Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to tại Khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế

Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020  
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thái độ xử trí các trường  
hợp sinh thai to tại Khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế  
Trương Thị Linh Giang , Mai Văn Quảng  
Bộ môn Phụ sản, Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế  
Tóm Tắt:  
:
Đặt vấn đề Thai to có ảnh hưởng lớn cho bà mẹ, trẻ sơ sinh và kết quả mang thai. Mục ꢀêu: Mô tả đặc  
.
điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả xử trí các trường hợp thai to Đối tượng và phương pháp nghiên  
:
cứu Gồm các sản phụ và trẻ sinh ra ≥ 3500 gram đối với con so và trên 4000 gram với thai lần hai trở lên tại  
khoa Phụ Sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Thời điểm chọn bệnh vào nhóm nghiên cứu là sau khi  
sinh có kết quả trẻ > 3500/4000 gram, sau đó theo dõi ꢀếp kết quả thai kỳ và hồi cứu lại các đặc điểm lâm  
sàng, cận lâm sàng. Kết quả: Từ tháng 5/2019 đến tháng 4/2020 có 223 sản phụ sinh con có cân nặng ≥ 3500  
gram. Cân nặng trung bình của nhóm thai to là 3869,96 ± 315,72(g). Trẻ ≥ 4000 g ramthì tỷ lệ mổ lấy thai là  
91,5%, sinh đường âm đạo là 8,5%. Trẻ từ 3500 - < 4000 g thì tỷ lệ mổ lấy thai là 76%, sinh đường âm đạo là  
24%. Có 1 trường hợp rách tầng sinh môn phức tạp chiếm 1,1% trong nhóm ≥ 4000 (g). Kết luận: Các yếu tố  
:
liên quan đến thai to Tuổi mẹ, giới tính thai, số lần sinh, tiền sử sinh con to, chiều cao của mẹ, tăng cân thai  
.
.
kì Mổ lấy thai chiếm đa số  
Từ khóa: Thai to, đái tháo đường thai kì, sinh thường, mổ lấy thai.  
Abstract  
Clinical and subclinical charactericꢀs and pregnancy outcome of fetal  
macrosomia at Obstetric Department at Hue University of Medicine  
and Pharmacy Hospital  
Truong Thi Linh Giang, Mai Van Quang  
Ob/Gyn Department, Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University  
Background: Fetal macrosomia has a major influence on maternal, neonatal and pregnancy outcomes.Ob-  
jecꢀve: To describe the clinical and subclinical features and the management of fetal macrosomia on pregnancy  
outcomes. Subjects and methods: Study subjects including pregnant women and babies born ≥ 3500 g with  
nulliparous and over 4000 grams with primiparous or mulꢀparous at Departement of Obstetrics and Gy-  
necology in Hue University of Medicine and Pharmacy Hospital. The ꢀme of choosing subjects to enter the  
research group is that aꢁer birth, the weight is above 3500/4000 grams, then follow up the pregnancy result  
and retrospect the clinical and subclinical characterisꢀcs. Results: From May 2019 to April 2020, there were  
223 pregnant women with the birth weight ≥ 3500 g in this study. The mean neonatal weight for macroso-  
mia was 3869.96 ± 315.72 (g). The birth weight ≥ 4000 g, the rate of cesarean secꢀon was 91.5%, vaginal  
birth was 8.5%. The birth weight 3500 - under 4000 g, the rate of cesarean secꢀon was 76%, vaginal birth  
was 24%. 1.1% maternal complicaꢀons was perineal tear. Conclusion:Factors related to fetal macrosomia:  
Maternal age, gender of fetus, parity, a history of fetal macrosomia, maternal height, pregnancy weight gain.  
Caesarean secꢀon is the majority.  
Key words: Fetal macrosomia, gestaꢀonal diabetes mellitus, normal labor, caesarean secꢀon.  
Từ viết tắt: BMI: body mass index, GDM: gesꢀonal diabetes mellitus  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
con rạ là trên 4000 g. Tỷ lệ thai to có sự khác biệt giữa  
các nước trên thế giới. Tỷ lệ thai to các nước châu  
Âu như Pháp năm 2017 là 7,95% [22], còn ở châu Phi  
năm 2018 thì tỷ lệ thai to ≥ 4000 g là 8,0% [10], các  
quốc gia châu Á như Trung Quốc, tỷ lệ thai to khoảng  
Thai to được định nghĩa dựa vào trọng lượng  
trẻ sơ sinh trên đường bách phân vị 90 theo biểu  
đồ phát triển cân nặng thai nhi hoặc trên 4000 g (ở  
Châu Âu), còn Việt Nam với con so là ≥ 3500 g, với  
Địa chỉ liên hệ: Trương Thị Linh Giang, email: ꢁ[email protected]  
Ngày nhận bài: 21/5/2020; Ngày đồng ý đăng: 5/10/2020  
DOI: 10.34071/jmp.2020.5.11  
78  
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020  
11,24% (2015) [11], còn ở Việt Nam, năm 2017, theo  
nghiên cứu ở Bệnh viện Trung ương Huế trẻ sơ sinh  
có trọng lượng ≥ 4000 gram chiếm tỷ lệ 5,7% [2].  
Thai to làm tăng nguy cơ trong chuyển dạ và ảnh  
hưởng đến lựa chọn phương pháp sinh vì thường  
gây chuyển dạ kéo dài, đẻ khó do vai, chảy máu sau  
sinh, sang chấn cho mẹ. Thai to còn gây nguy hiểm  
với thai nhi, trẻ sơ sinh gây ra các ꢂnh trạng như:  
chỉ số Appgar thấp, gãy xương đòn, xương cánh tay,  
hạ đường huyết, suy hô hấp, nhiễm trùng sơ sinh.  
Hơn nữa, trẻ sơ sinh có cân nặng vượt mức bình  
thường có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường týp 2,  
tăng huyết áp và béo phì ở tuổi trưởng thành [13].  
Bên cạnh đó, còn các yếu tố liên quan đến thai to  
như: đái tháo đường, ꢀền sử sinh con to, béo phì,  
mẹ tăng cân quá mức trong khi mang thai đã được  
chỉ ra trong nhiều nghiên cứu [2], [3], [21]. Xuất phát  
từ ꢂnh hình thực tế và tầm quan trọng của vấn đề  
này, với mục ꢀêu ꢂm hiểu các yếu tố liên quan đến  
thai to, xác định rõ các yếu tố tai biến sản khoa liên  
quan đến bà mẹ và trẻ sơ sinh là cần thiết và chăm  
sóc sức khỏe ban đầu ưu ꢀên cho bà mẹ và trẻ em là  
quan trọng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu  
đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và thái độ xử trí  
các trường hợp sinh thai to tại khoa sản Bệnh viện  
Trường Đại học Y Dược Huế" với hai mục ꢀêu:  
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng  
và các yếu tố liên quan trong các trường hợp sinh  
thai to;  
- Thời gian: từ 7/2019 đến 4/2020  
2.2.3. Phương ꢀện nghiên cứu  
- Dùng bảng câu hỏi được thiết kế sẵn để thu  
thập thông ꢀn.  
- Máy đó huyết áp, ống nghe ꢀm phổi, đồng hồ  
đếm giây, bảng ꢃnh tuổi thai, găng vô trùng, thước  
dây có vạch mm, không co dãn thước đo chiều cao  
để đo cân nặng và chiều cao sản phụ, máy siêu âm  
hiệu Sciements Acunso X300 premium ediꢀon sản  
xuất tại Hàn Quốc, sử dụng 2 đầu dò Conex có nhiều  
tần số thay đổi 3,5; 5,0; 7,5 Mz, cân trẻ sơ sinh hiệu  
Tanita do Nhật Bản sản xuất.  
2.2.4. Cách ꢀến hành  
- Chọn lựa đối tượng nghiên cứu.  
- Hỏi bệnh, khai thác ꢀền sử, thăm khám, xây  
dựng mẫu bệnh án nghiên cứu.  
- Những sản phụ được chọn vào nghiên cứu sẽ  
được tác giả cấp thông tin về nghiên cứu, nếu đồng  
.
ý sẽ đồng thuận tham gia nghiên cứu  
- Các số liệu được thu thập dựa trên kết quả  
thăm khám và những thông ꢀn về các yếu tố liên  
quan đến sự phát triển của trẻ trong khi mang thai.  
Các đối tượng nghiên cứu được chọn lọc sẽ được  
thăm khám theo trình tự sau:  
+ Đánh giá các đặc điểm lâm sàng của sản phụ:  
lâm sàng, cận lâm sàng, đặc điểm thai kì, yếu tố liên  
quan.  
+ Đánh giá kết quả xử trí thai to.  
2.3. Xử lý và phân ꢁch số liệu  
2. Thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to.  
Số liệu thu thập được phân ꢃch và xử lý trên máy  
.
tính theo chương trình SPSS 20 0.  
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 223 sản phụ và  
trẻ sinh ra ≥ 3500 g đối với con so và trên 4000 g đối  
với con rạ tại khoa Phụ sản, Bệnh viện Trường Đại  
học Y Dược Huế.  
Sử dụng các thuật toán sau:  
Thống kê tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình.  
Sử dụng test Chi bình phương để kiểm định, test  
Fisher. Các phép kiểm định có ý nghĩa khi p < 0,05.  
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân  
- Tuần thai ≥ 37 tuần  
- Những bà mẹ sinh con ≥ 3500 g  
- Thai to toàn bộ  
- Đơn thai, thai phát triển bình thường  
- Sản phụ đồng ý tham gia nghiên cứu  
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ  
- Sản phụ không nhớ chính xác tuổi thai  
- Đa thai, thai dị tật  
- Thai bất thường, thai chết lưu  
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
3. KẾT QUẢ  
3.1. Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu  
Trọng lượng trẻ sơ sinh thừa cân trung bình là  
3869,96 ± 315,72 (g). Nhóm trẻ có trọng lượng từ  
3500 - < 4000 (g) có 129 trường hợp, chiếm nhiều  
nhất với tỷ lệ là 57,8%. Tuổi mẹ trung bình là 27,46  
± 5,40 (tuổi). Về trình độ học vấn: nhóm bà mẹ có  
trình độ học vấn ꢀểu học, trung học cơ sở, trung  
học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất 65,9%. Về nghề  
nghiệp, nhóm bà mẹ là cán bộ, nhân viên chiếm  
tỷ lệ cao nhất 28,7%, ꢀếp đó là nhóm bà mẹ làm  
nghề công nhân chiếm tỷ lệ là 23,8%. Số bà mẹ đã  
từng sinh con trước đó là 69 trường hợp chiếm tỷ lệ  
30,9% và 154 bà mẹ chưa sinh con lần nào trước đó  
chiếm tỷ lệ 69,1%.  
2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu  
79  
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020  
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
Đặc điểm  
Kết quả  
3869,96 ± 315,72 (g)  
27,46 ± 5,40 (tuổi)  
76 (34,1%)  
Trọng lượng trẻ sơ sinh  
Tuổi mẹ  
Đại học, Cao đẳng  
Trình độ học vấn  
Nơi cư trú  
Tiểu học, THCS, THPT  
Thành thị  
147 (65,9%)  
78 (34,9%)  
Nông thôn  
145 (65,1%)  
64 (28,7%)  
Cán bộ, nhân viên  
Kinh doanh, buôn bán  
Công nhân  
42 (18,8%  
53 (23,8%)  
Nghề nghiệp  
Nông dân  
2 (0,9%)  
Nội trợ  
47 (21,1%)  
Khác  
15 ( 6,7%)  
3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các trường hợp sinh thai to  
Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các trường hợp sinh thai to  
Đặc điểm  
Kết quả  
33,34 ± 2,49 (cm)  
103,59 ± 9,70 (cm)  
154 (69,1%)  
Bề cao tử cung  
Vòng bụng  
Con so  
Con rạ  
Có  
Số lần sinh của mẹ  
69(30,9%)  
34 (43,9%)  
Tiền sử sinh con to  
Tuổi thai  
Không  
35 (50,7%)  
39,39 ± 0,938 (tuần)  
139 (62,3%)  
Nam  
Nữ  
Giới ꢃnh trẻ sơ sinh  
84 (37,7%)  
Chiều cao của mẹ  
153,36 ± 5,34 (cm)  
66,85 ± 9,12 (kg)  
22,14 ± 1,98  
Cân nặng của mẹ trước khi sinh  
BMI trước khi mang thai  
Tăng cân trong thai kì  
14,83 ± 5,01  
Đái tháo đường thai kì  
9 (4,0%)  
Cân nặng thai nhi theo dự đoán trên siêu âm  
Sai số giữa cân nặng thực tế và siêu âm  
3728,98 ± 348,6  
295,21 ± 130,6  
Bề cao tử cung trung bình của sản phụ là 33,34  
± 2,49 (cm). Vòng bụng trung bình của sản phụ là  
103,59 ± 9,70 (cm).  
chiều cao trung bình là 153,36 cm. Cân nặng trung  
bình của các bà mẹ trước khi sinh là 66,85 ± 9,12 (kg)  
(p< 0,05). BMI trung bình của bà mẹ trước khi mang  
thai là 22,14 ± 1,98 (0,858 > 0,05). Tăng cân thai kì  
trung bình là 14,83 ± 5,01 kg. Có 9 trường hợp bà  
Có 154 bà mẹ chưa sinh con lần nào chiếm tỷ lệ  
69,1%, số bà mẹ đã từng sinh con là 69 trường hợp  
chiếm tỷ lệ 30,9%. Có 69 bà mẹ đã từng sinh con  
trong đó có 34 bà mẹ có ꢀền sử sinh con to chiếm  
tỷ lệ 49,7%. Tuổi thai trung bình của các sản phụ là  
39,39 ± 0,938 tuần. Có 139 trẻ nam, chiếm tỷ lệ là  
62,3% và có 84 trẻ nữ chiếm tỷ lệ là 37,7%. Mẹ có  
.
mẹ có đái tháo đường thai kì chiếm tỷ lệ là 4% Cân  
nặng thai nhi trung bình theo siêu âm là 3728,98 ±  
348,6 g. Sai số giữa cân nặng thai nhi dự đoán trên  
siêu âm và cân nặng thực tế sau sinh trung bình là :  
295,21 ± 130,6 g.  
80  
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020  
3.3. Thái độ xử trí của các trường hợp sinh thai to  
Trẻ ≥ 4000 g thì tỷ lệ mổ lấy thai là 91,5%, sinh đường âm đạo là 8,5%. Trẻ từ 3500 đến dưới 4000 g thì tỷ  
lệ mổ lấy thai là 76%, sinh đường âm đạo là 24%.  
Bảng 3. Thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to  
Kết quả  
Kết quả xử trí thai to  
3500 - < 4000 (g)  
P
≥ 4000 (g)  
98 (76%)  
Phương pháp  
Mổ lấy thai  
Sinh thường  
Apgar 1 phút  
86 (91,5%) 0,000 < 0,05  
8 (8,5%)  
sinh  
31 (24%)  
Tình trạng trẻ  
sau sinh  
< 7: 1(0,7%)  
≥ 7:128 (99,3%) ≥ 7:128 (98,9%)  
< 7: 1(1,1%) 0,000 < 0,05  
Apgar 5 phút  
< 7: 0(0%)  
< 7: 1(1,1%)  
≥ 7:129 (100%) ≥ 7:128 (98,3%)  
Biến chứng về  
phía mẹ  
Băng huyết sau sinh  
Nhiễm trùng hậu sản  
Rách tầng sinh môn phức tạp  
Đẻ khó do vai  
0 (0%)  
0 (0%)  
0 (0%)  
0 (0%)  
0 (0%)  
0 (0%)  
1 (0,7%)  
0 (0%)  
0 (0%)  
0 (0%) 0,000 < 0,05  
0 (0%) 0,000 < 0,05  
1 (1,1%) 0,000 < 0,05  
0 (0%) 0,000 < 0,05  
3 (3,2%) 0,000 < 0,05  
1 (1,1%) 0,000 < 0,05  
1 (1,1%) 0,000 < 0,05  
1 (1,1%) 0,000 < 0,05  
0 (0%) 0,000 < 0,05  
Biến chứng về  
phía con  
Hạ đường huyết  
Nhiễm trùng sơ sinh  
Vàng da  
Suy hô hấp  
Tử vong  
Tỷ lệ trẻ sau sinh có điểm số Apgar phút thứ năm < 7 điểm ở nhóm 3500 – < 4000g và nhóm ≥ 4000g lần  
lượt là 0% và 1,1%. Về biến chứng về phía mẹ: Có 1 trường hợp rách tầng sinh môn phức tạp chiếm 1,1%  
trong nhóm ≥ 4000g không có trường hợp rách tầng sinh môn phức tạp nào trong nhóm 3500 - < 4000g.  
Không ghi nhận các trường hợp băng huyết sau sinh và nhiễm trùng hậu sản. Biến chứng về phía con: Trong  
nhóm trẻ có trọng lượng ≥ 4000g thì có 3 trường hợp hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 3,2%, 1 trường hợp suy hô  
hấp, 1 trường hợp vàng da và nhiễm trùng sơ sinh chiếm tỷ lệ 1,1%. Trong nhóm trẻ có trọng lượng từ 3500g  
đến < 4000g chỉ ghi nhận 1 trẻ có vàng da chiếm tỷ lệ 0,7%.  
4. BÀN LUẬN  
4.1. Đặc điểm chung của nhóm đối tượng  
nghiên cứu  
Vân là 41,9% [7] và tác giả Đoàn Thị Thu Trang là  
39,7% [6]. Theo nghiên cứu của tác giả Mengesha  
H.G nhận thấy mẹ có trình độ đại học và cao đẳng  
nguy cơ thai to tăng gấp 1,54 lần so với những bà  
mẹ có trình độ học vấn trung học cơ sở, OR=1,54  
[12]. Như vậy, trình độ càng cao ảnh hưởng đến sự  
tăng tỷ lệ sinh con to. Về nơi cư trú: có 34,9% bà mẹ  
cư trú ở thành thị, 65,1% bà mẹ cư trú ở nông thôn.  
Trong khi theo kết quả của tác giả Hà Thị Thanh  
Nga 58,1% các bà mẹ mang thai to đến từ thành  
thị còn 41,9% bà mẹ đến từ nông thôn [3]. Tác giả  
Mengesha H.G cũng nhận thấy rằng số bà mẹ mang  
thai con to đến từ thành thị chiếm tỷ lệ 70,1%, từ  
nông thôn là 29,9% [12]. Sự khác biệt có thể do mẫu  
nghiên cứu của chúng tôi chưa nhiều hoặc điều kiện  
sống ở nông thôn đang dần tốt lên. Về nghề nghiệp  
của mẹ: nhóm bà mẹ là cán bộ, nhân viên chiếm tỷ  
lệ cao nhất 28,7%, tương tự nghiên cứu của tác giả  
Trong nghiên cứu, trọng lượng trẻ sơ sinh thừa  
cân trung bình là 3869,96 ± 315,72 (g). Điều này  
tương đồng với nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thanh  
Nga (2018) với trọng lượng trung bình của nhóm trẻ  
sơ sinh thừa cân là 3818 ± 243,1 g [3]. Về tuổi mẹ,  
độ tuổi trung bình sinh thai to là 27,46 ± 5,4 tuổi  
phù hợp với độ tuổi sinh đẻ chủ yếu của phụ nữ Việt  
Nam. Theo nghiên cứu ở Bệnh viện Trung ương Huế  
tuổi các bà mẹ sinh con thai to từ 31- 40 tuổi chiếm  
30,2% [2]. Một nghiên cứu của Thổ Nhĩ Kì nhận thấy  
mẹ trên 30 tuổi có nguy cơ sinh con to gấp 1,49 lần  
[18]. Như vậy tuổi mẹ là một yếu tố nguy cơ của thai  
to. Về trình độ học vấn: nhóm bà mẹ có trình độ học  
vấn cao đẳng và đại học chiếm tỷ lệ là 34,1% phù  
hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phụng  
81  
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020  
Phan Thị Minh Thư [5], cán bộ, viên chức chiếm tỷ  
lệ cao nhất 34,9%. Điều này có thể lý giải là do công  
việc ổn định, nguồn thu nhập cao, công việc thường  
ít vận động nhiều.  
4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các  
trường hợp sinh thai to  
≥ 13 kg chiếm tỷ lệ cao nhất 63,2%, những bà mẹ  
tăng < 10 kg chiếm tỷ lệ thấp nhất 26,5%, những bà  
mẹ tăng cân đúng chuẩn chiếm 26,5%. Kết quả này  
tương đồng với nghiên cứu của Hà Thị Thanh Nga  
[3]. Tác giả Wang N cũng thừa nhận định tăng cân  
quá mức trong thai kì làm tăng nguy có thai to OR=  
2,884 [20]. Theo kết quả nghiên cứu, có 9 trường  
hợp bà mẹ có đái tháo đường thai kì chiếm tỷ lệ là  
4%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả  
Hà Thị Thanh Nga [3]. Một nghiên cứu ở Thuỵ Điển  
cũng nhận thấy kết quả tương tự với tỷ lệ thai to có  
bà mẹ đái tháo đường thai kì là 4,2% [17]. Vì vậy, cần  
phát hiện sớm đái tháo đường thai kì bằng cách làm  
test dung nạp đường từ tuần lễ 24 - 28 của thai kỳ  
và dựa vào các yếu tố nguy cơ như béo phì, tiền sử  
Bề cao tử cung trung bình của các bà mẹ sinh  
con to là 33,34 ± 2,49 cm. Kết quả này phù hợp với  
nghiên cứu của Nguyễn Thị Phụng Vân với bề cao  
tử cung trung bình là 33,33 cm [7] và nghiên cứu  
của tác giả Phan Thị Minh Thư với bề cao trung bình  
là 33,1 ± 2, 2 cm [5]. Ở nhóm thai to, vòng bụng  
trung bình là 103,59 ± 9,70 cm. Kết quả này cũng  
tương đồng với nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thanh  
Nga là 102,5 cm và tác giả Nguyễn Thị Phụng Vân  
với vòng bụng trung bình là 100 ± 5,87 cm [3], [7].  
Tỉ lệ sản phụ có ꢀền sử sinh con to chiếm 43,9%,  
tương tự kết quả nghiên cứu của Jasim có 34 bà mẹ  
có ꢀền sử sinh con to chiếm tỷ lệ 49,7% [18]. Tác  
giả Jasim và cộng sự (2018) thì nguy cơ sinh con to  
ở bà mẹ có ꢀền sử sinh con to gấp 18,3 lần so với  
bà mẹ không có ꢀền sử sinh con to [9]. Các kết quả  
đều nhận thấy rằng nguy cơ sinh con to ở bà mẹ có  
ꢀền sử sinh con to là khá cao. Tuổi thai trung bình  
của các sản phụ là 39,39 ± 0,938 tuần. Kết quả này  
tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Phụng  
Vân, Richardson C. (2014) [7], [16]. Về giới ꢃnh, có  
139 trẻ nam, chiếm tỷ lệ là 62,3% và có 84 trẻ nữ  
chiếm tỷ lệ là 37,7%. Kết quả này tương đồng với  
nghiên cứu của tác giả Usta với tỉ lệ trẻ trai là 65,6%  
và trẻ gái là 34,4% [18]. Tác giả Vinturache cũng cho  
kết quả tương đồng với trẻ nam: 59,1% và trẻ nữ:  
40,9% [19]. Như vậy, giới ꢃnh nam làm tăng nguy cơ  
sinh to. Chiều cao trung bình của các bà mẹ sinh con  
to là 153,36 cm, tương tự kết quả nghiên cứu của Hà  
Thị Thanh Nga chiều cao trung bình của sản phụ có  
thai to là 156,21 ± 5,56 cm [3]. Tác giả Li.Y cũng nhận  
thấy chiều cao trung bình của nhóm bà mẹ sinh thai  
to là 162,03 ± 4,13 cm, sự khác biệt có ý nghĩa thống  
kê (p < 0,012). Như vậy, chiều cao của bà mẹ có mối  
liên quan với trọng lượng của trẻ. BMI của mẹ trước  
.
gia đình Theo nghiên cứu của chúng tôi, cân nặng  
thai nhi ước lượng trước sinh bằng siêu âm có cân  
nặng trung bình là 3728,98 ± 348,6 g thấp hơn so  
với cân nặng thực tế khi sinh ra là 3869,96 ± 315,72  
g. Sai số trung bình là 295,21 ± 130,6(g). Tác giả Lê  
Lam Hương nhận định sự sai lệch giữa trọng lượng  
trẻ sơ sinh sau sinh với trọng lượng thai nhi ước ꢃnh  
qua siêu âm là ± 204,4 g [1], còn tác giả Phan Thị  
Minh Thư nhận thấy sai số trung bình là 229 ± 108g  
[5]. Mặc dù siêu âm thai nhi cho biết nhiều thông  
ꢀn hữu ích nhưng không dựa vào siêu âm mà chẩn  
đoán thai to mà phải có sự kết hợp giữa lâm sàng và  
cận lâm sàng.  
4.3. Thái độ xử trí của các trường hợp sinh thai to  
Theo nghiên cứu của chúng tôi, trẻ ≥ 4000 g có tỷ  
lệ mổ lấy thai là 91,5%, sinh đường âm đạo là 8,5%.  
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả  
Hà Thị Thanh Nga (mổ lấy thai: 69,4%, sinh đường  
dưới: 30,6%) [3] và tác giả Đoàn Thị Thu Trang (mổ  
lấy thai: 71,5%, sinh đường dưới: 28,5%) [6]. Theo  
tác giả David Beleg thì tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm sơ  
sinh thừa cân là 47,9%, trong đó nhóm trẻ < 4000 g  
thì tỷ lệ mổ lấy thai là 9,3% [15]. Tỷ lệ mổ lấy thai ở  
nghiên cứu của chúng tôi lớn hơn nghiên cứu nước  
ngoài là do hạn chế về chiều cao và cân nặng trung  
bình của phụ nữ Việt Nam và ꢀền sử sản khoa trước  
đó. Về ꢂnh trạng trẻ sau sinh, tỷ lệ trẻ sau sinh có  
điểm số Apgar phút thứ nhất < 7 điểm ở nhóm 3500  
– < 4000 g và nhóm ≥ 4000 g lần lượt là 0,7% và 1,1%  
còn tỷ lệ trẻ sau sinh có điểm số Apgar phút thứ năm  
< 7 điểm ở nhóm 3500 – < 4000 g và nhóm ≥ 4000 g  
lần lượt là 0% và 1,1%.  
khi mang thai từ 18,5 - < 23 kg/m2 chiếm tỷ lệ cao  
2
.
nhất 69,5%. BMI ≥ 23 kg/m có tỷ lệ là 26% Kết quả  
này tương tự như nghiên cứu của tác giả Nguyễn  
2
/
Thị Phụng Vân (BMI ≥ 23 kg m : 22,5%) và Hà Thị  
Thanh Nga (BMI ≥ 23 kg/m2: 20,5%) [3], [7]. Nghiên  
cứu của tác giả Wang N ở Trung Quốc cũng nhận  
thấy chỉ số BMI trước khi mang thai ở mức thừa cân  
và béo phì là 23,8% [20]. Tác giả Yang W và cộng sự  
cũng ghi nhận những bà mẹ thừa cân và béo phì  
trước mang thai làm tăng tỷ lệ thai to lên 2,29 lần  
[21]. Như vậy, BMI trước khi mang thai cũng ảnh  
hưởng tới sự phát triển của thai. Những bà mẹ tăng  
Theo tác giả Osaikhuwuomwan thì tỷ lệ trẻ sơ  
sinh thừa cân chỉ số Apgar < 7 ở phút thứ nhất là  
10,4% [14], còn tác giả Ezegwui H.U thì tỷ lệ Apgar <  
7 điểm ở phút thứ nhất và phút thứ năm lần lượt là  
6,8% và 4,8% [8]. Sự khác biệt có thể do nước ngoài  
có tỷ lệ sinh đường âm đạo cao hơn. Biến chứng về  
82  
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020  
phía mẹ: Có 1 trường hợp rách tầng sinh môn phức  
tạp chiếm 1,1% trong nhóm ≥ 4000 g. Không ghi  
nhận các trường hợp băng huyết sau sinh và nhiễm  
trùng hậu sản. Tác giả Hà Thị Thanh Nga có kết quả  
2 trường hợp chảy máu sau sinh (1,4%) và 4 trường  
hợp rách tầng sinh môn phức tạp (5,8%) [3], tác giả  
Bùi Thọ Ơn nhận thấy có 18 trường hợp chảy máu  
sau sinh gặp ở trẻ > 3500 g, chiếm 20,6% các trường  
hợp chảy máu [4]. Một nghiên cứu khác ở Irac cho  
thấy tỷ lệ rách tầng sinh môn phức tạp ở nhóm thai  
to là 3,5% nguy cơ rách tầng sinh môn phức tạp gấp  
7,7 lần (p < 0,01) [9]. Những tai biến ở nghiên cứu  
của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu khác có thể  
vì sự theo dõi tốt quá trình chuyển dạ và ꢀên lượng  
được cuộc đẻ. Biến chứng về phía con: Trong nhóm  
trẻ có trọng lượng ≥ 4000 g, có 3 trường hợp hạ  
đường huyết chiếm tỷ lệ 3,2%, 1 trường hợp suy hô  
hấp, 1 trường hợp vàng da và nhiễm trùng sơ sinh  
chiếm tỷ lệ 1,1%. Trong nhóm trẻ có trọng lượng  
3500 - < 4000 g, ghi nhận 1 trẻ có vàng da chiếm  
tỷ lệ 0,7%. Tác giả Hà Thị Thanh Nga nhận thấy có 4  
trường hợp hạ đường huyết (1,7%), 2 trường hợp  
suy hô hấp 0,9%, 3 trường hợp nhiễm trùng sơ sinh  
sớm (1,3%) và 2 trường hợp vàng da (0,9%) [3]. Theo  
tác giả Babatunde thì các biến chứng suy hô hấp  
(18,5%), hạ đường huyết (22,2%), vàng da (20,4%),  
ngạt (10,2%) và nhiễm trùng sơ sinh (11,4%) [10].  
3869,96 ± 315,72 g. Bề cao tử cung trung bình của  
sản phụ sinh con to là 33,34 ± 2,49 (cm). Vòng bụng  
trung bình của sản phụ sinh con to là 103,59 ± 9,70  
(cm). Tỷ lệ đái tháo đường thai kì là 4%. Các yếu  
tố liên quan đến thai to: giới ꢃnh thai, số lần sinh,  
chiều cao của mẹ, tăng cân trong thai kì. Phương  
pháp sinh: Trẻ ≥ 4000 g thì tỷ lệ mổ lấy thai là 91,5%,  
sinh đường âm đạo là 8,5%. Trẻ từ 3500- < 4000 g thì  
tỷ lệ mổ lấy thai là 76%, sinh đường âm đạo là 24%.  
Biến chứng mẹ gồm: 1 trường hợp rách tầng sinh  
môn phức tạp (1,1%), không ghi nhận băng huyết  
sau sinh và nhiễm trùng hậu sản. Biến chứng về phía  
con: Trong nhóm trẻ có trọng lượng ≥ 4000 g thì có  
3 trường hợp hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 3,2%, 1  
trường hợp suy hô hấp,1 trường hợp vàng da và  
nhiễm trùng sơ sinh chiếm tỷ lệ 1,1%. Trong nhóm  
trẻ có trọng lượng 3500 - < 4000 g chỉ ghi nhận 1 trẻ  
có vàng da chiếm tỷ lệ 0,7%.  
6. KIẾN NGHỊ  
Tăng cường quản lý thai nghén, khám thai định  
kì để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ thai to để có  
biện pháp dự phòng và điều trị thích hợp. Làm xét  
nghiệm glucose máu sàng lọc cho sản phụ từ 24-28  
tuần tuổi thai. Những sản phụ được chẩn đoán thai  
to cần được chăm sóc tốt trong quá trình sinh, xử trí  
ꢃch cực giai đoạn III nhằm dự phòng biến chứng cho  
mẹ và trẻ sơ sinh.  
5. KẾT LUẬN  
Trọng lượng trẻ sơ sinh thừa cân trung bình là  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hoàng Thị Thanh Hà (2013), “Nghiên cứu giá trị dự  
đoán trọng lượng thai và một số đặc điểm bánh rau của  
thai đủ tháng qua lâm sàng và siêu âm”, Luận văn thạc sỹ  
y học, Trường Đại học Y Dược Huế.  
2. Trần Thị Hoàn và Hoàng Thị Liên Châu (2017),  
“Nghiên cứu ꢂnh hình trẻ sơ sinh thừa cân tại khoa phụ  
sản Bệnh viện Trung ương Huế”, Tạp chí Phụ sản, 15(3),  
pp.114-118.  
3. Hà Thị Thanh Nga (2018), “Ngiên cứu một số liên  
quan và kết quả xử trí thai to”, Luận văn Thạc sỹ y học,  
Trường Đại học Y Dược Huế.  
4. Bùi Thọ Ơn (2017), “Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm,  
sàng và kết quả xử trí chảy máu sớm sau sinh tại bệnh viện  
tỉnh Dắk Lăk”, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Đại  
học Y Dược Huế.  
Trường Đại học Y Dược Huế”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ  
đa khoa, Trường Đại học Y Dược Huế.  
6. Đoàn Thị Thu Trang (2017), “Nghiên cứu tỷ lệ, đặc  
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đường huyết sau sinh ở  
trẻ sơ sinh trọng lượng cao tại bệnh viện trường Đại học  
Y Dược Huế”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa, Trường  
Đại học Y Dược Huế.  
7. Nguyễn Thị Phụng Vân (2017), “Nghiên cứu một  
số yếu tố liên quan và kết quả thai kì ở những thai phụ  
có thai to tại khoa Sản bệnh viện trường Đại học Y Dược  
Huế”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa, Trường Đại học  
Y Dược Huế.  
8. Ezegwui H., Ikeako L. , Egbuji C. (2011), “Fetal  
macrosomia: obstetric outcome of 311 cases in UNTH,  
Enugu, Nigeria”, Nigerian journal of clinical pracꢀce,  
14(3), pp.322-326.  
5. Phan Thị Minh Thư (2016), “Nghiên cứu kết quả  
chuyển dạ ở sản phụ có thai to tại khoa Phụ Sản Bệnh viện  
9. Jasim S. K., Al-Momen H., Majeed B. A. , Hussein M.  
83  
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020  
J. (2018), “Rate of Fetal Macrosomia with Maternal and  
Early Neonatal Complicaꢀons in Internally Moved People  
Affected by Violence”, Internaꢀonal Journal of Medical  
Research & Health Sciences, 7(7),pp.141-146.  
10. Kayode-Adedeji B., Egharevba O. , Omoregbee H.  
(2018), “Prevalence of fetal macrosomia and neonatal  
complicaꢀons in a Nigerian suburban hospital: a five year  
study”, Journal of Pediatric and Neonatal Individualized  
Medicine (JPNIM), 7(1), pp.111-115.  
11. Li Y., Liu Q.-F., Zhang D., Shen Y., Ye K., Lai H.-L.,  
Wang H.-Q., Hu C.-L., Zhao Q.-H. , Li L. (2015), “Weight gain  
in pregnancy, maternal age and gestaꢀonal age in relaꢀon  
to fetal macrosomia”, Clinical nutriꢀon research, 4(2),  
pp.104-109.  
12. Mengesha H. G., Wuneh A. D., Weldearegawi  
B., Selvakumar D. L. (2017), “Low birth weight and  
macrosomia in Tigray, Northern Ethiopia: who are the  
mothers at risk?”, BMC pediatrics, 17(1), pp.144-153.  
13. Mohammadbeigi A., Farhadifar F., Soufizadeh  
N., Mohammadsalehi N., Rezaiee M. , Aghaei M. (2013),  
“Fetal macrosomia: risk factors, maternal, and perinatal  
outcome”, Annals of medical and health sciences research,  
3(3), pp.546-550.  
for the delivery of macrosomic infants at the University  
Hospital of the West Indies”, American journal of  
perinatology, 31(11), pp.927-932.  
17. Turkmen S., Johansson S. , Dahmoun M. (2018),  
“Foetal macrosomia and foetal-maternal outcomes at  
birth”, Journal of pregnancy, 121(2), pp.112-122.  
18. Usta A., Usta C. S., Yildiz A., Ozcaglayan R., Dalkiran  
E. S., Savkli A. , Taskiran M. (2017), “Frequency of fetal  
macrosomia and the associated risk factors in pregnancies  
without gestaꢀonal diabetes mellitus”, The Pan African  
Medical Journal, 26, pp.1-8.  
19. Vinturache A. E., Chaput K. H. , Tough S. C. (2017),  
“Pre-pregnancy body mass index (BMI) and macrosomia  
in a Canadian birth cohort”, The Journal of Maternal-Fetal  
& Neonatal Medicine, 30(1),pp.109-116.  
20. Wang N., Ding Y. , Wu J. (2018), “Effects of pre-  
pregnancy body mass index and gestaꢀonal weight gain  
on neonatal birth weight in women with gestaꢀonal  
diabetes mellitus”, Early human development, 124(1),  
pp.17-21.  
21. Yang W., Liu J., Li J., Liu J., Liu H., Wang Y., Leng J.,  
Wang S., Chen H. , Chan J. C. (2019), “Interacꢀve effects  
of prepregnancy overweight and gestaꢀonal diabetes on  
macrosomia and large for gestaꢀonal age: A populaꢀon-  
based prospecꢀve cohort in Tianjin, China”, Diabetes  
research and clinical pracꢀce, 154, pp.82-89.  
14. Osaikhuwuomwan J., Osemwenkha A. , Orukpe G.  
(2016), “Macrosomic births in a terꢀary public hospital:  
A survey of maternal characterisꢀcs and fetal outcome”,  
Ethiopian journal of health sciences, 26(1), pp.31-36.  
15. Peleg D., Warsof S., Wolf M. F., Perlitz Y. , Shachar I.  
B. (2015), “Counseling for fetal macrosomia: an esꢀmated  
fetal weight of 4,000 g is excessively low”, American  
journal of perinatology, 32(01),pp.71-74.  
22. Yao I. N. g., Bohoussou P. E. K., Menin M. M.,  
Gianola G., Bazan E. , Dirix P. (2017), “Macrosomia at  
the Center Hospital of Montelimar (France): 141 Cases  
Report”, Open Journal of Obstetrics and Gynecology, 7(9),  
pp.966-972.  
16. Richardson C. , Trotman H. (2014), “Risk factors  
84  
pdf 7 trang yennguyen 9140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to tại Khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_dac_diem_lam_sang_can_lam_sang_va_thai_do_xu_tri.pdf