Nghi thức thờ Quan Thánh Đế Quân trong đạo tứ ân hiếu nghĩa

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
NGHI THỨC THỜ QUAN THÁNH ĐẾ QUÂN  
TRONG ĐẠO TỨ ÂN HIẾU NGHĨA  
y Trần Hoàng Phong(*), Nguyễn Quốc An(**)  
Tóm tắt  
Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một tôn giáo bản địa được thành lập ở Nam Bộ vào khoảng giữa thế kỷ XIX  
bởi ngài Ngô Lợi. Tôn chỉ của tôn giáo này là “tu nhân - học Phật”. Để học Phật, trong các gia đình  
tín đồ luôn có sự hiện diện của bàn thờ tam bửu. Để “tu nhân” tín đồ bổn đạo đã được dạy phải thờ  
hình ảnh Quan Thánh Đế Quân. Việc thờ Quan Đế là sự thể hiện cụ thể của triết lí hiếu nghĩa của tôn  
giáo này do có sự gắn kết tính cách của nhân vật được thờ và yêu cầu tu nhân theo con đường hiếu  
nghĩa của đạo. Bài viết trình bày nguyên nhân, ý nghĩa và nghi thức thờ Quan Thánh trong gia đình  
tín đồ thông qua đặc tả về bàn thờ, liễn, kiêng kị, lễ cúng và các danh hiệu niệm khi cúng.  
Từ khóa: Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Quan đế, tôn giáo bản địa, thờ Quan Đế.  
1. Đặt vấn đề  
phượng, hành lễ. [1, tr. 59-60]  
Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một tôn giáo bản địa  
được hình thành ở Nam Bộ và khoảng năm 1867.  
Người sáng lập là ông Ngô Tự Lợi mà tín đồ tôn  
kính gọi là Đức Bổn Sư.  
Trong sinh hoạt tôn giáo cũng như trong đời  
sống hàng ngày của tín đồ bổn đạo có nhiều nét  
đặc sắc mà người ngoài ít biết hoặc không hiểu  
được, trong đó phải kể tới việc thờ Quan Thánh  
Đế Quân tại nơi trang trọng ở chùa hoặc ở nhà.  
2. Nội dung  
Đức Bổn Sư tên thật là Ngô Tự Lợi hay còn  
gọi là Ông Năm Thiếp lúc nhỏ có tên là Ngô Viện,  
sinh ngày mồng 5 tháng 5 năm Tân Mão (1831)  
tại Kiến Hòa, Mỏ Cày, Bến Tre. Cha ông tên là  
Ngô Nhàn làm nghề thợ mộc, mất sớm. Mẹ ông  
tên là Phạm Thị Xuyên. Ông làm nghề nông và  
sống với mẹ đến lúc trưởng thành.  
2.1. Đôi nét về Quan Thánh Đế Quân  
Quan Thánh Đế Quân, với các tên gọi và danh  
xưng khác được mọi người biết đến như Quan  
Vũ, Quan Vân Trường, Quan Công, Quan Đế, Mỹ  
Nhiệm Công, Quan Lão Gia... và đặc biệt là Già  
Lam Chơn Tể Quan Thánh đế Quân (Đế thọ tam  
thiên môn chưởng ốc. Vạn thần khải tấu đế thiên  
văn) mà tín đồ đạo Tứ ân Hiếu Nghĩa thường xưng  
tụng hướng đến ngài.  
Năm 1851, lúc 20 tuổi, ông viết Bà La Ni kinh  
dài 223 chữ Hán. Đây là quyển kinh quan trọng,  
được viết đầu tiên của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa  
mang nội dung xưng tán Quán Thế Âm Bồ Tát  
và khuyên người đời tu tâm, dưỡng tính, từ bỏ tư  
danh, tư lợi, phải biết yêu thương đồng bào, nhân  
loại, có trách nhiệm với đất nước khi bị giặc ngoại  
xâm. Thời gian ấy lại có dịch bệnh hoành hành  
khắp nơi, ông chữa bệnh giúp người và khuyên  
tu niệm. Cho đến ngày mùng 5 tháng 5 năm Đinh  
Mão (1867), lúc 37 tuổi, tương truyền ông đã đi  
thiếp (bất tỉnh) nhiều ngày và sau khi hồi tỉnh lại  
trở thành người “giải thoát tẩy trần tâm, giáo nhơn  
tùng thiện đạo” (kinh Hiếu Nghĩa). Ông bắt đầu  
thu nhận tín đồ, dạy cho họ giáo lý, nghi thức thờ  
Ông là nhân vật có thật trong lịch sử, tên thật  
là Quan Vũ hiệu Vân Trường là một vị tướng cuối  
thời Đông Hán và thời Tam Quốc ở Trung Quốc.  
Ông là người có công rất lớn giúp Lưu Bị - huynh  
trưởng của mình thành lập nhà Thục Hán, ông  
được mọi người biết đến là vị đứng đầu ngũ hổ  
tướng với phẩm chất: trung cang, nghĩa khí, ngay  
chánh, liêm tiết, dũng mãnh, văn võ toàn tài, có  
tiết tháo của người quân tử…  
Ông được phong nhiều tước vị khác nhau  
như: Tráng Mậu Hầu (Hán hậu chủ năm 260), Sùng  
Ninh Chân Vương (Năm Sùng Ninh thứ 3 - 1104),  
Nghĩa Dũng Võ An Vương (năm Tuyên Hòa thứ  
5 - 1112), Hiệp Thiên Hộ Quốc Trung Nghĩa Đế  
(*) Trường Đại học Đồng Tháp.  
(**) Sinh viên, Trường Đại học Đồng Tháp.  
102  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
(năm Vạn Linh thứ 10 - 1528),… đời Thuận Trị  
Đức Bổn Sư dạy rằng, việc tu nhân ấy thể  
sắc phong danh hiệu dài 26 chữ: Trung Nghĩa Thần hiện nội dung cốt yếu qua Tứ trọng ân: ân tổ tiên  
cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và  
nhân loại. Tu nhân là hòa nhập vào cuộc sống thực  
tại rèn tâm sửa tính, bồi dưỡng đạo đức, làm lành  
lánh dữ, giúp đạo, giúp đời. Trong đó ân đất nước  
có ý nghĩa rất quan trọng trong thời kì tổ quốc bị  
ngoại xâm.  
Vũ Linh Hựu Nhân Dũng Uy Hiển Hộ Quốc Bảo  
Dân Tinh Thành Tuy Tĩnh Dực Tán Tuyên đức  
Quan Thánh Đại Đế… Nhà vua lại ban sắc lệnh  
cho cả nước đều xây miếu thờ, Xuân - Thu nhị kỳ  
phải chí thành cúng tế.  
2.2. Nguyên nhân và ý nghĩa của việc thờ  
cúng Quan Thánh Đế Quân  
Buổi đầu đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được hình  
thành trong những ngày đất nước bị đô hộ cho nên  
trong tôn chỉ đề cao ân đất nước. Trong gia đình  
là một người con giữ tròn đạo hiếu thì ở ngoài xã  
hội mới làm được người có ích cho đất nước, quê  
hương, là nơi chôn nhau cắt rốn của tổ tiên, ông bà,  
cha mẹ từ bao đời. Do đó muốn đền ơn đất nước,  
tổ tiên, ông bà, cha mẹ thì phải có bổn phận bảo  
vệ đất nước trước giặc ngoại xâm.  
Khi bước vào chùa hoặc đến nhà của tín đồ  
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ta luôn nhìn thấy chân  
dung đức Quan Thánh Đế Quân uy nghiêm được  
trang trọng kính thờ chính giữa nhà phía sau ngôi  
tam bửu.  
Hình ảnh ấy thể hiện nét đặc trưng riêng của  
tín đồ bổn đạo mà nhà nhà, người người đều theo  
lời di huấn của đức Bổn Sư - người sáng lập đạo  
- mà phụng hành từ những ngày đầu mở đạo cho  
đến bây giờ và mãi về sau này.  
Hơn nữa, tu nhân theo tinh thần Nho giáo  
để trở thành người quân tử yêu nước thương dân,  
trung cang nghĩa khí, tận trung báo quốc, tam  
cương ngũ thường mà hình tượng Quan Công là  
đại diện.  
Bất cứ một tôn giáo nào đều có những tín  
điều cơ bản làm trụ cột tạo nên hệ thống niềm tin.  
Từ niềm tin đó mà hình thành giáo lý giáo luật.  
Giáo lý, giáo luật thể hiện tôn chỉ hành đạo của  
tôn giáo đó.  
Người đời cho ông là người hội đủ mọi đức  
tính tốt đẹp như: trọng danh dự, trung thành với  
vua, thủy chung với huynh đệ, khoan dung rộng  
lượng, dũng mãnh phi thường với kẻ thù và còn  
công minh, chính trực. Ông trở thành biểu tượng  
của tinh thần trung cang nghĩa khí. Thành tích trừ  
gian diệt ác, góp phần xây dựng và bảo vệ quốc gia,  
xả thân quên mình báo đền vua tôi. Hình ảnh ông  
gieo niềm tin về sự hiển linh và “độ” cho người  
đời. Bởi vậy Quan Công hay Quan Thánh Đế đã  
trở thành hình ảnh đại diện cho tinh thần Tu nhân  
trong bổn đạo.  
Khi sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Đức  
Bổn Sư lấy Tu Nhân - Học Phật làm tôn chỉ cho  
sự hành đạo của tôn giáo mình mà dạy cho tín đồ.  
Sách xưa có câu:  
Dục tu tiên đạo, tiên tu nhân đạo  
Nhân đạo bất tu, tiên đạo viễn hỹ  
Nghĩa là: Muốn tu tiên đạo, trước phải tu  
nhân đạo; nhân đạo mà không tu, tiên đạo xa vời.  
Trong Sám Ngũ Giáo, Đức Bổn Sư cũng  
truyền dạy cho tín đồ rằng:  
Đối với đạo Tứ ân Hiếu Nghĩa, Quan Công  
là một hình tượng thờ đặc biệt. Trong bổn đạo cho  
rằng mượn hình tượng Quan Công để thờ tinh thần  
trung kiên, bất khuất, tam cương, ngũ thường để  
tín đồ noi gương.  
“Làm người thì phải tu nhân  
Nhân là thiên bổn căn dương vun trồng”  
Qua những câu ấy ta thấy sự quan trọng của  
việc tu nhân, suy xét nơi mình, làm người ngay  
thẳng không trái đạo trời. Ngày bé đi học, trong lớp  
học nào cũng có câu Tiên học lễ, Hậu học văn, đó  
là đạo lý đề cao cách đối nhân xử thế cho hợp lẽ.  
Trước hết phải trau dồi, sửa đổi, giữ trọn đạo làm  
người thì mới mong làm quân tử, thánh hiền được.  
Trong đào Viên Minh Thánh Kinh, Đức Bổn  
Sư diễn tả tinh thần trung cang bất khuất của Quan  
Công như sau:  
“Tinh trung xung nhựt nguyệt  
Nghĩa khí quán càn khôn  
103  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
Diện xích, tâm vưu xích  
Là tín đồ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa mà không  
có bàn thờ Ông, chân dung thờ Ông đặc trưng của  
đạo thì không phải tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa.  
Bàn thờ Ông phân biệt riêng với bàn nhỉ đẳng,  
ở trong và thấp hơn bàn Thập Phương Chư Phật.  
Chân dung thờ Ông do tín đồ trong bổn đạo  
phát họa thủ công theo truyền dạy của đức Bổn Sư,  
không mua bán hay trao đổi bằng mọi hình thức.  
Khi có người mới nhập đạo muốn bày trí bàn thờ  
thì gia chủ đó phải đến nhờ vị cư sĩ chuyên họa  
ảnh thờ mà nhờ đến nhà của mình họa ảnh.  
Phía trên bức chân dung Ông là tấm hoành  
gồm ba chữ lớn: “Hiệp Thiên Cung”, chỉ nơi Ông  
ngự trên tầng trời. Dưới tấm hoành Hiệp Thiên  
Cung ngay giữa là chữ Chánh hoặc chữ Khí tượng  
trưng cho Chánh Nghĩa hay Nghĩa Khí.  
Dưới đó là hình họa lưỡng long tranh châu  
được tô vẽ sắc xảo.  
Tu trường, nghĩa cánh trường” [2, tr. 23]  
Dịch Nghĩa:  
Lòng trung như là mặt trời, mặt trăng  
Nghĩa khí rộng lớn như vũ trụ  
Mặt đỏ, tâm càng đỏ  
Râu dài, nghĩa càng dài. [3, tr. 25]  
Một đoạn khác trong phần kệ viết đào Viên  
Minh Thánh Kinh:  
“Anh hùng khí cái thế  
Chúc tàn đao phá bích  
Phong khố, ấn huyền lương  
Tước lộc từ bất thọ” [2, tr. 24]  
Dịch nghĩa:  
Anh hùng hào khí quán thế  
Đuốc tàn phá vách đứng luôn đêm  
Niêm kho, trao ấn mà từ Tào Tháo  
Tước lộc chi chi cũng chẳng thèm. [3, tr. 25]  
Như vậy đủ cho thấy lời kinh truyền ca ngợi  
Quan Công, làm cho tín đồ bổn đạo thấy được “gan  
trung, mật nghĩa” nơi ông, như là một tấm gương  
cụ thể để tín đồ trong bổn đạo học và noi theo.  
2.3. Bàn thờ Quan Thánh Đế Quân trong  
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa  
Chân dung thờ Ông gồm có ba vị:  
Chính giữa Quan đế ngự trên tòa sen, mặt  
đỏ dũng mãnh, kiên nghị, râu dài năm chòm toát  
lên vẽ hùng dũng và tượng trung cho giữ trọn ngũ  
thường, triều phục màu xanh lam.  
Đứng hầu bên tả Ông là Quan võ Châu  
Xương, mặt đen nghĩa khí hùng hồn thể hiện qua  
sắc mặt. Là quan võ tay cầm Thanh long uyển  
nguyệt đao, mặt đao hướng ra ngoài.  
Đứng hầu bên hữu Ông là Quan văn Quan  
Bình, mặt trắng thể hiện cốt cách từ bi, vị tha. Là  
quan văn, cầm bao ấn, sách kinh trên có khi 3 chữ  
Dương Thiên Quân.  
Phía 4 góc chân dung thường là hình ảnh tứ  
linh gồm long, lân, quy, phụng hoặc cảnh sông  
núi, nước non. Cuối cùng phía ngoài chân dung  
hai bên là cặp liễn.  
2.4. Các danh hiệu niệm của Quan Thánh  
Đế Quân trong đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa  
- Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh  
đế Quân (thường dùng).  
- Nam mô Già Lam Chơn Tể Quan Thánh Đế  
Quân (thường dùng).  
Hình 1. Bàn thờ Quan Đế tại nhà tín đồ đạo  
Tứ Ân Hiếu Nghĩa  
- Nam mô Già Lam Chơn Tể Quan Thánh Đế  
Nguồn: Tác giả  
104  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
Chốn lao hình thì khỏi lao vào  
Quân, Quan Châu Xương, Quan Bình tam quan đại  
đế đồng chứng minh (nguyện cúng Tam ngươn).  
- Nam mô Đại quyền Chơn Tể Quan Thánh  
Đế Quân chứng minh (Sớ Vía Ông).  
- Phục ma đại đế Quan Thánh đế quân (Minh  
Thánh kinh - Quan Thánh đại đế phần bửu cáo).  
- Nam mô Kim Khuyết Tả Tướng Phục  
Ma Quan đế Thiên Tôn (Ngọc Hoàng Cốt Tủy  
Chơn kinh).  
Nam nữ nghe theo lời dạy  
Gặp nạn ông sẽ thị hiện tương trợ. [3, tr. 16]  
Trước khi tụng kinh ông thì tắm rửa sạch sẽ,  
mặc quần áo chỉnh tề. Bàn thờ phải nghiêm trang,  
tinh khiết. Không được để kinh sách dưới đất hoặc  
bước qua, giẫm đạp. Không để kinh nửa trên nửa  
dưới ở bàn kinh. Không cúng đồ mặn, không uống  
rượu. Không gian, tham, sàm, nịnh.  
2.7. Liễn thờ Quan Thánh Đế Quân trong  
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa  
- Cái Thiên Cổ Phật Chiêu Minh Dực Hớn  
Thiên Tôn (Minh Thánh kinh - Đình Hầu Quan  
Thánh Đại Đế sắc lệnh).  
Tại nhà riêng cảu tín đồ bổn đạo thường thờ  
liễn 2 câu theo thể thất ngôn  
2.5. Lễ cúng  
Trong các chùa Tứ Ân Hiếu Nghĩa, tín đồ bổn  
đạo cúng lễ vía Ông vào 2 ngày là 13 tháng Giêng  
Âm lịch (ngày hiển thánh) và 24 tháng 6 Âm lịch  
(ngày sanh) hằng năm.  
“Chí tại Xuân Thu công tại Hớn  
Trung đồng nhật nguyệt nghĩa đồng thiên”  
Dịch nghĩa:  
Lập chí ở kinh Xuân Thu, lập công cho  
nhà Hán  
Trong lễ vía quan trọng nhất là sớ Ông do  
Đức Bổn Sư truyền dạy, được các cư sĩ kế truyền  
y theo di huấn của Đức Bổn Sư để lại. Phẩm vật  
cúng: Hương, đăng, hoa, trà, quả, phẩm. Đặc biệt  
bàn thờ ông không có lư hương vì quan niệm Ông  
sẽ tái hạ phàm, còn trở xuống trần thế cứu nhơn  
giúp vật, mà dùng chỉ hương trầm, hương hoa  
dâng cúng.  
Lòng trung sáng tựa như mặt trời, mặt trăng.  
Nghĩa sánh như trời.  
“Tinh trung tứ tiết xưng quan thánh  
Chí khí đại từ phật già lam”  
Dịch nghĩa:  
Lòng trung của ông soi suốt bốn mùa  
Lòng từ bi của ông to lớn được phong danh  
hiệu phật già lam.  
Lễ cúng diễn ra vào giờ Ngọ (11 giờ đến 13  
giờ chiều) rất long trọng và trang nghiêm, các tín  
đồ có mặt đông đủ, quần áo chỉnh tề, thành tâm  
khấn vái, đọc tụng. Nghi thức cúng vía ông cũng  
giống như nghi thức cúng các vị phật khác.  
2.6. Kiêng kị  
“Nhất điểm tâm trung xung nhựt nguyệt  
Thiên thu nghĩa khí quán càn khôn”  
Dịch nghĩa:  
Lòng trung có một sánh tựa trời đất  
Ngàn năm nghĩa khí bao trùm vũ trụ.  
Còn ở chùa thờ liễn 4 câu với ý nghĩa sâu  
rộng hơn, cần uyên bác để tín đồ tự thân chiêm  
nghiệm mỗi khi đảnh lễ.  
Trong bổn đạo, tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa đa  
số đều ăn chay trường, chay kì, kiêng cữ không  
ăn thịt 12 con giáp: chuột, trâu, cọp, mèo, rồng,  
rắn, ngựa, dê, khỉ, gà, chó, heo. Đặc biệt trong  
Đào Viên Minh Thánh Kinh phần bửu cáo Quan  
Thánh đại đế của bổn đạo có câu:  
“Số định tam phân phò hớn thất tiểu ngô  
phạt ngụy  
“Bất thực Ngưu, Khuyển đẳng nhục  
Khả miểng lao ngục tù hình  
Tân khổ bị thường vị liễu bình sanh sự nghiệp  
Oai linh phi chấn chí hườn đương nhựt  
tinh trung  
Nam nữ tuân phụng đế ngữ  
Ngộ nạn đế ngự giáng lâm” [2, tr. 10]  
Dịch nghĩa:  
Chí tồn nhất thống tá hy triều phục ma  
đảng khấu”.  
Thịt trâu, chó không nên dùng tới  
105  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
3. Kết luận  
hình mẫu tu nhân mà bổn đạo hướng tới. Do đó,  
ông được thờ tại vị trí trang trọng tại chùa cũng  
như tất cả bàn thờ trong gia đình tín đồ Tứ Ân  
Hiếu Nghĩa. Ông là biểu tượng tinh thần, là tấm  
gương cho tín đồ học hỏi, noi theo tu tâm dưỡng  
tánh thực hành tứ ân. Nói về ông là nói về đức  
độ, phẩm hạnh của bậc quân tử chứ không hề  
phân biệt đất nước, màu da hay dân tộc. Tinh  
thần trung cang nghĩa khí ấy được giữ gìn và  
tôi luyện mãi trong lòng người đạo Tứ Ân Hiếu  
Nghĩa đến các thế hệ mai sau./.  
Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một tôn giáo nội sinh  
được hình thành trên đất Nam Bộ cách nay  
khoảng 150 năm. Giáo lí cốt lõi của đạo là tu  
nhân - học Phật, trong đó xem tu nhân là con  
đường trước tiên mà tín đồ phải trải qua vì con  
người trước tiên phải làm người tử tế sau mới  
có thể làm nên bậc thánh hiền. Quan Thánh Đế  
Quân, tức Quan Vũ - một nhân vật thời Tam  
Quốc của Trung Quốc là một nhân vật hội đủ  
các đức tính cần thiết cho một con người theo  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Đinh Văn Hạnh (1999), Đạo Tứ ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam Bộ 1867-1975, NXB Trẻ.  
[2]. Ngô Lợi, Minh Thánh kinh, tài liệu bản in lưu hành trong tín đồ bổn đạo.  
[3]. Minh Thánh kinh diễn nghĩa, tài liệu bản in lưu hành trong tín đồ bổn đạo  
THE RITUALS OF WORSHIPING GUAN SHENG DI JUN  
IN TU AN HIEU NGHIA RELIGION  
Summary  
Tu An Hieu Nghia is an indigenous religion founded by Mr. Ngo Loi in Southern Vietnam  
around the mid nineteenth century. The mandate of this religion is “Virtue cultivating - Buddhist  
learning”. For Buddhist learning, the followers always have Three Jewels altars in their houses. For  
virtue cultivating, they have been taught to worship Guan Sheng Di Jun image. Worshiping Guan Yu  
concretely reflects the Hieu-Nghia philosophy of this religion due to the link between the worshiped  
character’s qualities and the requirement for Hieu-Nghia cultivation. The paper presents the causes,  
meanings and rituals worshiping Guan Yu in the follower families via specifying altars, jars, taboos,  
rituals and anniversary trophies.  
Keyword: Tu An Hieu Nghĩa, Guan Sheng Di Jun, indigenous religions, Guan Yu worship.  
Ngày nhận bài: 18/9/2018; Ngày nhận lại: 26/11/2019; Ngày duyệt đăng: 20/2/2019.  
106  
pdf 5 trang yennguyen 21440 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghi thức thờ Quan Thánh Đế Quân trong đạo tứ ân hiếu nghĩa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghi_thuc_tho_quan_thanh_de_quan_trong_dao_tu_an_hieu_nghia.pdf