-30 sử dụng ở mức 93,9% (51,5% và  
42,4%); nhóm tuổi từ 31-60 là 97,7%  
(53,5% và 44,2%).  
Trong 3 nhóm tuổi kể trên thì nhóm tuổi từ  
31-60 nói tiếng Chăm nhiều nhất, nói ít  
hơn rơi vào nhóm tuổi 13-18 và ở nhóm  
này tỉ lệ dùng song ngữ Chăm-Việt cũng  
cao hơn hẳn các nhóm còn lại (12,5% so  
với 6,1% và 4,1%).  
Số liệu nói trên cho thấy có sự khác nhau  
trong việc lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp  
giữa các thế hệ trong gia đình. Đa số đều  
sử dụng tiếng Chăm trong giao tiếp  
nhưng tỉ lệ nói tiếng Chăm nhiều nhất là  
lứa tuổi trung niên trở lên. Điều này cho  
thấy những người lớn tuổi có xu hướng  
lưu giữ các giá trị truyền thống. Trong khi  
đó các thành viên ở độ tuổi thiếu niên và  
thanh niên có xu hướng sử dụng tiếng  
Việt nhiều hơn và trạng thái song ngữ  
Chăm-Việt được sử dụng cao nhất so với  
các nhóm tuổi khác. Có thể do nhóm tuổi  
này chịu ảnh hưởng của giáo dục nhiều  
hơn, tính cách năng động hơn, dễ tiếp thu  
các yếu tố mới trong môi trường giao tiếp  
xung quanh với tuyệt đại đa số là người  
Việt.  
Số liệu khảo sát trên cho thấy, người  
Chăm khi giao tiếp với người thân ở các  
thế hệ (ông bà, bố mẹ, cô dì, chú bác, con  
cái) đa số dùng tiếng Chăm để giao tiếp.  
Tình trạng sử dụng phần lớn tiếng Việt và  
hoàn toàn tiếng Việt trong giao tiếp với  
người thân là không có, trạng thái đa ngữ  
ít, nữ dùng tiếng Chăm để giao tiếp với  
người thân nhiều hơn nam. Điều này cho  
thấy trong gia đình người Chăm, người mẹ  
có vị trí quan trọng. Mặc dù hiện nay người  
Chăm ở TPHCM theo chế độ phụ hệ  
nhưng tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn  
có ảnh hưởng nhất định(3).  
Xét về nghề nghiệp, người Chăm ở  
TPHCM làm nhiều nghề để mưu sinh  
nhưng nhiều nhất là nhóm buôn bán dịch  
vụ. So với một số dân tộc ít người cùng  
sinh sống trong địa bàn ở TPHCM thì  
người Chăm dù làm bất cứ nghề nghiệp  
nào khi giao tiếp với người thân trong gia  
đình cũng đều dùng tiếng Chăm. Tỉ lệ tuy  
không giống nhau nhưng cũng không tạo  
nên sự cách biệt quá lớn.  
Xét về lứa tuổi, ở độ tuổi càng cao thì tỉ lệ  
sử dụng tiếng Chăm để giao tiếp với người  
thân trong gia đình càng cao. Trong số  
mẫu được hỏi thì ở nhóm tuổi từ 13-18,  
việc sử dụng hoàn toàn tiếng Chăm và  
phần lớn tiếng Chăm trong giao tiếp với  
ông bà là 75% (50% và 25%); nhóm tuổi từ  
Trong các nhóm nghề, nhóm buôn bán  
dịch vụ có tỉ lệ sử dụng tiếng Chăm cao  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
41  
nhất trong tất cả các quan hệ giao tiếp  
(với ông bà bố mẹ, cô dì chú bác, anh chị  
em, vợ chồng và con cái, lần lượt là  
96,1%; 94,7%; 85,5%; 77,6%). Nhóm sử  
dụng tiếng Chăm ít hơn là nhóm học sinh  
sinh viên (dao động từ 87-93%) và cũng  
là nhóm sử dụng song ngữ Chăm-Việt  
nhiều hơn các nhóm khác trong giao tiếp  
với ông bà bố mẹ (12,5%). Có thể do  
nhóm buôn bán dịch vụ có giao tiếp xã hội  
nhiều, do họ thường xuyên tiếp xúc bên  
ngoài xã hội nên họ luôn lựa chọn ngôn  
ngữ sử dụng phù hợp với các đối tượng,  
hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Nhóm học  
sinh-sinh viên do tiếp cận với giáo dục  
(tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, ngôn  
ngữ sử dụng bắt buộc trong các hệ thống  
giáo dục quốc dân) nên nhóm này sử  
dụng cả tiếng Việt và tiếng Chăm để giao  
tiếp trong gia đình.  
nhất là nhóm học đại học (79%) và cao  
nhất là nhóm học sinh tiểu học và cấp 2:  
(100%).  
Trong giao tiếp vợ chồng, nhóm có trình độ  
học vấn cấp 3 sử dụng song ngữ nhiều  
nhất trong các nhóm (9,1%) cũng như sử  
dụng tiếng Việt nhiều nhất trong giao tiếp  
(6,8%).  
Tiếng Chăm là ngôn ngữ dùng để giao  
tiếp trong gia đình của người Chăm ở  
TPHCM. Dù ở trình độ nào thì người  
Chăm cũng có thể dùng tiếng Chăm để  
giao tiếp với những người thân của mình.  
Trong các mối quan hệ gia đình thì với  
ông bà, cha mẹ và anh chị em ruột, tiếng  
Chăm được sử dụng nhiều nhất. Trong  
mối quan hệ vợ chồng, tỉ lệ sử dụng tiếng  
Chăm có giảm. Trong xu hướng phát triển  
hiện nay, kiểu gia đình hạt nhân trở nên  
phổ biến. Các cặp vợ chồng trẻ tách ra ở  
riêng, do tiếp xúc với bạn bè và các  
phương tiện nghe nhìn nhiều nên họ giao  
tiếp với nhau bằng tiếng Việt nhiều hơn.  
Nhìn ở góc độ học vấn, thì nhóm người  
có trình độ tiểu học nói tiếng Chăm nhiều  
nhất và giảm dần ở những người có trình  
độ cao hơn.  
Xét về trình độ học vấn, khi giao tiếp với  
ông bà, các nhóm ở mọi trình độ học vấn  
đều có tỉ lệ sử dụng tiếng Chăm cao, dao  
động từ 91,17% đến 100%. Ngoài xu  
hướng trân trọng các giá trị truyền thống  
không loại trừ khả năng sử dụng tiếng  
Việt của ông bà không tốt bằng những  
nhóm còn lại nên hầu như họ chỉ sử dụng  
tiếng Chăm.  
3.3.2. Giao tiếp với khách  
Khi giao tiếp với người quen cùng dân tộc,  
người Chăm ở TPHCM thường dùng tiếng  
Chăm để giao tiếp..  
Trong giao tiếp với bố mẹ, các nhóm sử  
dụng tiếng Chăm cũng rất cao từ 93 % đến  
100%. Bên cạnh đó thì nhóm có trình độ  
cấp 3 và đại học có tỉ lệ sử dụng song ngữ  
cao hơn so với các nhóm khác: 11,4% và  
12,5%. Ngôn ngữ mẹ đẻ là sợi dây gắn kết  
tình cảm, tạo sự gắn bó yêu thương nhiều  
hơn trong gia đình.  
Đối với khách lạ dù là người dân tộc nào,  
người Chăm thường sử dụng tiếng Việt để  
giao tiếp. Nếu khách là người Khmer,  
người Chăm có thể nói tiếng Khmer nhưng  
trường hợp này không nhiều.  
Giao tiếp với anh chị em của nhóm chưa đi  
học trong gia đình thì tiếng Chăm vẫn giữ  
vai trò chủ đạo. Sử dụng tiếng Chăm thấp  
Trong những phỏng vấn người Chăm ở  
TPHCM, khi được hỏi “Có khách tới nhà  
ông bà thường sử dụng tiếng Việt hay  
42  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
tiếng Chăm để giao tiếp?” thì được trả lời:  
“Nếu là người Chăm thì dĩ nhiên mình nói  
tiếng Chăm à còn thì nói tiếng Việt”(4). Kết  
quả khảo sát cho thấy đối với những người  
khách không phải là người Chăm thì người  
Chăm không sử dụng tiếng Chăm để giao  
tiếp, trừ khi người khách biết tiếng Chăm  
và chủ động nói tiếng Chăm trước. Nhưng  
trường hợp này ít xảy ra. Trường hợp  
dùng cả tiếng Việt và tiếng Chăm trong  
giao tiếp chiếm tỉ lệ cao nhất và nghiêng về  
nam giới (nam: 66%; nữ: 60,9%). Số  
người nói hoàn toàn bằng tiếng Việt đối  
với nam là 22,6% và với nữ là 17,2%.  
tiếng Việt trong giao tiếp khá cao: 27,9%  
so với hai nhóm còn lại (19-30: 13,6%; 13-  
39: 25%). Điều này có thể lý giải, lứa tuổi  
19-30 là lứa tuổi năng động, nhanh nhạy  
với những thay đổi của môi trường xung  
quanh nên có cách ứng xử linh hoạt. Còn  
những người ở nhóm tuổi từ 31-60 thì xu  
hướng sử dụng tiếng Việt nhiều hơn. Có lẽ  
đây là nhóm tuổi có nhiều trải nghiệm trong  
cuộc sống, tiếp xúc bên ngoài cộng đồng  
nhiều hơn nên khả năng tiếng Việt tốt hơn  
và sử dụng nhiều hơn.  
Xét theo tiêu chí học vấn, người Chăm dù  
ở trình độ nào khi gặp khách là người khác  
dân tộc đều dùng tiếng Việt để giao tiếp  
như đã nói ở phần trên. Cho dù không đi  
học, nhưng nhóm người này vẫn sử dụng  
tiếng Việt tương đối tốt. Khả năng song  
ngữ Chăm-Việt của họ so với các nhóm  
khác thấp hơn không nhiều (66,7% so với  
75%). Tỉ lệ nói phần lớn tiếng Việt và hoàn  
toàn tiếng Việt là 25%. Đối với nhóm có  
trình độ tiểu học thì khi giao tiếp với khách  
lạ họ dùng 100% tiếng Việt để giao tiếp.  
Có thể lý giải những người lớn tuổi này tuy  
không đi học nhưng họ có sự trải nghiệm  
bên ngoài cộng đồng nhiều nên khả năng  
giao tiếp linh hoạt.  
Điều này có thể lý giải nam giới thường ra  
ngoài nhiều hơn, tham gia các công việc  
ngoài xã hội nhiều hơn, còn nữ giới chủ  
yếu giao tiếp trong nội bộ cộng đồng. Điều  
này một phần do sự phân công lao động  
trong gia đình, nam giới thường đảm nhận  
các công việc bên ngoài, còn nữ giới chủ  
yếu đảm nhận công việc nội trợ. Sự khác  
nhau về điều kiện tiếp xúc dẫn đến việc sử  
dụng tiếng Việt khác nhau.  
Xét theo tiêu chí nhóm tuổi, nhóm từ 13-18  
tuổi sử dụng song ngữ để giao tiếp với  
khách lạ là 62,5%; ngoài ra tỉ lệ sử dụng  
tiếng Việt và phần lớn tiếng Việt trong  
giao tiếp với khách lạ khá cao (37%). Đây  
là độ tuổi đến trường, thường xuyên tiếp  
xúc với thầy, cô, bạn bè là người Việt nên  
khả năng sử dụng tiếng Việt tốt là điều dễ  
hiểu.  
Đối với nhóm người học cấp 2 và cấp 3 thì  
tỉ lệ giao tiếp sử dụng song ngữ Việt-  
Chăm tương đương các nhóm khác  
(61,9%; 63,6%). Nhưng tỉ lệ sử dụng hoàn  
tiếng Việt để giao tiếp với khách lạ cao  
nhất trong các nhóm (21,4%).  
Trong ba nhóm tuổi thuộc mẫu khảo sát thì  
nhóm từ 19-30 sử dụng song ngữ Việt-  
Chăm chiếm tỉ lệ cao nhất: 71,2%. Nhóm  
tuổi 13-18: 62,5%; nhóm ít sử dụng song  
ngữ nhất là nhóm 31-60 (51,2%), nhưng  
nhóm này lại là nhóm sử dùng hoàn toàn  
Nhóm người có trình độ đại học phần lớn  
sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp với  
khách. Trong mẫu trả lời tỉ lệ lựa chọn là  
100% (hoàn toàn tiếng Việt: 75%; phần lớn  
tiếng Việt: 12,5%; song ngữ: 12,5%).  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
43  
Như vậy, người Chăm ở TPHCM sử dụng  
khá tốt cả tiếng Việt và tiếng Chăm. Tình  
trạng sử dụng song ngữ Chăm-Việt để  
giao tiếp với khách khá đồng đều (dao  
động trong khoảng từ 61,9%-75%). Trừ  
những người đi chưa đi học và học vấn  
cấp 1 sử dụng tiếng Việt tốt như đã lý giải  
ở trên, còn lại mức độ giao tiếp bằng tiếng  
Việt tăng theo trình độ học vấn.  
có chung đặc điểm là không sử dụng tiếng  
Chăm khi giao tiếp với khách lạ.  
4. KẾT LUẬN  
Trong đời sống xã hội, người Chăm  
TPHCM sử dụng ngôn ngữ ở trạng thái  
song ngữ: Việt-Chăm; Việt-Khmer; Việt-  
Chăm-Melayu; Việt-Hoa; trong đó song  
ngữ Chăm-Việt là trạng thái chủ đạo và  
bền vững trong đời sống cộng đồng. Đây  
là đặc điểm nổi bật của cảnh huống ngôn  
ngữ vùng người Chăm TPHCM.  
Xét theo tiêu chí nhóm nghề, trong số 4  
nhóm nghề thì nhóm học sinh sinh viên-  
công nhân viên sử dụng song ngữ để giao  
tiếp với khách nhiều nhất, nhóm này cũng  
sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với khách  
cao hơn những nhóm còn lại. Đây là nhóm  
có trình độ học vấn cao, có một khoảng  
thời gian dài thường xuyên sử dụng tiếng  
Việt trong học tập. Đối với công nhân viên  
thì họ làm việc trong môi trường hầu hết là  
người Việt nên sử dụng tiếng Việt cao là  
điều dễ hiểu.  
Đa số người Chăm TPHCM đều sử dụng  
tốt tiếng Chăm trong giao tiếp, không có  
trường hợp nào không biết tiếng mẹ đẻ.  
Đó là ngôn ngữ sử dụng trong gia đình.  
Người Chăm ở TPHCM sử dụng tốt tiếng  
Chăm trong gia đình bên cạnh việc sử  
dụng tốt tiếng Việt ở bên ngoài cộng đồng.  
Xét về giới tính, nữ giới thường sử dụng  
tiếng Chăm tốt hơn. Về tuổi tác, những  
người ở nhóm tuổi từ 31-60 sử dụng tiếng  
Chăm cao nhất so với các nhóm còn lại.  
Xét về tiêu chí nghề nghiệp, nhóm buôn  
bán dịch vụ là nhóm sử dụng tốt nhất hai  
ngôn ngữ Chăm-Việt vì thường xuyên có  
quan hệ buôn bán cả ngoài và trong cộng  
đồng. Dựa trên tiêu chí học vấn cho thấy  
nhóm người Chăm có học vấn cao có khả  
năng giao tiếp tiếng Việt nhiều hơn.  
Những người làm công việc nội trợ sử  
dụng chủ yếu tiếng Việt trong giao tiếp với  
khách là 33%; sử dụng song ngữ Chăm-  
Việt là 50%; hoàn toàn Việt là 11,1%. Đây  
là nhóm ít sử dụng tiếng Việt nhất so với  
hai nhóm còn lại vì môi trường giao tiếp  
chủ yếu trong gia đình và cộng đồng.  
Những người trong nhóm buôn bán dịch  
vụ sử dụng chủ yếu tiếng Việt trong giao  
tiếp với khách là 5,3%; hoàn toàn sử dụng  
tiếng Việt là 17,1%; sử dụng song ngữ  
Chăm-Việt là 63,2%; Đây là nhóm không  
có học vấn cao như nhóm học sinh sinh  
viên-công nhân viên nhưng do công việc  
buôn bán thường xuyên tiếp xúc với người  
ngoài cộng đồng nên họ sử dụng cả tiếng  
Việt và tiếng Chăm tương đối tốt. Những  
người thuộc nhóm nghề khác nhau cũng  
Ở môi trường có tính chất đặc thù như gia  
đình thì tiếng mẹ đẻ chiếm ưu thế. Còn  
trong một số trường hợp nhất định như ở  
những nơi công cộng, trong sáng tác văn  
học nghệ thuật người Chăm linh hoạt  
trong sử dụng ngôn ngữ. Tùy theo điều  
kiện cụ thể, họ dùng cả tiếng Việt lẫn tiếng  
Chăm. Trong một số trường hợp đôi khi họ  
còn sử dụng cả tiếng Khmer hay tiếng  
Melayu.  
44  
TRẦN PHƯƠNG NGUYÊN – NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP…  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Hiện tượng trộn mã (một số yếu tố từ vựng  
tiếng Việt, Khmer, Melayu trong sử dụng  
tiếng Chăm), chuyển mã đang diễn ra và  
ngày càng trở lên phổ biến. Sự pha trộn  
này phản ánh sự biến chuyển của đời  
sống xã hội, trong đó giao tiếp văn hóa  
giữa các cộng đồng dân cư (chủ yếu là  
người Việt) ngày càng tăng. Đối với cộng  
đồng người Chăm thì vị trí sau tiếng Việt là  
tiếng Chăm. Tính chất song ngữ không thể  
hiện đều khắp ở các phạm vi và các đối  
tượng giao tiếp. Sự phân bố chức năng  
trong sử dụng ngôn ngữ (Việt-Chăm)  
không đồng đều. Điều này bị chi phối bởi  
các đặc điểm nhân khẩu, xã hội. ‰  
1. Austin, John. 1975. How to Do Thing With  
Words. J.O. Urmson and M. Sbisa (eds),  
Cambridge: Harvard University Press.  
2. Baker, Colin. 2008. Những cơ sở của giáo  
dục song ngữ và vấn đề song ngữ. TPHCM:  
Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM.  
3. Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý. 2009. Gia  
đình học. Hà Nội: Nxb. Chính trị-Hành chính.  
4. Lương Văn Hy. 2000. Ngôn từ giới và  
nhóm xã hội từ thực tiễn tiếng Việt. Hà Nội:  
Nxb. Khoa học Xã hội.  
5. Nguyễn Văn Khang. 2009. Khảo sát,  
nghiên cứu vai trò của tiếng nói chữ viết  
Chăm trong đời sống xã hội của người Chăm  
hiện nay, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ do Viện  
Ngôn ngữ học (Viện Hàn lâm Khoa học Xã  
hội Việt Nam) chủ trì.  
CHÚ THÍCH  
(1) Xem thêm Trần Phương Nguyên, 2013, Sự  
phân biệt giới tính trong cách đặt tên của người  
Chăm ở Nam Bộ. Tạp chí Dân tộc học, tr. 75.  
Và Nguyễn Văn Luận, 1974, Người Chăm Hồi  
giáo miền Tây Nam Phần Việt Nam, tr. 75-81.  
6. Nguyễn Văn Khang. 2012. Ngôn ngữ học  
xã hội. Hà Nội: Nxb Giáo dục Việt Nam.  
7. Nguyễn Văn Luận. 1974. Người Chăm Hồi  
giáo miền Tây Nam Phần Việt Nam. Sài Gòn:  
Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên xuất  
bản.  
(2) Số liệu điền dã 2012.  
(3)  
Đại bộ phận người Chăm Islam ở Nam Bộ  
trong đó có TPHCM có nguồn gốc ở tỉnh Ninh  
Thuận và Bình Thuận, trải qua những biến  
thiên của lịch sử đã đưa đẩy họ đến vùng đất  
Nam Bộ  
8. Vũ Dũng chủ biên. 2008. Từ điển tâm lý  
học. Hà Nội: Nxb. Từ Điển Bách Khoa.  
9. Vương Xuân Tình. 2010. Biến đổi văn hóa  
các tộc người vùng Đông Bắc từ góc nhìn sử  
dụng ngôn ngữ, Tạp chí Dân tộc học, số 5.  
(4) M. K. phường 17, quận Phú Nhuận, TPHCM.  
pdf 12 trang yennguyen 21180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình của người Chăm ở thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfngon_ngu_trong_giao_tiep_gia_dinh_cua_nguoi_cham_o_thanh_pho.pdf