Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định trồng rừng gỗ lớn tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

ISSN: 1859-2171  
e-ISSN: 2615-9562  
TNU Journal of Science and Technology  
225(07): 137 - 144  
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH  
TRỒNG RỪNG GỖ LỚN TẠI HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ  
Võ Thị Hải Hiền  
Trường Đại học Lâm Nghiệp  
TÓM TẮT  
Trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị là một trong những hướng đi mới  
trong ngành Lâm nghiệp của Huyện nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững. Tuy nhiên, các yếu tố  
về đặc điểm hộ trồng rừng, yếu tố kinh tế xã hội và tự nhiên trong quyết định trồng rừng của chủ  
rừng vẫn còn chưa được quan tâm. Nghiên cứu này đã khảo sát 150 hộ gia đình ở huyện Hải Lăng,  
tỉnh Quảng Trị, bao gồm 70 hộ trồng rừng gỗ lớn và 80 hộ trồng gỗ nhỏ. Kết quả phân tích hồi quy  
nhị phân chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: Hỗ trợ cộng đồng, tham gia FSC, am hiểu thị  
trường là các nhân tố ảnh hưởng chính đến quyết định của chủ rừng trồng gỗ lớn trên địa bàn  
nghiên cứu.  
Từ khóa: Gỗ lớn; gỗ nhỏ; chủ rừng; hồi quy nhị phân; huyện Hải Lăng.  
Ngày nhận bài: 08/4/2020; Ngày hoàn thiện: 30/4/2020; Ngày đăng: 22/5/2020  
RESEARCHING FACTORS AFFECTING THE DECISION ON LARGE-SIZED  
TIMBER PLANTATION IN HAI LANG DISTRICT, QUANG TRI PROVINCE  
Vo Thi Hai Hien  
Vietnam National Forestry University  
ABSTRACT  
Planting large-sized timber forests in Hai Lang district, Quang Tri province is one of the new  
directions in the district's forestry sector to promote sustainable forest management. However,  
factors regarding household characteristics, socio-economic and natural factors in forest owners'  
decision to plant forests have not been paid attention. This study surveyed 150 households in Hai  
Lang district, Quang Tri province, including 80 households planting for small-sized timber and 70  
households planting for large-sized timber. The results of the binary regression analysis show that  
the influencing factors include: Community support, FSC participation, Market understanding are  
the main factors influencing decisions of large timber plantation owners in the study area.  
Keywords: Large-sized timber; small-sized timber; forest owner; binary logistic regression; Hai  
Lang district.  
Received: 08/4/2020; Revised: 30/4/2020; Published: 22/5/2020  
137  
Võ Thị Hải Hiền  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 137 - 144  
1. Mở đầu  
mưa. Tổng diện tích Huyện là 42.368,12 ha  
và 99.429 người. Địa hình có 3 vùng rõ rệt.  
Phía Tây là vùng gò đồi bát úp và núi thấp, ở  
giữa là vùng đồng bằng với gò cát nội đồng  
gần 2.000 ha, thấp hơn là vùng ruộng trũng có  
cao độ âm so mặt nước biển từ 0,8 – 1 m, cuối  
cùng là vùng cát ven biển bãi ngang. Địa bàn  
huyện có hệ thống sông dày đặc gồm sông  
Thạch Hãn, sông Nhùng, Bến Đá, Thác Ma,  
Ô Lâu chảy theo hướng Tây Nam - Đông  
Bắc, ngoài ra còn có sông Vĩnh Định chảy  
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đưa nước ra  
2 cửa biển là cửa Thuận An và cửa Việt Yên.  
Theo Báo cáo quy hoạch Bảo vệ và phát triển  
rừng giai đoạn 2010-2020 của tỉnh Quảng Trị,  
huyện Hải Lăng là một trong hai huyện được  
quy hoạch có diện tích rừng cung cấp Chứng  
chỉ FSC lớn nhất Tỉnh trong giai đoạn 2011 -  
2020. Huyện được lựa chọn khảo sát và  
nghiên cứu do đặc thù của địa hình và tình  
hình trồng rừng sản xuất rất phát triển, là một  
trong 3 huyện trong Tỉnh có diện tích rừng  
trồng cao nhất.  
Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã áp dụng một  
số chính sách nhằm phát triển trồng rừng gỗ  
lớn như Quyết định 607, Nghị định 774/QĐ-  
BNN-TCLN năm 2014 nhằm thúc đẩy trồng  
rừng gỗ lớn, kéo dài thời gian trồng rừng để  
đáp ứng yêu cầu gỗ lớn theo hướng bền vững  
[1], [2]. Các nghiên cứu liên quan đến phát  
triển rừng trồng gỗ lớn đã chỉ ra các yếu tố ảnh  
hưởng đến quyết định của chủ rừng bao gồm  
các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội, như hỗ  
trợ cộng đồng (Thacher và cộng sự, 1997 [3];  
Nguyễn Thị Hoàng Hải, 2015 [4]); đặc điểm  
chủ rừng (Zenebe Gebreegziabher và cộng sự,  
2010 [5]; Nguyễn Nghĩa Biên, 2006 [6]; Bhim  
Adlikari, 2003 [7]); sự hiểu biết và kĩ năng  
(Kallio.M., 2013 [8]; Nguyễn Nghĩa Biên,  
2006 [6]; Harrison, S.R. & Herbohn, J.L. 2001  
[9]); tài chính và tổ chức tín dụng (Nguyễn  
Nghĩa Biên, 2006 [6] và điều kiện tự nhiên,  
khả năng tiếp cận (Kallio.M., 2013 [8]; Trần  
Thị Mai Anh, 2015 [10]).  
Như vậy, mối quan hệ giữa các yếu tố nêu  
trên với quyết định của các chủ rừng trồng gỗ  
lớn sẽ rất quan trọng để hỗ trợ các nhà quản  
lý về việc đưa ra các chính sách phù hợp để  
phát triển lâm nghiệp bền vững. Các chính  
sách phù hợp sẽ khuyến khích chủ rừng phát  
triển trồng rừng gỗ lớn thay vì khai thác ngắn  
chu kì trồng, đồng thời tăng thêm các lợi ích  
gia tăng từ trồng rừng. Trong nghiên cứu này  
đã xác định các yếu tố chính ảnh hưởng trực  
tiếp đến quyết định của chủ rừng trồng gỗ lớn  
trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Khái niệm gỗ lớn hay gỗ nhỏ có thể được  
hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau: Thời  
gian trồng khác nhau hay sự khác biệt về  
đường kính, chiều cao hay mục đích sử dụng  
khác nhau [11]. Tại Việt Nam, có thể kế thừa  
một số khái niệm khác nhau về gỗ lớn căn cứ  
vào các tài liệu pháp lý, điển hình:  
a. Theo quyết định 744/ QĐ-BNN-TCLN: Kế  
hoạch hành động được phê duyệt Cải thiện  
năng suất, chất lượng và giá trị của rừng được  
sản xuất giai đoạn 2014-2020 cho rằng “Gỗ  
lớn là gỗ tròn có đường kính lớn hơn hoặc  
bằng 15 cm trở lên...” [1], [12].  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Địa bàn nghiên cứu  
Địa bàn nghiên cứu tỉnh Quảng Trị giáp ranh  
phía Bắc tỉnh Quảng Bình, phía Nam tỉnh  
Thừa Thiên Huế, phía Tây với nước Lào và  
phía Đông với biển Đông. Địa hình của Tỉnh  
rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả núi, đồi,  
vùng trũng, bờ cát và đảo. Nằm trong vùng khí  
hậu nhiệt đới gió mùa nên hàng năm, Tỉnh  
chịu nhiều ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam.  
Huyện Hải Lăng là một huyện của Tỉnh được  
lựa chọn nghiên cứu khảo sát. Huyện nằm  
phía Nam của Tỉnh, cách thành phố Đông Hà  
20 km về phía Bắc, có 15 xã và 01 thị trấn.  
Huyện có khí hậu nhiệt đới gió mùa rõ rệt.  
Thường xảy ra hạn hán với nền nhiệt cao vào  
mùa hè và ảnh hưởng của bão lụt vào mùa  
b. Theo TCVN - 11567-1: 2016, đối các loài  
cây cụ thể như Keo lai được quy định tại bảng  
1 [13].  
Bảng 1. Quy định gỗ lớn và gỗ nhỏ của Keo Lai  
Chỉ tiêu  
Chu kỳ trồng <10 năm  
Đường kính < 15 cm  
Gỗ nhỏ  
Gỗ lớn  
≥ 10 năm  
≥ 15 cm  
(Nguồn: TCVN 11567-1:2016)  
Trong nghiên cứu này, thuật ngữ gỗ nhỏ với  
vòng quay ngắn (dưới 10 năm) được sử dụng  
làm gỗ dăm hoặc bột giấy, gỗ lớn với vòng  
quay dài hơn 10 năm được sử dụng làm gỗ  
xẻ. Loài cây nghiên cứu điểm được chọn là  
138  
Võ Thị Hải Hiền  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 137 - 144  
Mô hình lýthuyết hồi quy Binary Logistic có dạng:  
cây Keo lai, giống được trồng phổ biến trên  
80% diện tích rừng trên địa bàn Huyện.  
Nghiên cứu áp dụng mô hình hồi quy nhị  
phân để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến  
quyết định của chủ rừng trồng gỗ lớn trên địa  
bàn Huyện. Dung lượng mẫu điều tra khảo sát  
được tính theo công thức sau (Tabachnick &  
ez  
1)   
P(Yi  
1ez  
Trong đó:  
P là xác suất để hiện tượng Yi xảy ra, Yi là  
yếu tố định tính  
Y được xác định thông qua hàm: Y = bo +  
∑αiXi + ∑βiDi + ui  
Xi (i = 1, ..., k) là các yếu tố định lượng  
Di là yếu tố định tính  
ui là sai số của mô hình  
Fidell, 2007) [14]: n > 50 + 8*m  
(1)  
Trong đó:  
n: Dung lượng mẫu khảo sát  
m: Số biến độc lập được đưa vào mô hình  
Mô hình đưa vào 10 yếu tố độc lập nên tổng  
số mẫu khảo sát: n > 50+ 8*10 = 130 mẫu.  
Thật vậy, nghiên cứu thu thập số liệu từ 150  
phiếu khảo sát trên địa bàn nghiên cứu.  
Bảng câu hỏi được thiết kế được sử dụng  
nhằm thu thập dữ liệu về đặc điểm hộ, điều  
kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến  
quyết định của chủ rừng trồng gỗ lớn. Việc  
phát phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp  
trong tháng 8 năm 2019 trên địa bàn Huyện  
đã thu thập được những thông tin quan trọng  
về nội dung nghiên cứu.  
Căn cứ vào cơ sở lý thuyết, những công trình  
nghiên cứu đã công bố như Nguyễn Nghĩa  
Biên (2006) [6], Trần Thị Mai Anh (2015)  
[10], Võ Thị Hải Hiền và cộng sự (2019)  
[15]... Khảo sát dựa trên mô hình lý thuyết  
đánh giá các yêu tố ảnh hưởng đến quyết định  
trồng rừng gỗ lớn (hình 1).  
Xây dựng mô hình hồi quy thông qua việc xử  
lý số liệu thống kê được thực hiện trên phần  
mềm SPSS 23 thông qua mô hình Binary  
logistic Regression (hồi quy nhị phân). Mô  
hình sử dụng biến phụ thuộc là biến định tính  
(biến phân loại) với hai lựa chọn “Có –  
Không”, nhằm ước lượng xác suất một sự kiện  
sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập.  
Hình 2. Đồ thị hàm Logistic  
Trong đó, P là xác suất để Y = 1 (là xác suất  
để sự kiện xảy ra) khi các biến độc lập nhận  
giá trị cụ thể. Theo đó, xác suất không xảy ra  
sự kiện là:  
ez  
1
1P Pr ob(Y 0) 1  
1ez 1ez  
Biến phụ thuộc là quyết định trồng gỗ lớn của  
chủ rừng - Y  
(Trong đó, biến phụ thuộc Y nhận 2 giá trị là  
0 hoặc 1)  
Y =1 phản ánh chủ rừng quyết định trồng  
rừng gỗ lớn  
Y = 0 phản ánh chủ rừng không quyết định  
trồng rừng gỗ lớn.  
Biến độc lập X1, X2,…, Xk – Những nhân  
tố ảnh hưởng tới việc ra quyết định của chủ  
rừng (bảng 2).  
Quyết định trồng rừng gỗ lớn  
Đặc điểm  
hộ  
Yếu tố  
tự nhiên  
Yếu tố  
kĩ thuật  
lâm sinh  
Yếu tố  
Kinh tế -  
xã hội  
Yếu tố  
thể chế  
chính sách  
Hình 1. Khung sơ lược mô hình lý thuyết về các yếu ảnh hưởng  
đến quyết định trồng rừng gỗ lớn của chủ rừng  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2019)  
139  
Võ Thị Hải Hiền  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 137 - 144  
Bảng 2. Biến mô hình hồi quy nhị phân  
STT  
Biến phụ thuộc  
Biến  
Nội dung  
Ghi chú  
1= “Có”  
0= “Không”  
1
QUYETDINH  
Quyết định trồng rừng gỗ lớn  
Biến độc lập  
1
HOCVAN  
Trình độ học vấn (năm)  
Xếp loại hình hộ  
Biến liên tục  
1= “Nghèo”  
2= “Trung bình”  
3= “ Khá giả trở lên”  
Biến liên tục  
0=“Không”  
2
XEPLOAIHO  
3
4
5
6
DIENTICHRUNG  
TAPHUAN  
Diện tích rừng (ha)  
Được tập huấn các kỹ thuật lâm sinh  
1= “Có”  
KHOANGCACH  
PHANBON  
Khoảng cách từ nhà đến khoanh rừng (km) Biến liên tục  
0= “Không”  
1= “Có”  
Phân bón  
1= “Thuận lợi”  
1
TIEPCAN  
Khả năng tiếp cận rừng của chủ rừng  
2= “Trung bình”  
3= “ Khó khăn”  
0= “Không tham gia”  
1= “Có tham gia”  
0= “Không được hỗ trợ”  
1= “Có được hỗ trợ”  
0= “Không”  
8
9
FSC  
Rừng có chứng chỉ FSC  
CONGDONG  
Chính sách hỗ trợ từ cộng đồng  
Am hiểu về thị trường, giá gỗ lớn  
10 AMHIEUTHITRUONG  
1= “Có”  
Để xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định của chủ rừng, các biến độc lập được  
kiểm tra bằng hệ số tương quan Pearson (r), nếu | r | lớn hơn 0,3 thì có thể khẳng định các yếu tố  
đưa vào có mối quan hệ với quyết định trồng rừng gỗ lớn. Căn cứ vào đó để loại đi các biến độc  
lập ít mối tương quan với việc ra quyết định của chủ rừng. Những biến đưa vào phù hợp đó sẽ  
được sử dụng cho phân tích hồi quy nhị phân. Kết quả của phân tích hồi quy nhị phân, dựa vào  
kết quả hệ số ý nghĩa quan sát sig. = 0,000 < 0,05 (5%) được chọn là một yếu tố ảnh hưởng đến  
quyết định của chủ rừng với độ tin cậy 95%.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Mối tương quan các yếu tố với việc ra quyết định trồng rừng gỗ lớn của chủ rừng  
Trên cơ cở thu thập ý kiến 150 chủ rừng được phân ra làm 2 nhóm: Nhóm chủ rừng có quyết  
định trồng rừng gỗ lớn (có 70 chủ rừng, được mã hóa là 1 trong mô hình), và nhóm chủ rừng có  
quyết định còn lại (có 80 chủ rừng, được mã hóa là 0 trong mô hình). Do đó, 2 nhóm này được sử  
dụng để kiểm định thống kê trong điều kiện dung lượng mẫu của hai nhóm chủ rừng trong điều  
kiện tương đương cho phép.  
Mối tương quan giữa các biến nhân tố độc lập và quyết định của chủ rừng chỉ ra 5 nhân tố có mối  
quan hệ tương quan chặt (bảng 3).  
Bảng 3. Bảng tương quan các nhân tố với việc ra quyết định trồng rừng gỗ lớn tại Huyện  
STT  
Chỉ tiêu  
Tên biến  
FSC  
CONGDONG  
AMHIEUTHITRUONG  
TAPHUAN  
Pearson correlation Sig (2-tailed)  
1
2
3
4
5
Tham gia chứng chỉ FSC  
Chính sách hỗ trợ từ cộng đồng  
Am hiểu thị trường, giá gỗ lớn  
Được tập huấn các kỹ thuật lâm sinh  
Diện tích đất rừng  
.571**  
.542 **  
.484**  
.461**  
.301**  
.000  
.000  
.000  
.000  
.000  
DIENTICHRUNG  
*. Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).  
**. Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed).  
(Nguồn: Kết quả chạy mô hình của Tác giả)  
140  
Võ Thị Hải Hiền  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 137 - 144  
Nhân tố “FSC” và quyết định của chủ rừng  
trồng gỗ lớn có mối tương quan chặt chẽ do  
giá trị tuyệt đối của hệ số Pearson khá cao là  
0,571 >0,3 với giá trị Sig là 0,000.  
DIENTICHRUNG, PHANBON, không có  
mối tương quan hoặc mối tương quan lỏng  
với biến phụ thuộc QUYETDINH.  
Từ kết quả phân tích tương quan, áp dụng mô  
hình hồi quy logistic nhị phân, đưa các biến  
độc lập có mối tương quan với biến phụ  
thuộc, nhằm xác định những nhân tố ảnh  
hưởng đến việc ra quyết định trồng rừng gỗ  
lớn của chủ rừng. Sau khi sử dụng phương  
pháp này để chạy mô hình trên phần mềm  
SPSS, kết quả phân tích hồi quy nhị phân đối  
với các biến độc lập của chủ rừng được thể  
hiện qua bảng 5. Trong các biến độc lập có  
mối tương quan với biến QUYETDINH đưa  
vào mô hình, kết quả chỉ ra có 3 biến có ý  
nghĩa thống kê nhỏ hơn 0,05. Bao gồm: FSC,  
CONGDONG, AMHIEUTHITRUONG. Đây  
là 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định  
của chủ rừng về việc trồng gỗ lớn:  
Tiếp theo, trị tuyệt đối của hệ số Pearson của  
nhân tố “CONGDONG” là 0,542. Như vậy,  
mối tương quan tuyến tính giữa sự hỗ trợ của  
cộng đồng và quyết định trồng gỗ lớn của chủ  
rừng khá chặt.  
Tương tự, trị tuyệt đối của các hệ số Pearson  
nhân tố “TAPHUAN”, “DIENTICHRUNG”,  
“AMHIEUTHITRUONG”, | r | lớn hơn 0,3.  
Do vậy, thông qua việc phân tích mối tương  
quan giữa các yếu tố độc lập với quyết định  
trồng rừng gỗ lớn, mô hình lựa chọn được 5  
biến, bao gồm: FSC, DIENTICHRUNG,  
CONGDONG,  
AMHIEUTHITRUONG,  
TAPHUAN, là những nhân tố có mối tương  
quan với quyết định của chủ rừng.  
Biến “FSC” với mức ý nghĩa thống kê 0,05 có  
mối tương quan thuận đến quyết định trồng  
rừng gỗ lớn của chủ rừng. Thực tế khảo sát cho  
thấy, những chủ rừng nào có tham gia chứng  
chỉ rừng FSC sẽ có quyết định trồng rừng gỗ  
lớn. Chủ rừng cho rằng tham gia nhóm FSC và  
nhận chứng chỉ cho sản phẩm gỗ, chủ rừng có  
thể bán giá gỗ cao hơn và không phải lo lắng  
về thương lái ép giá sản phẩm.  
3.2. Nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết  
định trồng rừng gỗ lớn của chủ rừng  
Kết quả bảng 4, có 10 hộ chủ rừng lựa chọn  
phương án còn lại sẽ chuyển sang trồng gỗ  
lớn với tỷ lệ đúng 87,5%, trong khi 16 hộ gia  
đình được trả lời rằng họ trồng gỗ lớn được  
dự đoán sẽ không trồng với tỷ lệ đúng là  
77,1%. Như vậy, mô hình dự đoán đúng được  
82,7%. Kết quả này cho thấy tỷ lệ dự đoán  
mô hình được chấp nhận, có thể kết luận mô  
hình sử dụng trong nghiên cứu là khá hợp lý.  
Biến“AMHIEUTHITRUONG” với mức ý  
nghĩa thống kê 0,05 có mối tương quan thuận  
đến quyết định trồng rừng gỗ lớn của chủ rừng.  
Có nghĩa là những chủ rừng có sự hiểu biết về  
giá gỗ lớn, thị trường gỗ lớn thì họ sẽ có quyết  
định trì hoãn thời gian khai thác sớm, kéo dài  
thời gian trồng để khai thác gỗ lớn.  
Bảng 4. Bảng phân loại quyết định trồng rừng  
gỗ lớn trên địa bàn Huyện  
Quyết định  
Không Có  
Percentage  
Correct  
87.5  
Quyết Không 70  
định Có 16  
Overall  
Percentage  
a. The cut value is .500.  
10  
54  
77.1  
Step 1  
Kết quả cũng chỉ ra “CONGDONG” cũng là  
một biến số độc lập quan trọng đồng biến với  
quyết định trồng rừng gỗ lớn với mức ý nghĩa  
thống kê là 0,05. Các chính sách hỗ trợ từ  
cộng đồng trồng rừng sẽ tạo thêm động lực,  
niềm tin cho chủ rừng tham gia các mô hình  
trồng rừng gỗ lớn. Chủ rừng được khuyến  
khích thông qua sự hỗ trợ của các chủ rừng  
khác như cung cấp thông tin, nguồn giống  
hay cộng đồng nhóm trồng rừng gỗ lớn sẽ  
thường xuyên trao đổi kinh nghiệm về kĩ  
thuật lâm sinh.  
82.7  
(Nguồn: Kết quả chạy mô hình của tác giả)  
Sử dụng kết quả phân tích bảng 3, thông qua  
việc phân tích mối tương quan giữa các yếu tố  
độc lập với quyết định trồng rừng gỗ lớn, mô  
hình lựa chọn được 5 biến: CONGDONG,  
FSC,  
DIENTICHRUNG,  
TAPHUAN,  
AMHIEUTHITRUONG, có mối tương quan  
với quyết định của chủ rừng. Còn 5 biến:  
HOCVAN,  
TIEPCAN,  
XEPLOAIHO,  
141  
Võ Thị Hải Hiền  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 137 - 144  
Bảng 5. Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn Huyện  
Variables in the equation  
B
S.E.  
Wald  
df  
Sig.  
Exp(B)  
Constant  
FSC  
AMHIEUTHITRUONG  
CONGDONG  
-20.806  
2.345  
3.039  
1.831  
.774  
1.121  
.719  
9.164  
7.353  
6.486  
1
1
1
.002  
.007  
.011  
10.429  
20.876  
6.242  
Dependent variable: QUYETDINH  
Number of Observation  
150  
Omnibus Test of Model Coefficients:  
103.300  
10  
.000  
Chi-square  
df.  
Sig.  
Model summary :  
103.977  
0.498  
0.665  
-2 Log likelihood  
Cox & Snell R Square  
Nagelkerke R Square  
(Nguồn: Kết quả chạy mô hình của tác giả)  
Theo bảng 5, kiểm định Omnibus về hệ số  
mô hình sig. = 0,000 <0,05, bác bỏ giả  
thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1. Điều đó  
có nghĩa là mối tương quan giữa 3 biến độc  
lập được đưa vào trong mô hình có ý nghĩa  
thống kê trong việc giải thích biến phụ thuộc  
với khoảng tin cậy là 95%. Mô hình có độ  
phù hợp tương đối tốt.  
hưởng đến quyết định của chủ rừng bởi  
những nguyên nhân khác nhau. Do đó, cần  
đồng bộ hóa các giải pháp với các bên liên  
quan như nhà khoa học, nhà quản lý, địa  
phương nhằm thúc đẩy phát triển rừng trồng  
gỗ lớn. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số  
giải pháp phát triển rừng trồng gỗ lớn trên địa  
bàn Huyện dựa trên kết quả chạy ra từ mô  
hình, cụ thể như sau:  
Căn cứ vào kết quả của bảng Model  
Summary, mô hình hồi quy logistic mà  
nghiên cứu sử dụng cho thấy chỉ số 2LL đạt  
giá trị 103.977a. Đây là chỉ số thích hợp  
khẳng định tính chắc chắn của mô hình. Hệ số  
tương quan Nagellkerke R square đạt giá trị  
0,665 nhận định rằng trong tất cả các nhân tố  
ảnh hưởng đến quyết định trồng rừng gỗ lớn  
thì 3 yếu tố đưa vào mô hình đã giải thích  
được 66,5% sự ảnh hưởng đến quyết định của  
chủ rừng về trồng gỗ lớn, còn 33,5% còn lại  
được giải thích bởi các yếu tố khác không có  
điều kiện để đưa vào trên mô hình.  
(1) Tham gia chứng chỉ rừng FSC  
Tham gia chứng chỉ FSC rất quan trọng trong  
việc thay đổi nhận thức của người dân địa  
phương trên địa bàn Huyện về phát triển gỗ  
lớn. Từ khi dự án FSC được triển khai trên  
địa bàn đã tạo cơ hội cho chủ rừng được tham  
gia khóa đào tạo nhằm tìm hiểu thêm về các  
kiến thức lâm sinh về gỗ lớn, cũng như hưởng  
lợi từ gỗ lớn khi tham gia chứng chỉ rừng. Khi  
tham gia nhóm FSC, chủ rừng có thể bán sản  
phẩm với giá cao hơn giá thị trường hiện tại  
và cũng đảm bảo về sản lượng sản phẩm. Tuy  
nhiên dự án FSC vẫn còn nhiều bất cập khi  
thực hiện. Đầu tiên, dự án FSC được triển  
khai dựa trên sự tham gia tình nguyện của chủ  
rừng địa phương và không có bất kỳ cam kết  
nào về thời gian luân kỳ. Vì vậy, sẽ hiệu quả  
hơn nếu chủ rừng địa phương có cam kết với  
nhóm FSC về quy định luân kỳ trồng, hạn chế  
chủ rừng bán rừng non. Các chủ rừng cần có  
nhiều cơ hội hơn để thăm rừng trồng gỗ lớn  
Từ các hệ số hồi quy được xác định, phương  
trình hồi quy được thể hiện như sau:  
Loge  
= -20.806+ 3.039AMHIEUTHITRUONG  
+ 2.345FSC + 1.831CONGDONG  
3.3. Một số giải pháp phát triển rừng trồng  
gỗ lớn trên địa bàn huyện Hải Lăng, tỉnh  
Quảng Trị  
Từ kết quả phân tích từ mô hình hồi quy nhị  
phân, nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố ảnh  
142  
Võ Thị Hải Hiền  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 137 - 144  
có tham gia chứng chỉ FSC ở các khu vực  
khác để nhận thấy những lợi ích mang lại  
nhằm tăng thu nhập, đặc biệt góp phần bảo vệ  
môi trường sinh thái, cũng như tăng niềm tin  
của họ khi kéo dài luân kỳ trồng rừng.  
giải thích bởi các yếu tố khác không có điều  
kiện để đưa vào trên mô hình.  
Để phát triển rừng trồng gỗ lớn trên địa bàn  
huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cần phải thực  
hiện nhiều giải pháp đồng bộ và có sự phối  
hợp với các bên liên quan giữa Chính phủ, Bộ  
Ngành, địa phương và chủ rừng và các nhà  
khoa học để phát triển lâm nghiệp theo hướng  
bền vững.  
(2) Sự am hiểu về thị trường, giá cả gỗ lớn  
Bên cạnh sự quan trọng về tham gia chứng chỉ  
FSC thì sự am hiểu về thị trường gỗ lớn là rất  
cần thiết để thúc đẩy chủ rừng tham gia phát  
triển rừng gỗ lớn trên địa bàn. Am hiểu về thị  
trường gỗ lớn sẽ giúp chủ rừng nhận định được  
những giá trị và lợi ích mang lại từ việc trồng  
rừng gỗ lớn. Giá trị của rừng gỗ lớn không chỉ  
mang lại về mặt kinh tế mà trên khía cạnh môi  
trường. Do đó, cần nâng cao kiến thức của chủ  
rừng về gỗ lớn vì còn nhiều chủ rừng chưa  
nhận thức được gỗ lớn là như thế nào, lợi ích  
mang lại ra sao. Đồng thời giúp được các chủ  
rừng được tiếp cận gần hơn với thị trường gỗ  
hiện nay đang rất “nóng”.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1].  
Minister of Agriculture and Rural  
Development, Decision 744/QĐ-BNN-TCLN:  
Approved Action Plan Improving Productivity,  
Quality, And Value of Forests Planted Phase  
Manufacturing 2014-2020, 2014.  
[2]. Minister of Agriculture and Rural  
Development, Decision 607/QĐ-BNN-TCLN  
(03/03/2017) on approving the results of  
forest inventory and investigation of 19  
provinces, 2017.  
[3]. T. Thacher, D. R. Lee, and J. W. Schelhas,  
Farmer participation in reforestation  
incentive programs in Costa Rica, Working  
paper 97-11, Department of Agricultural,  
Resource and Managerial Economics; Cornell  
University, Ithaca, New York, 1997.  
[4]. T. H. H. Nguyen, S. Hoshino, and S.  
Hashimoto, “Costs Comparison between FSC  
and Non FSC Acacia Plantations in Quang Tri  
Province, Vietnam,” International Journal of  
Environmental Science and Development, vol.  
6, no. 12, pp. 947-951, 2015.  
[5]. Z. Gebreegziabher, A. Mekonnen, M. Kassie,  
and G. Köhlin, Household Tree Planting in  
Tigrai, Northern Ethiopia: Tree Species,  
Purposes, and Determinants, Working Papers  
in Economics 432, University of Gothenburg,  
Department of Economics, 2010.  
(3) Sự hỗ trợ từ cộng đồng trồng rừng  
Nếu có sự hỗ trợ từ cộng đồng trồng rừng,  
truyền bá kinh nghiệm, sự hiểu biết của các  
chủ rừng có kinh nghiệm cho các chủ rừng  
khác, nhằm khai thông tư tưởng, thấy được  
lợi ích của trồng gỗ lớn, thúc đẩy các chủ  
rừng chuyển đổi trồng sang gỗ lớn.  
Như vậy, nếu các chủ rừng quan tâm đến các  
đề án, chính sách trồng rừng gỗ lớn hiện nay  
đã và đang được thực thi sẽ tạo điều kiện hỗ  
trợ về tài chính, và hỗ trợ kỹ thuật trong việc  
phát triển trồng rừng gỗ lớn.  
4. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong những  
nhân tố được coi ảnh hưởng đến quyết định  
trồng rừng, thì có 3 nhân tố chính ảnh hưởng  
trực tiếp đến việc ra quyết định trồng rừng gỗ  
lớn của chủ rừng là: tham gia chứng chỉ FSC,  
sự am hiểu thị trường gỗ lớn, và sự hỗ trợ từ  
cộng đồng trồng rừng. Kết quả của mô hình  
chạy cho thấy các biến độc lập có mối tương  
quan rất chặt chẽ với việc trồng rừng gỗ lớn  
của chủ rừng, các biến độc lập giải thích được  
92,5% sự ảnh hưởng đến quyết định của chủ  
rừng về việc trồng gỗ lớn; 7,5% còn lại được  
[6]. N. B. Nguyen, Why do farmers choose to  
harvest small-sized timber? – A Survey in  
Yen Bai Province, Northern Vietnam, 2006.  
[7]. B. Adhikari, Property rights and natural  
resources: Socio – Economic heterogeneity  
and distributional implictions of common  
property resource management, This work is  
used with the permission of South Asian  
network for Development and Environmental  
Economics (SANDEE). PO Box 8975, EPC-  
1056 Kathmandu, Nepal, 2003.  
[8]. M. H. Kallio, “Factors influencing farmers’  
tree planting and management activity in four  
case studies in Indonesia,” Academic  
143  
Võ Thị Hải Hiền  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(07): 137 - 144  
dissertation for the Dr. Sc. (Agric.&For.)  
Degree. University of Helsinki, 2013.  
[9]. S. R. Harrison, and J. L. Herbohn, Towards a  
vibrant tropical small-scale forestry industry:  
Imperatives, opportunities and challenges, In:  
Long Rotation Plantations in NSW, 2002.  
[12]. Minister of Agriculture and Rural  
Development, Forestry Development Strategy  
2006-2020, 2007.  
[13]. Plantation  
-
Large timber plantation  
Harrison, S.R.  
&
Herbohn, J.L (eds.)  
transformed from small wood - Part 1: Acacia  
hybrid (A. mangium x A- auriculiformis),  
Vietnam Standard: TCVN 11567-1:2016, 2016.  
[14]. B. G. Tabachnick, and L. S. Fidell, Using  
multivariate statistics. (5th ed.). Boston, MA:  
Allyn and Bacon, 2007.  
[15]. T. H. H. Vo, D. H. Le, and T. V. Luu, “Small-  
sized timber or large – sized timber plantation:  
A case study in Vinh Linh district, Quang Tri  
province?,” Journal of Forestry Science and  
Technology, vol.7, pp. 164-172, 2019.  
“Sustainable farm forestry in the tropics”,  
Social and economic analysis and policy,  
Edward  
Elgar,Cheltenham,  
UK  
&
Northampton, MA, USA, pp. 271-282, 2001.  
[10]. T. M. A. Tran, Analysing the key drivers of  
tree planting from local people with Bayesian  
Networks in Cao Phong District, Hoa Binh  
Province, Vietnam, Study report at VietNam  
National forestry University, 2015.  
[11]. Food and Agriculture Organization, Forest  
Plantation Working Papers: Case Study on  
144  
pdf 8 trang yennguyen 17000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định trồng rừng gỗ lớn tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_nhan_to_anh_huong_den_quyet_dinh_trong_rung_g.pdf