Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to tại Khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thái độ xử trí các trường
hợp sinh thai to tại Khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế
Trương Thị Linh Giang , Mai Văn Quảng
Bộ môn Phụ sản, Trường Đại học Y Dược, Đại học Huế
Tóm Tắt:
:
Đặt vấn đề Thai to có ảnh hưởng lớn cho bà mẹ, trẻ sơ sinh và kết quả mang thai. Mục ꢀêu: Mô tả đặc
.
điểm lâm sàng và cận lâm sàng và kết quả xử trí các trường hợp thai to Đối tượng và phương pháp nghiên
:
cứu Gồm các sản phụ và trẻ sinh ra ≥ 3500 gram đối với con so và trên 4000 gram với thai lần hai trở lên tại
khoa Phụ Sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Thời điểm chọn bệnh vào nhóm nghiên cứu là sau khi
sinh có kết quả trẻ > 3500/4000 gram, sau đó theo dõi ꢀếp kết quả thai kỳ và hồi cứu lại các đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng. Kết quả: Từ tháng 5/2019 đến tháng 4/2020 có 223 sản phụ sinh con có cân nặng ≥ 3500
gram. Cân nặng trung bình của nhóm thai to là 3869,96 ± 315,72(g). Trẻ ≥ 4000 g ramthì tỷ lệ mổ lấy thai là
91,5%, sinh đường âm đạo là 8,5%. Trẻ từ 3500 - < 4000 g thì tỷ lệ mổ lấy thai là 76%, sinh đường âm đạo là
24%. Có 1 trường hợp rách tầng sinh môn phức tạp chiếm 1,1% trong nhóm ≥ 4000 (g). Kết luận: Các yếu tố
:
liên quan đến thai to Tuổi mẹ, giới tính thai, số lần sinh, tiền sử sinh con to, chiều cao của mẹ, tăng cân thai
.
.
kì Mổ lấy thai chiếm đa số
Từ khóa: Thai to, đái tháo đường thai kì, sinh thường, mổ lấy thai.
Abstract
Clinical and subclinical charactericꢀs and pregnancy outcome of fetal
macrosomia at Obstetric Department at Hue University of Medicine
and Pharmacy Hospital
Truong Thi Linh Giang, Mai Van Quang
Ob/Gyn Department, Hue University of Medicine and Pharmacy, Hue University
Background: Fetal macrosomia has a major influence on maternal, neonatal and pregnancy outcomes.Ob-
jecꢀve: To describe the clinical and subclinical features and the management of fetal macrosomia on pregnancy
outcomes. Subjects and methods: Study subjects including pregnant women and babies born ≥ 3500 g with
nulliparous and over 4000 grams with primiparous or mulꢀparous at Departement of Obstetrics and Gy-
necology in Hue University of Medicine and Pharmacy Hospital. The ꢀme of choosing subjects to enter the
research group is that aꢁer birth, the weight is above 3500/4000 grams, then follow up the pregnancy result
and retrospect the clinical and subclinical characterisꢀcs. Results: From May 2019 to April 2020, there were
223 pregnant women with the birth weight ≥ 3500 g in this study. The mean neonatal weight for macroso-
mia was 3869.96 ± 315.72 (g). The birth weight ≥ 4000 g, the rate of cesarean secꢀon was 91.5%, vaginal
birth was 8.5%. The birth weight 3500 - under 4000 g, the rate of cesarean secꢀon was 76%, vaginal birth
was 24%. 1.1% maternal complicaꢀons was perineal tear. Conclusion:Factors related to fetal macrosomia:
Maternal age, gender of fetus, parity, a history of fetal macrosomia, maternal height, pregnancy weight gain.
Caesarean secꢀon is the majority.
Key words: Fetal macrosomia, gestaꢀonal diabetes mellitus, normal labor, caesarean secꢀon.
Từ viết tắt: BMI: body mass index, GDM: gesꢀonal diabetes mellitus
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
con rạ là trên 4000 g. Tỷ lệ thai to có sự khác biệt giữa
các nước trên thế giới. Tỷ lệ thai to các nước châu
Âu như Pháp năm 2017 là 7,95% [22], còn ở châu Phi
năm 2018 thì tỷ lệ thai to ≥ 4000 g là 8,0% [10], các
quốc gia châu Á như Trung Quốc, tỷ lệ thai to khoảng
Thai to được định nghĩa dựa vào trọng lượng
trẻ sơ sinh trên đường bách phân vị 90 theo biểu
đồ phát triển cân nặng thai nhi hoặc trên 4000 g (ở
Châu Âu), còn Việt Nam với con so là ≥ 3500 g, với
Địa chỉ liên hệ: Trương Thị Linh Giang, email: ꢁ[email protected]
Ngày nhận bài: 21/5/2020; Ngày đồng ý đăng: 5/10/2020
DOI: 10.34071/jmp.2020.5.11
78
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020
11,24% (2015) [11], còn ở Việt Nam, năm 2017, theo
nghiên cứu ở Bệnh viện Trung ương Huế trẻ sơ sinh
có trọng lượng ≥ 4000 gram chiếm tỷ lệ 5,7% [2].
Thai to làm tăng nguy cơ trong chuyển dạ và ảnh
hưởng đến lựa chọn phương pháp sinh vì thường
gây chuyển dạ kéo dài, đẻ khó do vai, chảy máu sau
sinh, sang chấn cho mẹ. Thai to còn gây nguy hiểm
với thai nhi, trẻ sơ sinh gây ra các ꢂnh trạng như:
chỉ số Appgar thấp, gãy xương đòn, xương cánh tay,
hạ đường huyết, suy hô hấp, nhiễm trùng sơ sinh.
Hơn nữa, trẻ sơ sinh có cân nặng vượt mức bình
thường có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường týp 2,
tăng huyết áp và béo phì ở tuổi trưởng thành [13].
Bên cạnh đó, còn các yếu tố liên quan đến thai to
như: đái tháo đường, ꢀền sử sinh con to, béo phì,
mẹ tăng cân quá mức trong khi mang thai đã được
chỉ ra trong nhiều nghiên cứu [2], [3], [21]. Xuất phát
từ ꢂnh hình thực tế và tầm quan trọng của vấn đề
này, với mục ꢀêu ꢂm hiểu các yếu tố liên quan đến
thai to, xác định rõ các yếu tố tai biến sản khoa liên
quan đến bà mẹ và trẻ sơ sinh là cần thiết và chăm
sóc sức khỏe ban đầu ưu ꢀên cho bà mẹ và trẻ em là
quan trọng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng và thái độ xử trí
các trường hợp sinh thai to tại khoa sản Bệnh viện
Trường Đại học Y Dược Huế" với hai mục ꢀêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
và các yếu tố liên quan trong các trường hợp sinh
thai to;
- Thời gian: từ 7/2019 đến 4/2020
2.2.3. Phương ꢀện nghiên cứu
- Dùng bảng câu hỏi được thiết kế sẵn để thu
thập thông ꢀn.
- Máy đó huyết áp, ống nghe ꢀm phổi, đồng hồ
đếm giây, bảng ꢃnh tuổi thai, găng vô trùng, thước
dây có vạch mm, không co dãn thước đo chiều cao
để đo cân nặng và chiều cao sản phụ, máy siêu âm
hiệu Sciements Acunso X300 premium ediꢀon sản
xuất tại Hàn Quốc, sử dụng 2 đầu dò Conex có nhiều
tần số thay đổi 3,5; 5,0; 7,5 Mz, cân trẻ sơ sinh hiệu
Tanita do Nhật Bản sản xuất.
2.2.4. Cách ꢀến hành
- Chọn lựa đối tượng nghiên cứu.
- Hỏi bệnh, khai thác ꢀền sử, thăm khám, xây
dựng mẫu bệnh án nghiên cứu.
- Những sản phụ được chọn vào nghiên cứu sẽ
được tác giả cấp thông tin về nghiên cứu, nếu đồng
.
ý sẽ đồng thuận tham gia nghiên cứu
- Các số liệu được thu thập dựa trên kết quả
thăm khám và những thông ꢀn về các yếu tố liên
quan đến sự phát triển của trẻ trong khi mang thai.
Các đối tượng nghiên cứu được chọn lọc sẽ được
thăm khám theo trình tự sau:
+ Đánh giá các đặc điểm lâm sàng của sản phụ:
lâm sàng, cận lâm sàng, đặc điểm thai kì, yếu tố liên
quan.
+ Đánh giá kết quả xử trí thai to.
2.3. Xử lý và phân ꢁch số liệu
2. Thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to.
Số liệu thu thập được phân ꢃch và xử lý trên máy
.
tính theo chương trình SPSS 20 0.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Gồm 223 sản phụ và
trẻ sinh ra ≥ 3500 g đối với con so và trên 4000 g đối
với con rạ tại khoa Phụ sản, Bệnh viện Trường Đại
học Y Dược Huế.
Sử dụng các thuật toán sau:
Thống kê tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình.
Sử dụng test Chi bình phương để kiểm định, test
Fisher. Các phép kiểm định có ý nghĩa khi p < 0,05.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Tuần thai ≥ 37 tuần
- Những bà mẹ sinh con ≥ 3500 g
- Thai to toàn bộ
- Đơn thai, thai phát triển bình thường
- Sản phụ đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Sản phụ không nhớ chính xác tuổi thai
- Đa thai, thai dị tật
- Thai bất thường, thai chết lưu
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu
Trọng lượng trẻ sơ sinh thừa cân trung bình là
3869,96 ± 315,72 (g). Nhóm trẻ có trọng lượng từ
3500 - < 4000 (g) có 129 trường hợp, chiếm nhiều
nhất với tỷ lệ là 57,8%. Tuổi mẹ trung bình là 27,46
± 5,40 (tuổi). Về trình độ học vấn: nhóm bà mẹ có
trình độ học vấn ꢀểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất 65,9%. Về nghề
nghiệp, nhóm bà mẹ là cán bộ, nhân viên chiếm
tỷ lệ cao nhất 28,7%, ꢀếp đó là nhóm bà mẹ làm
nghề công nhân chiếm tỷ lệ là 23,8%. Số bà mẹ đã
từng sinh con trước đó là 69 trường hợp chiếm tỷ lệ
30,9% và 154 bà mẹ chưa sinh con lần nào trước đó
chiếm tỷ lệ 69,1%.
2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
79
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020
Bảng 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm
Kết quả
3869,96 ± 315,72 (g)
27,46 ± 5,40 (tuổi)
76 (34,1%)
Trọng lượng trẻ sơ sinh
Tuổi mẹ
Đại học, Cao đẳng
Trình độ học vấn
Nơi cư trú
Tiểu học, THCS, THPT
Thành thị
147 (65,9%)
78 (34,9%)
Nông thôn
145 (65,1%)
64 (28,7%)
Cán bộ, nhân viên
Kinh doanh, buôn bán
Công nhân
42 (18,8%
53 (23,8%)
Nghề nghiệp
Nông dân
2 (0,9%)
Nội trợ
47 (21,1%)
Khác
15 ( 6,7%)
3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các trường hợp sinh thai to
Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các trường hợp sinh thai to
Đặc điểm
Kết quả
33,34 ± 2,49 (cm)
103,59 ± 9,70 (cm)
154 (69,1%)
Bề cao tử cung
Vòng bụng
Con so
Con rạ
Có
Số lần sinh của mẹ
69(30,9%)
34 (43,9%)
Tiền sử sinh con to
Tuổi thai
Không
35 (50,7%)
39,39 ± 0,938 (tuần)
139 (62,3%)
Nam
Nữ
Giới ꢃnh trẻ sơ sinh
84 (37,7%)
Chiều cao của mẹ
153,36 ± 5,34 (cm)
66,85 ± 9,12 (kg)
22,14 ± 1,98
Cân nặng của mẹ trước khi sinh
BMI trước khi mang thai
Tăng cân trong thai kì
14,83 ± 5,01
Đái tháo đường thai kì
9 (4,0%)
Cân nặng thai nhi theo dự đoán trên siêu âm
Sai số giữa cân nặng thực tế và siêu âm
3728,98 ± 348,6
295,21 ± 130,6
Bề cao tử cung trung bình của sản phụ là 33,34
± 2,49 (cm). Vòng bụng trung bình của sản phụ là
103,59 ± 9,70 (cm).
chiều cao trung bình là 153,36 cm. Cân nặng trung
bình của các bà mẹ trước khi sinh là 66,85 ± 9,12 (kg)
(p< 0,05). BMI trung bình của bà mẹ trước khi mang
thai là 22,14 ± 1,98 (0,858 > 0,05). Tăng cân thai kì
trung bình là 14,83 ± 5,01 kg. Có 9 trường hợp bà
Có 154 bà mẹ chưa sinh con lần nào chiếm tỷ lệ
69,1%, số bà mẹ đã từng sinh con là 69 trường hợp
chiếm tỷ lệ 30,9%. Có 69 bà mẹ đã từng sinh con
trong đó có 34 bà mẹ có ꢀền sử sinh con to chiếm
tỷ lệ 49,7%. Tuổi thai trung bình của các sản phụ là
39,39 ± 0,938 tuần. Có 139 trẻ nam, chiếm tỷ lệ là
62,3% và có 84 trẻ nữ chiếm tỷ lệ là 37,7%. Mẹ có
.
mẹ có đái tháo đường thai kì chiếm tỷ lệ là 4% Cân
nặng thai nhi trung bình theo siêu âm là 3728,98 ±
348,6 g. Sai số giữa cân nặng thai nhi dự đoán trên
siêu âm và cân nặng thực tế sau sinh trung bình là :
295,21 ± 130,6 g.
80
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020
3.3. Thái độ xử trí của các trường hợp sinh thai to
Trẻ ≥ 4000 g thì tỷ lệ mổ lấy thai là 91,5%, sinh đường âm đạo là 8,5%. Trẻ từ 3500 đến dưới 4000 g thì tỷ
lệ mổ lấy thai là 76%, sinh đường âm đạo là 24%.
Bảng 3. Thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to
Kết quả
Kết quả xử trí thai to
3500 - < 4000 (g)
P
≥ 4000 (g)
98 (76%)
Phương pháp
Mổ lấy thai
Sinh thường
Apgar 1 phút
86 (91,5%) 0,000 < 0,05
8 (8,5%)
sinh
31 (24%)
Tình trạng trẻ
sau sinh
< 7: 1(0,7%)
≥ 7:128 (99,3%) ≥ 7:128 (98,9%)
< 7: 1(1,1%) 0,000 < 0,05
Apgar 5 phút
< 7: 0(0%)
< 7: 1(1,1%)
≥ 7:129 (100%) ≥ 7:128 (98,3%)
Biến chứng về
phía mẹ
Băng huyết sau sinh
Nhiễm trùng hậu sản
Rách tầng sinh môn phức tạp
Đẻ khó do vai
0 (0%)
0 (0%)
0 (0%)
0 (0%)
0 (0%)
0 (0%)
1 (0,7%)
0 (0%)
0 (0%)
0 (0%) 0,000 < 0,05
0 (0%) 0,000 < 0,05
1 (1,1%) 0,000 < 0,05
0 (0%) 0,000 < 0,05
3 (3,2%) 0,000 < 0,05
1 (1,1%) 0,000 < 0,05
1 (1,1%) 0,000 < 0,05
1 (1,1%) 0,000 < 0,05
0 (0%) 0,000 < 0,05
Biến chứng về
phía con
Hạ đường huyết
Nhiễm trùng sơ sinh
Vàng da
Suy hô hấp
Tử vong
Tỷ lệ trẻ sau sinh có điểm số Apgar phút thứ năm < 7 điểm ở nhóm 3500 – < 4000g và nhóm ≥ 4000g lần
lượt là 0% và 1,1%. Về biến chứng về phía mẹ: Có 1 trường hợp rách tầng sinh môn phức tạp chiếm 1,1%
trong nhóm ≥ 4000g không có trường hợp rách tầng sinh môn phức tạp nào trong nhóm 3500 - < 4000g.
Không ghi nhận các trường hợp băng huyết sau sinh và nhiễm trùng hậu sản. Biến chứng về phía con: Trong
nhóm trẻ có trọng lượng ≥ 4000g thì có 3 trường hợp hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 3,2%, 1 trường hợp suy hô
hấp, 1 trường hợp vàng da và nhiễm trùng sơ sinh chiếm tỷ lệ 1,1%. Trong nhóm trẻ có trọng lượng từ 3500g
đến < 4000g chỉ ghi nhận 1 trẻ có vàng da chiếm tỷ lệ 0,7%.
4. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của nhóm đối tượng
nghiên cứu
Vân là 41,9% [7] và tác giả Đoàn Thị Thu Trang là
39,7% [6]. Theo nghiên cứu của tác giả Mengesha
H.G nhận thấy mẹ có trình độ đại học và cao đẳng
nguy cơ thai to tăng gấp 1,54 lần so với những bà
mẹ có trình độ học vấn trung học cơ sở, OR=1,54
[12]. Như vậy, trình độ càng cao ảnh hưởng đến sự
tăng tỷ lệ sinh con to. Về nơi cư trú: có 34,9% bà mẹ
cư trú ở thành thị, 65,1% bà mẹ cư trú ở nông thôn.
Trong khi theo kết quả của tác giả Hà Thị Thanh
Nga 58,1% các bà mẹ mang thai to đến từ thành
thị còn 41,9% bà mẹ đến từ nông thôn [3]. Tác giả
Mengesha H.G cũng nhận thấy rằng số bà mẹ mang
thai con to đến từ thành thị chiếm tỷ lệ 70,1%, từ
nông thôn là 29,9% [12]. Sự khác biệt có thể do mẫu
nghiên cứu của chúng tôi chưa nhiều hoặc điều kiện
sống ở nông thôn đang dần tốt lên. Về nghề nghiệp
của mẹ: nhóm bà mẹ là cán bộ, nhân viên chiếm tỷ
lệ cao nhất 28,7%, tương tự nghiên cứu của tác giả
Trong nghiên cứu, trọng lượng trẻ sơ sinh thừa
cân trung bình là 3869,96 ± 315,72 (g). Điều này
tương đồng với nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thanh
Nga (2018) với trọng lượng trung bình của nhóm trẻ
sơ sinh thừa cân là 3818 ± 243,1 g [3]. Về tuổi mẹ,
độ tuổi trung bình sinh thai to là 27,46 ± 5,4 tuổi
phù hợp với độ tuổi sinh đẻ chủ yếu của phụ nữ Việt
Nam. Theo nghiên cứu ở Bệnh viện Trung ương Huế
tuổi các bà mẹ sinh con thai to từ 31- 40 tuổi chiếm
30,2% [2]. Một nghiên cứu của Thổ Nhĩ Kì nhận thấy
mẹ trên 30 tuổi có nguy cơ sinh con to gấp 1,49 lần
[18]. Như vậy tuổi mẹ là một yếu tố nguy cơ của thai
to. Về trình độ học vấn: nhóm bà mẹ có trình độ học
vấn cao đẳng và đại học chiếm tỷ lệ là 34,1% phù
hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Phụng
81
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020
Phan Thị Minh Thư [5], cán bộ, viên chức chiếm tỷ
lệ cao nhất 34,9%. Điều này có thể lý giải là do công
việc ổn định, nguồn thu nhập cao, công việc thường
ít vận động nhiều.
4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của các
trường hợp sinh thai to
≥ 13 kg chiếm tỷ lệ cao nhất 63,2%, những bà mẹ
tăng < 10 kg chiếm tỷ lệ thấp nhất 26,5%, những bà
mẹ tăng cân đúng chuẩn chiếm 26,5%. Kết quả này
tương đồng với nghiên cứu của Hà Thị Thanh Nga
[3]. Tác giả Wang N cũng thừa nhận định tăng cân
quá mức trong thai kì làm tăng nguy có thai to OR=
2,884 [20]. Theo kết quả nghiên cứu, có 9 trường
hợp bà mẹ có đái tháo đường thai kì chiếm tỷ lệ là
4%. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của tác giả
Hà Thị Thanh Nga [3]. Một nghiên cứu ở Thuỵ Điển
cũng nhận thấy kết quả tương tự với tỷ lệ thai to có
bà mẹ đái tháo đường thai kì là 4,2% [17]. Vì vậy, cần
phát hiện sớm đái tháo đường thai kì bằng cách làm
test dung nạp đường từ tuần lễ 24 - 28 của thai kỳ
và dựa vào các yếu tố nguy cơ như béo phì, tiền sử
Bề cao tử cung trung bình của các bà mẹ sinh
con to là 33,34 ± 2,49 cm. Kết quả này phù hợp với
nghiên cứu của Nguyễn Thị Phụng Vân với bề cao
tử cung trung bình là 33,33 cm [7] và nghiên cứu
của tác giả Phan Thị Minh Thư với bề cao trung bình
là 33,1 ± 2, 2 cm [5]. Ở nhóm thai to, vòng bụng
trung bình là 103,59 ± 9,70 cm. Kết quả này cũng
tương đồng với nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thanh
Nga là 102,5 cm và tác giả Nguyễn Thị Phụng Vân
với vòng bụng trung bình là 100 ± 5,87 cm [3], [7].
Tỉ lệ sản phụ có ꢀền sử sinh con to chiếm 43,9%,
tương tự kết quả nghiên cứu của Jasim có 34 bà mẹ
có ꢀền sử sinh con to chiếm tỷ lệ 49,7% [18]. Tác
giả Jasim và cộng sự (2018) thì nguy cơ sinh con to
ở bà mẹ có ꢀền sử sinh con to gấp 18,3 lần so với
bà mẹ không có ꢀền sử sinh con to [9]. Các kết quả
đều nhận thấy rằng nguy cơ sinh con to ở bà mẹ có
ꢀền sử sinh con to là khá cao. Tuổi thai trung bình
của các sản phụ là 39,39 ± 0,938 tuần. Kết quả này
tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Phụng
Vân, Richardson C. (2014) [7], [16]. Về giới ꢃnh, có
139 trẻ nam, chiếm tỷ lệ là 62,3% và có 84 trẻ nữ
chiếm tỷ lệ là 37,7%. Kết quả này tương đồng với
nghiên cứu của tác giả Usta với tỉ lệ trẻ trai là 65,6%
và trẻ gái là 34,4% [18]. Tác giả Vinturache cũng cho
kết quả tương đồng với trẻ nam: 59,1% và trẻ nữ:
40,9% [19]. Như vậy, giới ꢃnh nam làm tăng nguy cơ
sinh to. Chiều cao trung bình của các bà mẹ sinh con
to là 153,36 cm, tương tự kết quả nghiên cứu của Hà
Thị Thanh Nga chiều cao trung bình của sản phụ có
thai to là 156,21 ± 5,56 cm [3]. Tác giả Li.Y cũng nhận
thấy chiều cao trung bình của nhóm bà mẹ sinh thai
to là 162,03 ± 4,13 cm, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê (p < 0,012). Như vậy, chiều cao của bà mẹ có mối
liên quan với trọng lượng của trẻ. BMI của mẹ trước
.
gia đình Theo nghiên cứu của chúng tôi, cân nặng
thai nhi ước lượng trước sinh bằng siêu âm có cân
nặng trung bình là 3728,98 ± 348,6 g thấp hơn so
với cân nặng thực tế khi sinh ra là 3869,96 ± 315,72
g. Sai số trung bình là 295,21 ± 130,6(g). Tác giả Lê
Lam Hương nhận định sự sai lệch giữa trọng lượng
trẻ sơ sinh sau sinh với trọng lượng thai nhi ước ꢃnh
qua siêu âm là ± 204,4 g [1], còn tác giả Phan Thị
Minh Thư nhận thấy sai số trung bình là 229 ± 108g
[5]. Mặc dù siêu âm thai nhi cho biết nhiều thông
ꢀn hữu ích nhưng không dựa vào siêu âm mà chẩn
đoán thai to mà phải có sự kết hợp giữa lâm sàng và
cận lâm sàng.
4.3. Thái độ xử trí của các trường hợp sinh thai to
Theo nghiên cứu của chúng tôi, trẻ ≥ 4000 g có tỷ
lệ mổ lấy thai là 91,5%, sinh đường âm đạo là 8,5%.
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả
Hà Thị Thanh Nga (mổ lấy thai: 69,4%, sinh đường
dưới: 30,6%) [3] và tác giả Đoàn Thị Thu Trang (mổ
lấy thai: 71,5%, sinh đường dưới: 28,5%) [6]. Theo
tác giả David Beleg thì tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm sơ
sinh thừa cân là 47,9%, trong đó nhóm trẻ < 4000 g
thì tỷ lệ mổ lấy thai là 9,3% [15]. Tỷ lệ mổ lấy thai ở
nghiên cứu của chúng tôi lớn hơn nghiên cứu nước
ngoài là do hạn chế về chiều cao và cân nặng trung
bình của phụ nữ Việt Nam và ꢀền sử sản khoa trước
đó. Về ꢂnh trạng trẻ sau sinh, tỷ lệ trẻ sau sinh có
điểm số Apgar phút thứ nhất < 7 điểm ở nhóm 3500
– < 4000 g và nhóm ≥ 4000 g lần lượt là 0,7% và 1,1%
còn tỷ lệ trẻ sau sinh có điểm số Apgar phút thứ năm
< 7 điểm ở nhóm 3500 – < 4000 g và nhóm ≥ 4000 g
lần lượt là 0% và 1,1%.
khi mang thai từ 18,5 - < 23 kg/m2 chiếm tỷ lệ cao
2
.
nhất 69,5%. BMI ≥ 23 kg/m có tỷ lệ là 26% Kết quả
này tương tự như nghiên cứu của tác giả Nguyễn
2
/
Thị Phụng Vân (BMI ≥ 23 kg m : 22,5%) và Hà Thị
Thanh Nga (BMI ≥ 23 kg/m2: 20,5%) [3], [7]. Nghiên
cứu của tác giả Wang N ở Trung Quốc cũng nhận
thấy chỉ số BMI trước khi mang thai ở mức thừa cân
và béo phì là 23,8% [20]. Tác giả Yang W và cộng sự
cũng ghi nhận những bà mẹ thừa cân và béo phì
trước mang thai làm tăng tỷ lệ thai to lên 2,29 lần
[21]. Như vậy, BMI trước khi mang thai cũng ảnh
hưởng tới sự phát triển của thai. Những bà mẹ tăng
Theo tác giả Osaikhuwuomwan thì tỷ lệ trẻ sơ
sinh thừa cân chỉ số Apgar < 7 ở phút thứ nhất là
10,4% [14], còn tác giả Ezegwui H.U thì tỷ lệ Apgar <
7 điểm ở phút thứ nhất và phút thứ năm lần lượt là
6,8% và 4,8% [8]. Sự khác biệt có thể do nước ngoài
có tỷ lệ sinh đường âm đạo cao hơn. Biến chứng về
82
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020
phía mẹ: Có 1 trường hợp rách tầng sinh môn phức
tạp chiếm 1,1% trong nhóm ≥ 4000 g. Không ghi
nhận các trường hợp băng huyết sau sinh và nhiễm
trùng hậu sản. Tác giả Hà Thị Thanh Nga có kết quả
2 trường hợp chảy máu sau sinh (1,4%) và 4 trường
hợp rách tầng sinh môn phức tạp (5,8%) [3], tác giả
Bùi Thọ Ơn nhận thấy có 18 trường hợp chảy máu
sau sinh gặp ở trẻ > 3500 g, chiếm 20,6% các trường
hợp chảy máu [4]. Một nghiên cứu khác ở Irac cho
thấy tỷ lệ rách tầng sinh môn phức tạp ở nhóm thai
to là 3,5% nguy cơ rách tầng sinh môn phức tạp gấp
7,7 lần (p < 0,01) [9]. Những tai biến ở nghiên cứu
của chúng tôi thấp hơn các nghiên cứu khác có thể
vì sự theo dõi tốt quá trình chuyển dạ và ꢀên lượng
được cuộc đẻ. Biến chứng về phía con: Trong nhóm
trẻ có trọng lượng ≥ 4000 g, có 3 trường hợp hạ
đường huyết chiếm tỷ lệ 3,2%, 1 trường hợp suy hô
hấp, 1 trường hợp vàng da và nhiễm trùng sơ sinh
chiếm tỷ lệ 1,1%. Trong nhóm trẻ có trọng lượng
3500 - < 4000 g, ghi nhận 1 trẻ có vàng da chiếm
tỷ lệ 0,7%. Tác giả Hà Thị Thanh Nga nhận thấy có 4
trường hợp hạ đường huyết (1,7%), 2 trường hợp
suy hô hấp 0,9%, 3 trường hợp nhiễm trùng sơ sinh
sớm (1,3%) và 2 trường hợp vàng da (0,9%) [3]. Theo
tác giả Babatunde thì các biến chứng suy hô hấp
(18,5%), hạ đường huyết (22,2%), vàng da (20,4%),
ngạt (10,2%) và nhiễm trùng sơ sinh (11,4%) [10].
3869,96 ± 315,72 g. Bề cao tử cung trung bình của
sản phụ sinh con to là 33,34 ± 2,49 (cm). Vòng bụng
trung bình của sản phụ sinh con to là 103,59 ± 9,70
(cm). Tỷ lệ đái tháo đường thai kì là 4%. Các yếu
tố liên quan đến thai to: giới ꢃnh thai, số lần sinh,
chiều cao của mẹ, tăng cân trong thai kì. Phương
pháp sinh: Trẻ ≥ 4000 g thì tỷ lệ mổ lấy thai là 91,5%,
sinh đường âm đạo là 8,5%. Trẻ từ 3500- < 4000 g thì
tỷ lệ mổ lấy thai là 76%, sinh đường âm đạo là 24%.
Biến chứng mẹ gồm: 1 trường hợp rách tầng sinh
môn phức tạp (1,1%), không ghi nhận băng huyết
sau sinh và nhiễm trùng hậu sản. Biến chứng về phía
con: Trong nhóm trẻ có trọng lượng ≥ 4000 g thì có
3 trường hợp hạ đường huyết chiếm tỷ lệ 3,2%, 1
trường hợp suy hô hấp,1 trường hợp vàng da và
nhiễm trùng sơ sinh chiếm tỷ lệ 1,1%. Trong nhóm
trẻ có trọng lượng 3500 - < 4000 g chỉ ghi nhận 1 trẻ
có vàng da chiếm tỷ lệ 0,7%.
6. KIẾN NGHỊ
Tăng cường quản lý thai nghén, khám thai định
kì để phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ thai to để có
biện pháp dự phòng và điều trị thích hợp. Làm xét
nghiệm glucose máu sàng lọc cho sản phụ từ 24-28
tuần tuổi thai. Những sản phụ được chẩn đoán thai
to cần được chăm sóc tốt trong quá trình sinh, xử trí
ꢃch cực giai đoạn III nhằm dự phòng biến chứng cho
mẹ và trẻ sơ sinh.
5. KẾT LUẬN
Trọng lượng trẻ sơ sinh thừa cân trung bình là
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Thị Thanh Hà (2013), “Nghiên cứu giá trị dự
đoán trọng lượng thai và một số đặc điểm bánh rau của
thai đủ tháng qua lâm sàng và siêu âm”, Luận văn thạc sỹ
y học, Trường Đại học Y Dược Huế.
2. Trần Thị Hoàn và Hoàng Thị Liên Châu (2017),
“Nghiên cứu ꢂnh hình trẻ sơ sinh thừa cân tại khoa phụ
sản Bệnh viện Trung ương Huế”, Tạp chí Phụ sản, 15(3),
pp.114-118.
3. Hà Thị Thanh Nga (2018), “Ngiên cứu một số liên
quan và kết quả xử trí thai to”, Luận văn Thạc sỹ y học,
Trường Đại học Y Dược Huế.
4. Bùi Thọ Ơn (2017), “Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm,
sàng và kết quả xử trí chảy máu sớm sau sinh tại bệnh viện
tỉnh Dắk Lăk”, Luận văn chuyên khoa cấp II, Trường Đại
học Y Dược Huế.
Trường Đại học Y Dược Huế”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ
đa khoa, Trường Đại học Y Dược Huế.
6. Đoàn Thị Thu Trang (2017), “Nghiên cứu tỷ lệ, đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đường huyết sau sinh ở
trẻ sơ sinh trọng lượng cao tại bệnh viện trường Đại học
Y Dược Huế”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa, Trường
Đại học Y Dược Huế.
7. Nguyễn Thị Phụng Vân (2017), “Nghiên cứu một
số yếu tố liên quan và kết quả thai kì ở những thai phụ
có thai to tại khoa Sản bệnh viện trường Đại học Y Dược
Huế”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa, Trường Đại học
Y Dược Huế.
8. Ezegwui H., Ikeako L. , Egbuji C. (2011), “Fetal
macrosomia: obstetric outcome of 311 cases in UNTH,
Enugu, Nigeria”, Nigerian journal of clinical pracꢀce,
14(3), pp.322-326.
5. Phan Thị Minh Thư (2016), “Nghiên cứu kết quả
chuyển dạ ở sản phụ có thai to tại khoa Phụ Sản Bệnh viện
9. Jasim S. K., Al-Momen H., Majeed B. A. , Hussein M.
83
Tạp chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế - Số 5, tập 10/2020
J. (2018), “Rate of Fetal Macrosomia with Maternal and
Early Neonatal Complicaꢀons in Internally Moved People
Affected by Violence”, Internaꢀonal Journal of Medical
Research & Health Sciences, 7(7),pp.141-146.
10. Kayode-Adedeji B., Egharevba O. , Omoregbee H.
(2018), “Prevalence of fetal macrosomia and neonatal
complicaꢀons in a Nigerian suburban hospital: a five year
study”, Journal of Pediatric and Neonatal Individualized
Medicine (JPNIM), 7(1), pp.111-115.
11. Li Y., Liu Q.-F., Zhang D., Shen Y., Ye K., Lai H.-L.,
Wang H.-Q., Hu C.-L., Zhao Q.-H. , Li L. (2015), “Weight gain
in pregnancy, maternal age and gestaꢀonal age in relaꢀon
to fetal macrosomia”, Clinical nutriꢀon research, 4(2),
pp.104-109.
12. Mengesha H. G., Wuneh A. D., Weldearegawi
B., Selvakumar D. L. (2017), “Low birth weight and
macrosomia in Tigray, Northern Ethiopia: who are the
mothers at risk?”, BMC pediatrics, 17(1), pp.144-153.
13. Mohammadbeigi A., Farhadifar F., Soufizadeh
N., Mohammadsalehi N., Rezaiee M. , Aghaei M. (2013),
“Fetal macrosomia: risk factors, maternal, and perinatal
outcome”, Annals of medical and health sciences research,
3(3), pp.546-550.
for the delivery of macrosomic infants at the University
Hospital of the West Indies”, American journal of
perinatology, 31(11), pp.927-932.
17. Turkmen S., Johansson S. , Dahmoun M. (2018),
“Foetal macrosomia and foetal-maternal outcomes at
birth”, Journal of pregnancy, 121(2), pp.112-122.
18. Usta A., Usta C. S., Yildiz A., Ozcaglayan R., Dalkiran
E. S., Savkli A. , Taskiran M. (2017), “Frequency of fetal
macrosomia and the associated risk factors in pregnancies
without gestaꢀonal diabetes mellitus”, The Pan African
Medical Journal, 26, pp.1-8.
19. Vinturache A. E., Chaput K. H. , Tough S. C. (2017),
“Pre-pregnancy body mass index (BMI) and macrosomia
in a Canadian birth cohort”, The Journal of Maternal-Fetal
& Neonatal Medicine, 30(1),pp.109-116.
20. Wang N., Ding Y. , Wu J. (2018), “Effects of pre-
pregnancy body mass index and gestaꢀonal weight gain
on neonatal birth weight in women with gestaꢀonal
diabetes mellitus”, Early human development, 124(1),
pp.17-21.
21. Yang W., Liu J., Li J., Liu J., Liu H., Wang Y., Leng J.,
Wang S., Chen H. , Chan J. C. (2019), “Interacꢀve effects
of prepregnancy overweight and gestaꢀonal diabetes on
macrosomia and large for gestaꢀonal age: A populaꢀon-
based prospecꢀve cohort in Tianjin, China”, Diabetes
research and clinical pracꢀce, 154, pp.82-89.
14. Osaikhuwuomwan J., Osemwenkha A. , Orukpe G.
(2016), “Macrosomic births in a terꢀary public hospital:
A survey of maternal characterisꢀcs and fetal outcome”,
Ethiopian journal of health sciences, 26(1), pp.31-36.
15. Peleg D., Warsof S., Wolf M. F., Perlitz Y. , Shachar I.
B. (2015), “Counseling for fetal macrosomia: an esꢀmated
fetal weight of 4,000 g is excessively low”, American
journal of perinatology, 32(01),pp.71-74.
22. Yao I. N. g., Bohoussou P. E. K., Menin M. M.,
Gianola G., Bazan E. , Dirix P. (2017), “Macrosomia at
the Center Hospital of Montelimar (France): 141 Cases
Report”, Open Journal of Obstetrics and Gynecology, 7(9),
pp.966-972.
16. Richardson C. , Trotman H. (2014), “Risk factors
84
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thái độ xử trí các trường hợp sinh thai to tại Khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_dac_diem_lam_sang_can_lam_sang_va_thai_do_xu_tri.pdf

