Phát triển lâm nghiệp bền vững ở Lai Châu hiện nay

Kinh tế & Chính sách  
PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG Ở LAI CHÂU HIỆN NAY  
Nguyễn Văn Khương1, Hoàng Thị Nhung1  
1Trường Đại học Lâm nghiệp  
TÓM TẮT  
Phát triển Lâm nghiệp bền vững đang là sự lựa chọn phát triển đúng đắn nhất trong tổng thể chương trình tái cơ  
cấu ngành Lâm nghiệp. Xét về bản chất đó chính là quá trình tối ưu hoá các giải pháp cho việc tập hợp và động  
viên sức mạnh của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực quản lý, bảo vệ,  
phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại hoá lâm sản, qua đó giải quyết công ăn việc làm, tăng thu  
nhập, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng, gắn với xây dựng nông thôn mới và đảm  
bảo an ninh, quốc phòng. Thực hiện, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Lai Châu đến năm 2020 và tầm  
nhìn đến năm 2030, cơ cấu kinh tế Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản ở tỉnh đang có sự chuyển dịch đúng hướng,  
giảm tỷ trọng ngành Nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành Lâm nghiệp và Thủy sản. Cơ cấu ngành Lâm nghiệp nói  
chung, đang chuyển dịch từ khai thác, sử dụng rừng sang trồng, bảo vệ và phát triển rừng, giải quyết hài hòa  
giữa mục tiêu bảo vệ môi trường với mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Cơ cấu giá trị sản xuất của Lâm  
nghiệp được tính thông qua 4 nội dung là: Bảo vệ tài nguyên rừng, trồng và chăm sóc rừng; sản xuất chế biến  
gỗ; phát triển dịch vụ Lâm nghiệp.  
Từ khóa: Nâng cao giá trị lâm sản, phát triển bền vững, phát triển cây công nghiệp, phân loại rừng và  
chủ rừng.  
vụ môi trường có liên quan đến rừng. Cùng  
những giá trị kinh tế lớn lao mà nó mang lại thì  
Lâm nghiệp ngày càng cho thấy vị trí, vai trò  
vô cùng quan trọng của nó trong việc bảo vệ  
môi trường và phát triển bền vững của nhiều  
quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.  
Giá trị cốt lõi của Lâm nghiệp là tạo ra một  
loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được,  
có giá trị phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven  
biển, giúp điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn  
nước, hạn chế xói mòn, rửa trôi, sạt lở, hạn chế  
thiên tai lũ lụt, hạn hán, chống thoái hóa đất và  
hoang mạc hóa, góp phần bảo tồn đa dạng sinh  
học, cung cấp nguồn nhiên liệu sinh học thay  
thế nhiên liệu hóa thạch và ứng phó tích cực  
hiệu quả với biến đổi khí hậu toàn cầu.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Phát triển bền vững là thuật ngữ khoa học  
xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn  
phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố  
bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài  
nguyên Thiên nhiên Quốc tế IUCN với ý nghĩa  
là: Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ  
chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn  
trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự  
tác động đến môi trường sinh thái học. Kể từ  
đó đến nay khái niệm này được phổ biến rộng  
rãi. Coi phát triển bền vững là: sự phát triển có  
thể đáp ứng được những nhu cầu phát triển của  
hiện tại mà không ảnh hưởng, làm tổn hại đến  
những khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển của  
các thế hệ tương lai, sự phát triển ngày hôm  
nay không chặt đứt sự phát triển tiếp theo mà  
còn tạo điều kiện, tiền đề cho sự phát triển  
trong tương lai. Cốt lõi của phát triển bền vững  
là phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế hiệu quả,  
xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ,  
an ninh an toàn xã hội được củng cố.  
Lai Châu là tỉnh biên giới phía Tây Bắc của  
Tổ quốc, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 450 km  
về phía Đông Nam, phía Bắc và Tây Bắc giáp  
tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, phía Tây giáp  
tỉnh Điện Biên, phía Đông và phía Đông Nam  
tiếp giáp với hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái, phía  
Nam tiếp giáp với tỉnh Sơn La. Địa hình được  
tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây  
Bắc - Đông Nam, có nhiều đỉnh núi cao như  
đỉnh Pu Sa Leng cao 3.096 m. Núi đồi cao và  
dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp. Có  
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật  
đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền  
với sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ rừng như  
hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận  
chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
135  
Kinh tế & Chính sách  
265,095 km đường biên giới giáp với Trung  
Quốc, là tỉnh có vị trí quan trọng về địa lý và  
an ninh quốc phòng trong công cuộc xây dựng  
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
Là một tỉnh miền núi, nằm ở vị trí đầu  
nguồn của sông Đà, với diện tích tự nhiên  
906.878,7 ha, diện tích quy hoạch Lâm nghiệp  
là 752.172 ha, trong đó rừng đặc dụng 41.275  
ha, rừng phòng hộ 417.180 ha và rừng sản xuất  
293.717 ha, rừng Lai Châu có nhiều loại gỗ  
quý, có giá trị kinh tế cao, các vạt rừng nguyên  
sinh còn tồn tại ở những vùng núi cao, xa và  
địa hình hiểm trở. Đó là những điều kiện rất  
thuận lợi để Lai Châu đẩy mạnh phát triển  
ngành kinh tế Lâm nghiệp theo hướng bền  
vững. Những năm qua, được sự quan tâm của  
Chính phủ và các tổ chức quốc tế, dưới sự chỉ  
đạo của Đảng bộ tỉnh Lai Châu, bằng nhiều  
giải pháp và hướng đi phù hợp. Kinh tế Lâm  
nghiệp ở Lai Châu đã đạt được nhiều thành tựu  
quan trọng ngày càng khẳng định được vai trò  
và giá trị to lớn đóng góp vào tổng thể phát  
triển kinh tế - xã hội địa phương, xóa đói giảm  
nghèo, làm giàu, bảo vệ môi trường sinh thái  
và ổn định an ninh biên giới quốc gia. Với ý  
nghĩa đó, có thể khẳng định việc xác định phát  
triển Lâm nghiệp theo hướng bền vững là  
hướng đi đúng đắn của Lai Châu trong giai  
đoạn hiện nay.  
hiện Chương trình mục tiêu phát triển lâm  
nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020 theo  
Quyết định số 886 ngày 16/6/2017 của Thủ  
tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu nâng cao  
năng suất, chất lượng rừng, góp phần giảm nhẹ  
thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó  
với biến đổi khí hậu và nước biển dâng gắn với  
nhiệm vụ bảo vệ rừng, trồng mới rừng và đã  
đạt được nhiều kết quả quan trọng.  
3.1. Quy hoạch, thống kê phân loại rừng và  
chủ rừng phục vụ công tác quản lý phát  
triển kinh tế Lâm nghiệp bền vững  
Ngày 20/8/2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Lai  
Châu đã ban hành Quyết định số 17/2012/ QĐ  
– UBND phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát  
triển rừng tỉnh Lai Châu, giai đoạn 2011 -  
2020. Cho đến nay Lai Châu đã cơ bản thực  
hiện xong việc thống kê phân loại rừng và chủ  
rừng phục vụ cho kế hoạch phát triển kinh tế  
rừng bền vững.Tổng diện tích quy hoạch Lâm  
nghiệp là 752.172 ha, trong đó rừng đặc dụng  
41.275 ha, rừng phòng hộ 417.180 ha và rừng  
sản xuất 293.717 ha. Phấn đấu nâng độ che  
phủ rừng trên 50,0% vào năm 2020, đẩy mạnh  
xây dựng vốn rừng, cơ bản hoàn thành giao đất  
giao rừng, xây dựng cơ sở hạ tầng lâm sinh. Từ  
năm 2016, Lai Châu đã tiếp tục xây dựng vốn  
rừng và từng bước chuyển sang giai đoạn kinh  
doanh rừng. Tăng giá trị sản xuất của ngành  
lâm nghiệp bình quân 7 - 9%/năm. Kim ngạch  
xuất khẩu lâm sản đạt 0,5 - 1 triệu USD/năm,  
giảm dần tình trạng phá rừng làm nương rẫy  
trái phép; cải thiện đời sống của người làm  
nghề rừng, tạo công ăn việc làm cho khoảng  
50.000 lao động; nâng cao mức sống cho  
người dân; từng bước tạo cho người làm nghề  
rừng có thể sống và gắn bó với rừng. Cùng với  
các chương trình, dự án khác góp phần ổn định  
dân cư, nâng cao đời sống nhân dân, thông qua  
đó giữ vững trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo  
quốc phòng an ninh trên địa bàn tỉnh, đặc biệt  
là khu vực biên giới.  
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu quá trình phát triển Lâm nghiệp  
theo hướng bền vững ở Lai Châu trong giai  
đoạn hiện nay.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Trong quá trình nghiên cứu nhóm tác giả sử  
dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ  
nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận  
chung, cùng với đó là các phương pháp cụ thể  
như: Thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp.  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Lai Châu,  
nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết đẩy mạnh thực  
136  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
Bảng 1. Diện tích và độ che phủ rừng các tỉnh Tây Bắc  
(tính đến ngày 31/12/2018)  
Rừng tự nhiên Diện tích có rừng  
Rừng trồng  
(ha)  
Tỷ lệ che phủ  
(%)  
Vùng  
Tỉnh  
(ha)  
(ha)  
Tổng  
1.530.833  
427.222  
374.003  
587.707  
141.901  
1.704.168  
445.275  
381.593  
619.830  
257.471  
173.335  
18.053  
7.589  
44,57  
49,29  
39,75  
43.51  
51,50  
Lai Châu  
Điện Biên  
Sơn La  
Tây Bắc  
32.123  
115.570  
Hòa Bình  
Nguồn: Bộ NN&PTNT (2019), Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN ngày 19/3/2019 về công bố hiện  
trạng rừng năm 2018, Hà Nội.  
thức của người dân về rừng và tầm quan trọng,  
ý nghĩa của công tác bảo vệ, phát triển rừng mà  
còn nâng cao khả năng phòng hộ, điều hòa khí  
hậu của rừng, giữ và cung cấp nước cho các  
nhà máy thủy điện cũng như sinh hoạt, sản  
xuất của nhân dân.  
3.2. Công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng  
Thực hiện Chị thị số 1685/CT - TTg ngày  
27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc  
“tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn  
chặn tình trạng phá rừng và chống người thi  
hành công vụ”, tỉnh Lai Châu đã chỉ đạo tăng  
cường công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và  
Phát triển rừng, tuyên truyền Nghị định  
139/CP, Nghị định 157/CP của Chính phủ về  
xử lý các hành vi vi phạm và các văn bản quy  
phạm pháp luật của Nhà nước, của ngành bằng  
nhiều hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp  
với từng vùng, từng đối tượng. Đặc biệt là  
tuyên truyền cho người dân sống gần rừng.  
Tỉnh đã triển khai Chương trình thí điểm  
khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng phòng hộ rất  
xung yếu tại 21 xã biên giới của tỉnh Lai Châu.  
Rừng ở các xã biên giới đã và đang được bảo  
vệ tốt. Hơn 11.000 hộ gia đình thông qua việc  
nhận khoán khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng  
có thêm thu nhập ổn định từ dự án với 1,8 triệu  
đồng/hộ/năm.  
Để khắc phục tình trạng phá rừng, đốt  
nương làm rẫy và sự thay đổi bất thường của  
thời tiết do biến đổi khí hậu, từ năm 2012, tỉnh  
Lai Châu đã triển khai chính sách chi trả dịch  
vụ môi trường rừng. Mặc dù không phải là tỉnh  
được chọn làm điểm về chi trả dịch vụ môi  
trường rừng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn chọn Sơn La, Lâm Đồng, Đắk Lắk),  
nhưng sau khi Lai Châu thực hiện chương trình  
thì lại trở thành tỉnh giải quyết vấn đề này rất  
tốt. Việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ  
môi trường rừng không chỉ làm thay đổi nhận  
Tỉnh Lai Châu đã thành lập khoảng 990 Tổ  
chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng tại hầu  
hết các thôn, bản, nên đã phát huy được tinh  
thần tự chủ động trong công tác tuần tra, kiểm  
soát và bảo vệ rừng. Hàng năm ngành Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn đều phối hợp  
với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã thông  
qua lực lượng kiểm lâm xây dựng kế hoạch  
bảo vệ diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc  
dụng. Cùng với đó, các cơ quan chức năng và  
chính quyền các địa phương luôn làm tốt công  
tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng  
các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý,  
bảo vệ rừng đến người dân. Chi cục Kiểm lâm  
Lai Châu dưới sự chỉ đạo của ủy ban nhân dân  
tỉnh đã kịp thời tuyên truyền, đưa chính sách  
đến từng thôn bản, vận động người dân tham  
gia bảo vệ và phát triển rừng. Phát huy vai trò  
nòng cốt, lực lượng kiểm lâm đã đến từng hộ  
dân được hưởng chính sách trên địa bàn tỉnh để  
tuyên truyền, vận động bà con tham gia bảo vệ  
và phát triển rừng; trực tiếp hướng dẫn bà con  
sản xuất lâm nghiệp. Nguồn vốn hỗ trợ được  
quy định tại Nghị định 75 NĐ/CPcủa Chính  
phủ (về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển  
rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh,  
bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số  
giai đoạn 2015 – 2020) được chi trả thông qua  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
137  
Kinh tế & Chính sách  
lực lượng kiểm lâm nên công tác lập hồ sơ và  
ký kết hợp đồng của người dân đều được thực  
hiện dưới sự hướng dẫn của lực lượng kiểm  
lâm, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo  
vệ rừng trên địa bàn toàn tỉnh. Điểm nổi bật  
trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Lai Châu  
là hàng năm Sở Nông nghiệp và Phát triển  
nông thôn phối hợp với Uỷ ban nhân dân các  
huyện, thị xã thông qua lực lượng kiểm lâm  
xây dựng kế hoạch bảo vệ diện tích rừng  
phòng hộ và rừng đặc dụng. Đồng thời, công  
tác phối hợp giữa các lực lượng kiểm lâm,  
công an, quân đội và chính quyền địa phương  
được duy trì thường xuyên. Để bảo vệ tốt  
“vốn” rừng hiện có và thực hiện công tác phát  
triển rừng ngay tại cơ sở, lực lượng kiểm lâm  
bố trí cán bộ phụ trách địa bàn ở tất cả các xã,  
phường, thị trấn trong toàn tỉnh để kịp thời  
tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở thực  
hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý  
lâm sản và phòng cháy, chữa cháy tại chỗ.  
Công tác tuần tra, rà soát và xử lý các vụ khai  
thác, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra trên  
địa bàn được thực hiện kịp thời, từ đó chính  
quyền địa phương có thể chủ động xây dựng  
kế hoạch, biện pháp ngăn chặn và xử lý theo  
quy định. Tình trạng khai thác, buôn bán, vận  
chuyển, chế biến, tàng trữ lâm sản đã được  
kiểm soát, hạn chế tối đa tình trạng khiếu kiện,  
tạo điểm nóng về phá rừng.  
Do công tác quản lý, bảo vệ và phát triển  
rừng được triển khai tích cực, đã tạo nên  
những kết quả quan trọng trong phát triển  
ngành Lâm nghiệp của Lai Châu. Tỷ lệ che  
phủ rừng hàng năm đều vượt kế hoạch đề ra,  
chất lượng rừng ngày càng được nâng cao, ý  
thức của người dân trong công tác bảo vệ và  
phát triển rừng được nâng lên rõ rệt. Tình trạng  
cháy rừng, vi phạm quy định về bảo vệ rừng có  
xu hướng giảm xuống. Tính đến hết năm 2018,  
tỷ lệ che phủ rừng đạt 49,29%, diện tích rừng  
toàn tỉnh là 456.962 ha, tăng tương ứng  
14,29% và 138.496 ha so với năm 2004.  
3.3. Công tác trồng rừng và phát triển cây  
công nghiệp  
Bên cạnh công tác bảo vệ, phát triển rừng.  
Yếu tố góp phần thúc đẩy kinh tế Lâm nghiệp  
tại tỉnh Lai Châu phát triển chính là việc xác  
định trồng, sản xuất và thương mại hoá một số  
loại cây Lâm nghiệp phù hợp với điều kiện thổ  
nhưỡng có giá trị kinh tế cao như: Cây quế diện  
tích đạt 5.558 ha; cây Sơn tra diện tích đạt 1.923  
ha; cây mắc ca diện tích 1.812 ha là cây trồng  
mới có tiềm năng phát triển tại tỉnh (Tỉnh ủy Lai  
Châu, 2019). Công tác trồng rừng và phát triển  
cây Lâm nghiệp được thể hiện ở bảng 2.  
Bảng 2. Sản lượng gỗ và lâm sản ngoài gỗ phân theo loại lâm sản ở tỉnh Lai Châu (2011 - 2017)  
Đơn vị  
Chủng loại gỗ  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
tính  
Gỗ  
m3  
7.860  
9.571  
8.676  
8.450  
8.020  
7.905,0 8.010,0  
Chia ra  
Gỗ rừng tự nhiên  
Gỗ rừng trồng  
Trong tổng số:  
Gỗ nguyên liệu giấy  
Củi  
m3  
m3  
7.568  
292  
9.261  
310  
8.326  
350  
8.050  
400  
7.670  
350  
7.525,0 7.610,0  
380,0  
400,0  
m3  
-
-
-
-
-
-
-
Ste  
826.061 738.060 623.776 526.077 508.270 489.020,0 505.619,0  
1000  
cây  
1000  
cây  
1000  
cây  
Luồng, vầu  
Tre  
133  
125  
-
137  
175  
-
141  
180  
-
123  
87  
-
119  
90  
-
124,8  
102,8  
-
125,6  
105,1  
-
Trúc  
138  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
Đơn vị  
tính  
Chủng loại gỗ  
Giang  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
2016  
2017  
1000  
cây  
8
9
12  
25  
18  
19,8  
20,7  
1000  
cây  
Nứa hàng  
402  
412  
410  
156  
152  
167,2  
168,9  
Song mây  
Nhựa thông  
Quế  
Tấn  
Tấn  
23  
23  
23  
23  
17  
18,1  
19,6  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Tấn  
-
1.096  
-
-
1.224  
-
-
1.250  
-
-
1.648  
-
-
1.594  
-
Thảo quả  
Nhựa trám  
Lá cọ  
Tấn  
1.650,0 1.603,0  
Tấn  
-
-
-
-
-
-
1000 lá  
1000 lá  
Lá dừa nước  
-
-
-
-
-
-
-
-
-
-
Nguyên liệu giấy  
ngoài gỗ  
-
-
Tấn  
1000 lá  
1000 lá  
Tấn  
Lá dong  
Lá nón  
500  
1.043  
1.142  
-
1.058  
1.179,3 1.179,3 1.206,3  
-
1
-
1
-
-
-
-
-
-
-
-
Cánh kiến  
Măng tươi  
Mộc nhĩ  
0,6  
Tấn  
335  
-
206  
-
210  
0,38  
222  
19  
204  
16  
238,5  
15,6  
240,6  
16,3  
Tấn  
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Lai Châu năm 2017.  
Để nâng cao giá trị của rừng, tăng thu nhập,  
xóa nghèo và góp phần xây dựng nông thôn  
mới, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Nông  
nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm  
lâm tỉnh đã phối hợp các ngành, địa phương  
từng bước chuyển đổi cơ cấu sản phẩm gỗ  
rừng trồng từ khai thác gỗ non phục vụ chế  
biến dăm xuất khẩu sang kinh doanh gỗ lớn  
phục vụ chế biến tinh, sâu, đáp ứng bối cảnh  
hội nhập quốc tế. Đồng thời, cần đẩy mạnh tổ  
chức sản xuất dưới nhiều hình thức theo hướng  
mở rộng, hợp tác, liên doanh, liên kết giữa các  
hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp nhằm  
nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm hàng  
hóa sử dụng gỗ rừng trồng, góp phần tạo việc  
làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho  
người dân sống bằng nghề rừng. Hơn nữa, phát  
triển rừng gỗ lớn không chỉ mang lại mục tiêu  
lợi ích về kinh tế cao mà còn tăng tính phòng  
hộ của rừng, như: giảm xói mòn, chống sạt lở,  
rửa trôi đất… góp phần bảo vệ môi trường sinh  
thái và chống biến đổi khí hậu; đáp ứng yêu  
cầu phát triển lâm nghiệp trong tình hình mới.  
Bên cạnh đó, các địa phương, đơn vị trong tỉnh  
cũng luôn chú ý đẩy mạnh chuyển hóa rừng  
trồng cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu gỗ  
nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; áp dụng các biện  
pháp kỹ thuật thâm canh để nâng cao năng  
suất, chất lượng rừng trồng.  
Đặc biệt, việc trồng cây cao su đang được  
tỉnh tiếp tục quan tâm đầu tư, phát triển đã và  
đang trở thành hướng đi đột phá trong phát  
triển Nông - Lâm nghiệp của Lai Châu. Diện  
tích cao su đến năm 2018 đạt 13.015 ha, đã  
tiến hành khai thác mủ diện tích 3.446 ha, sản  
lượng ước đạt 2.757 tấn mủ khô (Tỉnh ủy Lai  
Châu, 2019). Dự tính đến năm 2020 có khoảng  
12.000 ha cao su được khai thác mủ, sản lượng  
khai thác đạt trên 12.000 tấn và năm 2022 có  
trên 20.000 ha cao su được khai thác mủ, sản  
lượng khai thác đạt 20.000 tấn. Phát triển cây  
cao su đã tạo việc làm, thu nhập ổn định cho  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
139  
Kinh tế & Chính sách  
trên 10.000 lao động trong tỉnh, trực tiếp trồng,  
chăm sóc và chế biến cao su và các hoạt động  
dịch vụ phục vụ phát triển cao su.Tỉnh đã thu  
hút được 3 Công ty Cổ phần Cao su thuộc Tập  
đoàn Cao su Việt Nam vào đầu tư với tổng  
diện tích cây cao su trên địa bàn tỉnh đạt trên  
13.000 ha. Nhờ phù hợp với điều kiện khí hậu,  
thổ nhưỡng nên cao su sinh trưởng và phát  
triển tốt. Cây cao su đang được đánh giá là cây  
công nghiệp mũi nhọn và có nhiều triển vọng  
để phát triển thành vùng sản xuất hàng hóa  
trong những năm tới của tỉnh. Việc đưa vào  
trồng cây cao su không chỉ tận dụng được  
những diện tích đất trống, đồi núi hoang hóa  
mà còn tạo công ăn việc làm, thay đổi tập quán  
canh tác, nhận thức, nâng cao trình độ dân trí  
cho Nhân dân các dân tộc trong vùng dự án.  
3.4. Đẩy mạnh chế biến và thương mại hoá  
nâng cao giá trị Lâm sản  
Đẩy mạnh chế biến và thương mại hoá sản  
phẩm gỗ và lâm sản chính là giải pháp then  
chốt nhất để nâng cao giá trị, hiệu quả sản xuất  
lâm nghiệp trong bối cảnh Việt Nam đã và  
đang ngày càng hội nhập sâu và rộng cùng thế  
giới. Việc tham gia các hiệp định thương  
mại thế hệ mới như Hiệp định Thương mại  
tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối  
tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình  
Dương (CPTPP) và ký kết Hiệp định đối tác  
tự nguyện về tăng cường thực thi lâm luật,  
quản trị rừng và thương mại lâm sản  
(VPA/FLEGT) đã mang lại nhiều cơ hội cho  
xuất khẩu gỗ của Việt Nam. Là một tỉnh có trữ  
lượng gỗ rừng sản xuất lớn khoảng 293.717 ha,  
Lai Châu đã có nhiều chính sách thu hút các  
nhà đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ và  
sản phẩm lâm sản trên địa bàn tỉnh cùng với đó  
là các chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển  
ngành lâm nghiệp và công nghiệp chế biến gỗ  
thông qua ưu đãi về đầu tư hạ tầng lâm sinh,  
vốn tín dụng... Những năm qua Lai Châu đang  
có nhiều chính sách mở để đón các doanh  
nghiệp, các nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh  
tại địa bàn. Với những chính sách thu hút, ưu  
đãi hợp lý, đến nay Lai Châu đã thu hút được  
nhiều doanh nghiệp, các nhà đầu tư vào tham  
gia trồng và phát triển rừng kinh tế, rừng  
nguyên liệu phục vụ cho phát triển ngành công  
nghiệp chế biến gỗ. Tính đến 2018, toàn tỉnh  
có khoảng trên 100 cơ sở sản xuất, chế biến gỗ  
(gồm có 6 doanh nghiệp, 2 hợp tác xã và 80 hộ  
cá thể). Các cơ sở sản xuất, chế biến, hàng năm  
sản xuất trên 8.500 m3 gỗ gồm các sản phẩm  
mộc dân dụng và gỗ cốp pha phục vụ thi công  
các công trình xây dựng. Đối với công nghiệp  
chế biến chè, trên địa bàn tỉnh có 8 doanh  
nghiệp, 3 hợp tác xã với tổng công suất chế  
biến 225 tấn/ngày và trên 100 hộ cá thể sản  
xuất chế biến chè, bao tiêu sản phẩm chè búp  
tươi cho vùng nguyên liệu hơn 3.500 ha tại địa  
bàn các huyện: Tam Đường, Than Uyên, Tân  
Uyên và thành phố Lai Châu. Sản lượng chè  
khô chế biến hàng năm đạt trên 4.100 tấn, đáp  
ứng được yêu cầu của nhiều thị trường khó  
tính. Các sản phẩm như chè Ôlong, chè  
Sencha, Matcha, Shan Tuyết đã xuất khẩu sang  
thị trường các nước: Nhật Bản, Đài Loan và  
một số nước Trung Đông (Tỉnh ủy Lai Châu,  
2019). Hàng năm trong chương trình và kế  
hoạch công tác, lãnh đạo tỉnh, các sở ban  
ngành cùng các doanh nghiệp luôn chủ động  
đẩy mạnh công tác phát triển thị trường, xây  
dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm gỗ và  
lâm sản ngoài gỗ của tỉnh; xây dựng hệ thống  
thông tin thị trường và tiêu chuẩn sản phẩm,  
thúc đẩy thương mại điện tử cho các sản phẩm  
gỗ và lâm sản ngoài gỗ; phối hợp, triển khai và  
thực hiện tốt các hiệp định mà Việt Nam đã ký  
kết, chú trọng hơn thị trường trong nước; tập  
trung ưu tiên nguồn lực cho các chương trình  
xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, đầu tư  
các trung tâm triển lãm quy mô lớn tương xứng  
với tiềm năng phát triển ngành chế biến gỗ.  
3.5. Một số vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục phát  
triển kinh tế lâm nghiệp của Lai Châu trong  
thời gian tới  
Thứ nhất, tiếp tục tổ chức quán triệt sâu sắc  
về vai trò, tác dụng của bảo vệ và phát triển  
rừng tới toàn thể cấp uỷ, chính quyền cơ sở,  
cán bộ, đảng viên, nhân dân các dân tộc trên  
toàn tỉnh, tạo sự đồng thuận và thống nhất cao.  
Nội dung bảo vệ và phát triển rừng phải được  
140  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
Kinh tế & Chính sách  
đưa vào Nghị quyết của các cấp uỷ đảng, chính  
quyền địa phương, kịp thời cụ thể hóa thành  
chương trình, kế hoạch đảm bảo thực hiện  
thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.  
Thứ năm, khuyến khích các nhà đầu tư nước  
ngoài đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp; chú  
trọng nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển  
vốn rừng tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước  
ngoài. Từ đó, tăng cường hợp tác với các tổ  
chức quốc tế như: WB, ADB, KFW, JICA,  
thông qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn, thu hút nguồn vốn ODA của các nước, tổ  
chức phi Chính phủ đầu tư cho bảo vệ và phát  
triển rừng của tỉnh. Hợp tác với các tỉnh của  
Trung Quốc, Lào có cửa khẩu và đường biên  
giới chung với tỉnh Lai Châu trong công tác  
bảo vệ và phát triển rừng.  
Thứ hai, quan tâm hơn nữa đến lợi ích kinh  
tế của người dân sống ở vùng có rừng. Lồng  
ghép các chương trình, dự án, tạo mọi điều  
kiện thuận lợi để người dân có công ăn việc  
làm và thu nhập ổn định để nâng cao cuộc  
sống. Lựa chọn phương thức khoán bảo vệ  
rừng cho phù hợp, quan tâm đến khoán cho  
nhóm hộ và cộng đồng thôn bản. Nguồn thu  
nhập từ khoán bảo vệ rừng đầu tư cho phát  
triển sản xuất mới bền vững và ổn định lâu dài.  
Tổ chức quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng hiện  
có, đẩy mạnh khoanh nuôi xúc tiến tái sinh  
phục hồi rừng và trồng rừng mới. Ngăn chặn  
triệt để việc đốt phá rừng, khai thác lâm sản  
trái phép, hướng dẫn nhân dân các thôn, bản  
tích cực thực hiện quy ước bảo vệ rừng, góp  
phần nâng cao đời sống nhân dân.  
Thứ ba, các cơ quan chức năng và chính  
quyền địa phương cần làm tốt hơn nữa công  
tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng  
các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý,  
bảo vệ rừng đến người dân. Thực hiện xã hội  
hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng, đảm  
bảo quyền hưởng lợi của chủ rừng. Phải xây  
dựng được quy chế phối hợp một cách chặt chẽ  
và cụ thể giữa chủ rừng, chính quyền địa  
phương, lực lượng vũ trang, xác định rõ vai  
trò trách nhiệm của từng đơn vị và tạo ra  
phong trào bảo vệ, phát triển rừng một cách  
có hiệu quả.  
4. KẾT LUẬN  
Phát triển Lâm nghiệp bền vững là sự lựa  
chọn đúng đắn hiện nay và hoàn toàn phù hợp  
với xu thế tất yếu của thời đại. Để thực hiện tốt  
và hiệu quả mục tiêu phát triển Lâm nghiệp  
bền vững, Lai Châu đã quyết tâm biến chủ  
trương thành hành động thông qua những nghị  
quyết, quyết định cụ thể. Những kết quả đạt  
được trong phát triển kinh tế Lâm nghiệp của  
Lai Châu thời gian qua đã khẳng định sự đúng  
đắn trong chủ trương, chính sách phát triển  
kinh tế Lâm nghiệp của Đảng và Nhà nước, sự  
vận dụng sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Lai Châu  
trong phát triển kinh tế Lâm nghiệp bền vững  
của địa phương. Giá trị và hiệu quả kinh tế –  
xã hội mà chính sách đó mang lại là hết sức rõ  
ràng. Diện tích che phủ rừng trên địa bàn tỉnh  
ngày càng được nâng lên, tình trạng phá rừng  
làm nương rẫy trái phép đã giảm hẳn; tạo công  
ăn việc làm cho khoảng 50.000 lao động; nâng  
cao mức sống cho người dân; từng bước tạo  
cho người làm nghề rừng có thể sống và gắn  
bó với rừng, thông qua đó giữ vững trật tự, an  
toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên  
địa bàn tỉnh, đặc biệt là khu vực biên giới.  
Điều đó cũng thể hiện sự đoàn kết, thống nhất,  
của ý đảng lòng dân, sự quyết tâm của Đảng bộ  
và nhân dân Lai Châu, khắc phục những khó  
khăn ban đầu để thoát nghèo và vươn lên làm  
giàu chính đáng.  
Thứ tư, tổ chức chỉ đạo phải đủ mạnh từ  
tỉnh xuống các Ban Quản lý rừng phòng hộ, có  
sự phối hợp chặt chẽ với cơ sở, củng cố và  
hoàn thiện tổ chức. Cần tăng cường hơn về đào  
tạo, bổ sung nguồn nhân lực có trình độ cao;  
tuyển chọn và thường xuyên bồi dưỡng đội  
ngũ cán bộ quản lý giúp nâng cao trình độ  
chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu  
công việc; có chính sách thu hút các cán bộ  
khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi để bổ  
sung cho các cơ quan trong ngành lâm nghiệp  
của tỉnh.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đảng bộ tỉnh Lai Châu (2007), Nghị quyết số 15-  
NQ/TƯ ngày 16/7/2007 về phát triển lâm nghiệp giai  
đoạn 2007-2015, Lai Châu.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
141  
Kinh tế & Chính sách  
2. Đảng bộ tỉnh Lai Châu (2016), Nghị quyết số 03-  
NQ/TU về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn  
mới giai đoạn 2016-2020, Lai Châu.  
3. Đảng bộ tỉnh Lai Châu (2017), Kết luận số 01-  
KL/TƯ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TƯ  
ngày 16/7/2007 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh (khóa  
XI), Lai Châu.  
4. Tỉnh ủy Lai Châu (2019), Kỷ yếu Hội thảo khoa  
học “Đảng bộ tỉnh Lai Châu 70 năm xây dựng, trưởng  
thành – Những vấn đề thực tiễn và lý luận”, Lai Châu.  
5. Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu (2012), Quyết định  
Phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lai  
Châu, giai đoạn 2011 – 2020, Lai Châu.  
TODAY SUSTAINABLE FORESTRY DEVELOPMENT IN LAI CHAU  
Nguyen Van Khuong1, Hoang Thi Nhung1  
1Vietnam National University of Forestry  
SUMMARY  
Sustainable forestry development is the best development option of the overall forestry sector restructuring  
program. In essence, it is the process of optimizing solutions for gathering and mobilizing the strength of the  
State, domestic and foreign organizations and individuals to participate in managing, protecting, developing  
and using forests, processing and trading forest products, creating jobs, increasing incomes, reducing poverty,  
improving livelihoods for people working in forestry, associating with building new rural areas and ensuring  
national security and defense. Implementing the project on restructuring agricultural sector in Lai Chau  
province to 2020 and vision to 2030, the agricultural, forestry and fishery economic structure in the province is  
moving in the right direction by reducing the proportion of agriculture and increasing the proportion of forestry  
and fisheries. The structure of the forestry sector, in general, is shifting from exploiting and using forests to  
planting, protecting and developing forests, harmoniously resolving environmental protection objectives and  
sustainable economic development goals. The structure of forestry's production value in a sustainable manner is  
calculated through four contents: protecting forest resources, planting and tending forests; producing and  
processing wood and other forest products; develop forestry services.  
Keywords: Developing industrial trees, forest classification and forest owner, improve the value of forest  
products, sustainable development.  
Ngày nhận bài  
: 09/9/2019  
: 10/10/2019  
: 18/10/2019  
Ngày phản biện  
Ngày quyết định đăng  
142  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÂM NGHIỆP SỐ 5 - 2019  
pdf 8 trang yennguyen 14620 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển lâm nghiệp bền vững ở Lai Châu hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_lam_nghiep_ben_vung_o_lai_chau_hien_nay.pdf