Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam thông qua phát triển du lịch

NGHIÊN CỨU  
VĂN HÓA DU LỊCH  
V
ĂN H Ó  
A
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM  
THÔNG QUA PHÁT TRIỂN DU LỊCH  
HÀ VĂN SIÊU  
Tóm tắt  
Việt Nam có quyền tự hào về kho tàng di sản văn hóa đồ sộ, đa dạng, độc đáo và đậm bản sắc dân  
tộc. Những di sản văn hóa ấy đã và đang được bảo tồn, tôn tạo, phục dựng, lưu truyền, quảng bá và  
làm thăng hoa giá trị, phục vụ chính nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân và du khách. Những  
cố gắng nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản, phải vượt qua không ít khó  
khăn thách thức nhưng đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Đóng góp vào quá trình đó phải kể  
đến vai trò quan trọng của hoạt động du lịch. Bài viết này bàn sâu về cách thức làm du lịch dựa vào di  
sản và vì di sản, qua đó khẳng định phát triển du lịch là con đường tốt nhất để bảo tồn và phát huy giá  
trị di sản văn hóa Việt Nam.  
Từ khóa: Bảo tồn, phát huy, di sản văn hóa, du lịch  
Abstract  
Vietnam has the right to be proud of the treasure of cultural heritage that is massive, rich, unique  
and national identified. These cultural heritages have been preserved, restored, passed by tradition,  
promoted and increased the values to serve the needs of cultural enjoyment of people and visitors.  
Efforts of Vietnam in preserving and promoting heritage values has to overcome many difficulties and  
challenges but have achieved many remarkable results. It is neccessary to mention the important role  
of tourism activities in this process. This article focuses on the methods of promoting tourism based  
on heritage and for heritage, thereby confirming tourism development is the best way to preserve and  
promote the value of Vietnamese cultural heritage.  
Keywords: Conservation, promotion, cultural heritage, tourism  
thị giác, xúc giác, đó là những di tích lịch sử  
văn hóa, những mặt hàng thủ công, các công  
cụ trong sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân  
tộc… Văn hóa phi vật thể như lễ hội, các loại  
hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp… Theo  
quan niệm của ngành du lịch, các thành tố văn  
hóa được xếp vào tài nguyên nhân văn (đối lập  
với tài nguyên tự nhiên như biển, sông hồ, núi  
rừng, hang động…) cụ thể là: Các di tích lịch  
sử - văn hóa, hàng lưu niệm mang tính đặc thù  
dân tộc; ẩm thực; lễ hội; các trò chơi giải trí;  
phong tục, tập quán, cách ứng xử, giao tiếp;  
tín ngưỡng, tôn giáo; văn học nghệ thuật…  
1. Tổng quan mối quan hệ tương tác giữa di  
sản văn hóa và du lịch  
i sản văn hóa là nguồn tài nguyên  
độc đáo của du lịch (nguồn nguyên  
D
liệu để hình thành lên hoạt động du  
lịch). Khi nói di sản văn hóa là nguồn nguyên  
liệu để hình thành lên hoạt động du lịch, tức  
là chúng ta nói đến vật hút/đối tượng hưởng  
thụ của du khách. Nguồn nguyên liệu di sản  
văn hóa có hai loại cơ bản: Văn hóa vật thể là  
những sáng tạo của con người tồn tại, hiện  
hữu trong không gian, có thể cảm nhận bằng  
66 Số 26 - Tháng 12 - 2018  
VĂN HÓA DU LỊCH  
Vì vậy mà di sản văn hóa là điều kiện và môi  
trường để cho du lịch phát sinh và phát triển.  
Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn  
hóa là một trong những điều kiện đặc trưng  
cho phát triển du lịch của một quốc gia, một  
vùng, một địa phương. Giá trị của những di  
sản văn hóa: di tích lịch sử, các công trình kiến  
trúc, các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ  
hội, ngành nghề truyền thống… cùng với các  
thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, các cơ sở  
văn hóa nghệ thuật, các bảo tàng… là những  
đối tượng cho du khách khám phá, thưởng  
thức, để du lịch khai thác và sử dụng. Sự khai  
thác và thu lợi nhuận từ tài nguyên, việc xây  
dựng các khu điểm du lịch đều phản ánh trí  
tuệ và sức sáng tạo của loài người. Chính  
những tài nguyên này không chỉ tạo ra môi  
trường và điều kiện cho du lịch phát sinh và  
phát triển mà còn quyết định quy mô, thể loại,  
chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch  
của một quốc gia, một vùng, một địa phương.  
góc độ kinh tế, nhờ có du lịch đã tạo ra một  
nguồn thu nhập cho phép các địa phương tích  
lũy và phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có  
văn hóa. Nhờ đó các tài sản văn hóa được bảo  
vệ, tu sửa, tôn tạo đồng thời với việc xây dựng  
mới các cơ sở văn hóa và làm phong phú thêm  
các giá trị văn hóa đương đại.  
Chính vì di sản văn hóa và du lịch có mối  
quan hệ tương tác lẫn nhau như vậy nên văn  
hóa và du lịch không thể tách rời nhau và càng  
không thể đối lập nhau.  
2. Phát triển du lịch đồng nghĩa với việc bảo  
tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa  
Du lịch phát huy giá trị di sản văn hóa:  
Trên thế giới, du lịch văn hóa đã từ lâu và sẽ  
mãi mãi là trường phái hay dòng sản phẩm  
du lịch cơ bản. Đặc biệt đối với các quốc gia,  
vùng lãnh thổ có chiều sâu văn hóa đo bằng  
hệ thống di sản đậm đặc như nước ta thì du  
lịch di sản trở thành một trong những thế  
mạnh nổi trội. Ngày nay, du lịch di sản hướng  
tới thu hút khách tìm đến những giá trị về  
nguồn, tìm hiểu, tương tác, trải nghiệm để  
thẩm thấu những giá trị di sản văn hóa đậm  
đà bản sắc của các dân tộc, các tộc người. Ở  
nước ta, chủ trương phát triển du lịch trên cơ  
sở bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn  
hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được  
thể hiện trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày  
16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du  
lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Du lịch  
văn hóa vì vậy là một dòng sản phẩm chủ đạo  
của du lịch Việt Nam từ tham quan di tích lịch  
sử văn hóa, hệ thống bảo tàng, các công trình  
văn hóa, hoạt động nghệ thuật, cho tới tìm  
hiểu, tương tác, trải nghiệm văn hóa, lễ hội, lối  
sống địa phương, thưởng thức ẩm thực, sản  
vật vùng miền…  
Ngược lại, đối với văn hóa, du lịch cũng  
thể hiện vai trò hết sức quan trọng trong mối  
quan hệ này. Du lịch trở thành phương tiện để  
truyền tải và trình diễn các giá trị văn hóa của  
một địa phương, một dân tộc để mọi khách du  
lịch trong nước và quốc tế khám phá, chiêm  
ngưỡng, học tập và thưởng thức. Nhờ có du lịch  
mà sự giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng, các  
quốc gia được tăng cường và mở rộng.  
Du lịch còn là phương tiện để đánh thức và  
làm trỗi dậy các giá trị văn hóa dân tộc đang  
bị chìm lắng hoặc mai một dần theo thời gian  
trước những biến cố của lịch sử, biến động  
của môi trường thiên nhiên. Đấy có thể là một  
công trình kiến trúc cổ, một tập quán sinh  
hoạt, một làn điệu dân ca, một món ăn dân  
tộc… thể hiện trình độ văn hóa, mỹ thuật, kỹ  
thuật của các thời đại đã qua. Nhờ có du lịch  
mà các tài sản văn hóa đó được khôi phục, khai  
thác và tôn tạo, phục vụ cho nhu cầu được  
thẩm nhận giá trị của những di sản đó. Xét ở  
Du lịch tạo nguồn lực tài chính, sự đam  
mê, trí tuệ để thúc đẩy việc bảo tồn và phát  
huy các giá trị di sản: Chính nhu cầu tham  
NGHIÊN CỨU  
Số 26 - Tháng 12 - 2018  
67  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
quan, tìm hiểu, trải nghiệm của du khách  
đã thôi thúc chính quyền và người dân biết  
quý trọng, tự hào, quan tâm chăm lo gìn giữ  
bảo tồn, phục dựng và làm sáng tỏ, phát huy  
những giá trị vốn quý của di sản văn hóa. Hoạt  
động du lịch dựa vào di sản ở nhiều nơi như  
Huế, Hội An, Hạ Long… đã và đang trở thành  
cơ sở, động lực sinh kế chính, ngành nghề  
chủ yếu của người dân cũng như ngành kinh  
tế chủ lực của địa phương. Du lịch di sản vừa  
tạo ra thu nhập, việc làm, vừa tạo động cơ, vừa  
tạo ra nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá  
trị di sản; đồng thời hỗ trợ tích cực nâng cao  
chất lượng cuộc sống, tăng cường hiểu biết,  
tôn trọng đa dạng và giao thoa các nền văn  
hóa, làm cơ sở hình thành quy tắc ứng xử phù  
hợp giữa người dân với khách du lịch và với di  
sản. Những lợi ích của du lịch di sản là không  
nhỏ và được chia sẻ đến doanh nghiệp, người  
dân và một phần doanh thu từ du lịch di sản  
được quay trở lại tái đầu tư vào việc bảo tồn,  
tôn tạo, tôn vinh, phục dựng và quản lý di sản.  
Với ý nghĩa đó, du lịch di sản đóng góp to lớn  
cho việc bảo tồn và phát huy bền vững di sản  
văn hóa.  
vinh danh là di sản thế giới, trong đó có 8 di  
sản thiên nhiên và di sản văn hóa vật thể (Vịnh  
Hạ Long, Khu trung tâm Hoàng thành Thăng  
Long - Hà Nội, Quần thể danh thắng Tràng An,  
Thành nhà Hồ, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ  
Bàng, Quần thể di tích Cố đô Huế, Khu Phố cổ  
Hội An, Khu Di tích Mỹ Sơn); 12 di sản văn hóa  
phi vật thể (Nhã nhạc, Âm nhạc cung đình Việt  
Nam (Triều Nguyễn), Không gian văn hóa cồng  
chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh,  
Hát Ca trù, Hội Gióng ở Đền Phù Đổng và Đền  
Sóc, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú  
Thọ, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, Nghi  
lễ và trò chơi kéo co, Thực hành tín ngưỡng  
Thờ Mẫu tam phủ của người Việt, Hát Xoan  
Phú Thọ, Nghệ thuật Bài Chòi miền trung Việt  
Nam; và 3 di sản Tư liệu thế giới (Mộc bản Triều  
Nguyễn, Bia Tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long,  
Châu bản triều Nguyễn) (1, tr.33-34). Cùng với  
đó là hàng vạn di tích lịch sử, văn hóa và danh  
lam thắng cảnh được công nhận di sản. Số  
liệu thống kê cho thấy hiện nay trên cả nước  
có 3.463 di tích lịch sử văn hóa và danh lam  
thắng cảnh được xếp hạng di tích cấp quốc  
gia, gần 10.000 di tích xếp hạng cấp tỉnh, hơn  
bốn vạn di tích và 61.669 di sản văn hóa phi vật  
thể trên cả nước được kiểm kê theo Luật Di sản  
văn hóa, trong đó có 249 di sản văn hóa phi  
vật thể được ghi vào danh sách di sản văn hóa  
phi vật thể quốc gia (1, tr.4) và hệ thống các lễ  
hội, làng nghề truyền thống; văn hóa ẩm thực  
các vùng miền, dân tộc; các di sản văn hóa văn  
nghệ dân gian…  
Di sản văn hóa tạo động lực cho du lịch: Di  
sản văn hóa là tài nguyên du lịch có sức hấp  
dẫn mạnh mẽ, là động lực thu hút ngày càng  
nhiều khách tham quan trong nước và khách  
du lịch quốc tế đến Việt Nam. Hiện nay, ngành  
du lịch xem đây là nền tảng, trụ cột quan trọng  
để phát triển kinh tế du lịch bên cạnh các yếu  
tố về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên  
ngành và nguồn nhân lực. Di sản văn hóa cũng  
là công cụ hỗ trợ tích cực trong việc định vị hình  
ảnh, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam.  
Trên cơ sở phát huy các giá trị di sản văn  
hóa đặc trưng riêng có của mỗi loại hình di  
sản, những năm gần đây, du lịch di sản đã  
phát triển mạnh mẽ, lượng khách tham quan  
trong nước và quốc tế không ngừng gia tăng,  
đặc biệt di sản sau khi được Nhà nước lập hồ  
sơ công nhận và được UNESCO vinh danh.  
Sức hấp dẫn của di sản đã tạo động lực cho  
phát triển du lịch, mang lại nhiều lợi ích về thu  
Chúng ta có quyền tự hào về bề dày lịch sử  
ngàn đời của đất nước với 54 dân tộc anh em  
đã để lại cho hôm nay một kho tàng di sản văn  
hóa đồ sộ, vô cùng phong phú, đa dạng và độc  
đáo. Đến nay đã có 27 di sản văn hóa vật thể,  
phi vật thể và di sản thiên nhiên được UNESCO  
68 Số 26 - Tháng 12 - 2018  
VĂN HÓA DU LỊCH  
nhập, việc làm và phát triển kinh tế - xã hội địa  
phương. Cụ thể: Quần thể di tích cố đô Huế,  
năm 2017 đón 3 triệu lượt khách du lịch, trong  
đó 1,8 triệu khách du lịch quốc tế, thu được  
320 tỷ đồng từ bán vé tham quan di sản; Phố  
cổ Hội An đón 1,96 triệu lượt khách, thu về 219  
tỷ đồng từ bán vé tham quan (1, tr.9). Các di  
sản nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Vườn Quốc gia  
Phong Nha - Kẻ Bàng, Khu Danh thắng Tràng  
An, Khu di tích danh thắng Yên Tử, khu Di tích  
Núi Bà Đen… những năm gần đây không  
ngừng được đầu tư phát triển. Qua đó du lịch  
di sản đã đóng góp to lớn vào sự phát triển  
vượt bậc của ngành du lịch. Giai đoạn từ 2010  
đến nay, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã  
tăng gấp hơn 3 lần, từ 5 triệu lượt năm 2010  
lên 15,6 triệu lượt năm 2018. Khách du lịch  
nội địa tăng gấp 2,85 lần, từ 28 triệu lượt năm  
2010 lên 80 triệu lượt năm 2018. Tổng thu du  
lịch tăng trên 6 lần, từ 96.000 tỷ 2010 lên hơn  
620.000 tỷ đồng 2018 (8); đóng góp trên 7%  
GDP và tác động lan tỏa trên 13,9% GDP; tạo  
ra trên 1,2 triệu việc làm trực tiếp và 3,6 triệu  
việc làm gián tiếp (5). Nhiều sản phẩm du lịch  
di sản đã trở thành thương hiệu đặc trưng cho  
du lịch Việt Nam. Đặc biệt, di sản văn hoá còn  
là yếu tố quan trọng tạo nên sự khác biệt cho  
hệ thống sản phẩm du lịch Việt Nam, kết nối  
và đa dạng hoá các tour, tuyến du lịch xuyên  
vùng và quốc tế.  
kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hoá sâu  
sắc,…”; đồng thời “bảo đảm phát triển du lịch  
theo hướng du lịch văn hoá, du lịch sinh thái,  
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, thuần  
phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam” (7), cũng  
như trong Luật Du lịch năm 2005, theo đó, một  
trong những nguyên tắc cơ bản để phát triển  
du lịch là “phát triển có trọng tâm, trọng điểm  
theo hướng du lịch văn hóa - lịch sử,… bảo tồn,  
tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch”  
(3). Luật Du lịch 2017 có nhiều điểm mới, theo  
đó, tại Khoản 2, Điều 4, một trong năm nguyên  
tắc phát triển du lịch là: “Phát triển du lịch gắn  
với bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa  
dân tộc, tài nguyên thiên nhiên, khai thác lợi  
thế của từng địa phương và tăng cường liên  
kết vùng” (4). Đồng thời, Nghị Quyết 08-NQ/  
TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát  
triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn,  
cũng đã xác định:“Phát triển du lịch bền vững;  
bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các  
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ  
môi trường và thiên nhiên….”(2).  
Dựa trên quan điểm về phát triển bền vững  
và kế thừa những tư tưởng và kết quả đạt được  
từ Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời  
kỳ 2001 - 2010, Chiến lược phát triển du lịch  
Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm  
2030 đưa ra một số quan điểm phát triển trong  
đó có quan điểm về“Phát triển du lịch phải gắn  
với bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống  
dân tộc, tôn trọng văn hoá trong mối quan hệ  
với cộng đồng điểm đến…”;“Phát triển du lịch  
gắn với giảm nghèo…”được nhấn mạnh (6).  
3. Quan điểm đường lối, chủ trương, chương  
trình, nghị quyết, định hướng phát triển du  
lịch gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị di  
sản văn hóa Việt Nam  
Nhận thức được vai trò của việc phát huy  
các giá trị di sản văn hoá, Nhà nước Việt Nam  
luôn xác định phát triển du lịch phải gắn liền  
với mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị  
văn hoá, góp phần phát triển bền vững. Chủ  
trương này đã được cụ thể hoá trong nội dung  
của Pháp lệnh Du lịch năm 1999, theo đó:“Nhà  
nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành  
Để thực hiện những quan điểm và nguyên  
tắc trên, Chiến lược về tổ chức lãnh thổ du  
lịch trong giai đoạn tới sẽ tập trung vào một  
số địa bàn trọng điểm, trong đó có những địa  
bàn ưu tiên nơi có tiềm năng du lịch, đặc biệt  
về văn hoá truyền thống song cuộc sống của  
cộng đồng còn nhiều khó khăn như địa bàn  
miền núi Tây Bắc với giá trị văn hoá các dân tộc  
NGHIÊN CỨU  
Số 26 - Tháng 12 - 2018  
69  
V
ĂN H Ó  
A
NGHIÊN CỨU  
V
ĂN H Ó  
A
Thái, Mường, Dao, v.v.; địa bàn Tây Nguyên với  
không gian cồng chiêng Tây Nguyên và văn  
hoá dân tộc Ba Na, Ê Đê, v.v.; địa bàn duyên hải  
Nam Trung Bộ với các di sản văn hoá thế giới  
và văn hoá dân tộc Chăm và Đồng bằng sông  
Cửu Long với giá trị văn hoá sông nước.  
hơn vào hoạt động du lịch, có thêm thu nhập  
để cải thiện được cuộc sống của mình.  
4. Giải pháp tạo sức sống cho di sản văn hóa  
thông qua con đường du lịch  
Thực tế minh chứng di sản văn hóa tạo  
sức hấp dẫn vô cùng tận cho điểm đến du  
lịch; di sản văn hóa là động cơ (duyên cớ) cho  
chuyến đi, là môi trường tương tác và trải  
nghiệm đáng giá cho du khách và trở thành tài  
nguyên, nguồn lực chiến lược cho phát triển  
du lịch. Cũng chính sức cuốn hút ấy của di sản  
văn hóa đã tạo nên những làn sóng đầu tư  
vào du lịch di sản, những dòng khách du lịch  
tấp nập đổ về; người người, nhà nhà làm du  
lịch... Điều đó mang lại không chỉ những kết  
quả tăng trưởng lan tỏa nhiều mặt về kinh tế  
- xã hội, mà còn bảo tồn chính di sản văn hóa.  
Nhưng cũng chính quá trình vận động du lịch  
ồ ạt thiếu kiểm soát ở nhiều nơi đang gieo rắc  
không ít những tác động tiêu cực tới di sản  
văn hóa, tạo ra những hệ lụy phải trả giá đắt.  
Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đòi hỏi các bên  
cùng hành động, có những biện pháp kiểm  
soát thích đáng để bảo tồn và phát huy bền  
vững đối với di sản văn hóa trong phát triển du  
lịch. Do đó, phát huy thế mạnh về tài nguyên  
di sản văn hóa, trong đó lấy du lịch di sản là  
hướng trọng tâm có tính chìa khóa hướng tới  
mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành  
kinh tế mũi nhọn, đòi hỏi các bên cùng hành  
động, có những giải pháp hữu hiệu về bảo tồn  
và phát huy bền vững đối với di sản văn hóa  
trong phát triển du lịch, cụ thể:  
Với định hướng ưu tiên phát triển du lịch  
văn hoá và du lịch cộng đồng trong Chiến lược  
phát triển du lịch Việt Nam và với sự hỗ trợ của  
Chính phủ phủ thông qua Chương trình Hành  
động quốc gia về du lịch và nâng cấp hạ tầng  
du lịch, hoạt động phát triển du lịch nói chung,  
du lịch văn hoá và du lịch cộng đồng nói riêng,  
sẽ tiếp tục có cơ hội phát triển. Kết quả hoạt  
động của những mô hình về phát triển du lịch  
văn hóa cộng đồng ở Sa Pa (Lào Cai), du lịch  
văn hoá ở Hội An (Quảng Nam), v.v. là những  
thí dụ minh chứng cụ thể cho nỗ lực bảo tồn  
di sản văn hoá truyền thống và xoá đói giảm  
nghèo thông qua hoạt động phát triển du lịch  
ở Việt Nam trong thời gian qua. Ở một số điểm  
du lịch văn hóa, hoạt động du lịch đã có những  
hỗ trợ tích cực về vật chất, đóng góp cho công  
tác bảo tồn. Ví dụ điển hình về vấn đề này là  
du lịch Hội An, theo đó ngoài nguồn kinh phí  
từ Nhà nước, nguồn thu từ bán vé tham quan  
phố cổ mỗi năm được trích 55% cho việc sửa  
chữa, trùng tu các di tích, nhà cổ. Có những  
ngôi nhà cổ được hỗ trợ tới 300 triệu đồng.  
Trong kế hoạch phát triển tới đây, du lịch  
Việt Nam sẽ đẩy mạnh hơn việc nghiên cứu  
khai thác các giá trị văn hoá làng quê để phát  
triển những sản phẩm du lịch văn hoá đậm bản  
sắc dân tộc, hấp dẫn và có sức cạnh tranh để  
thu hút nhiều hơn nữa khách du lịch, đặc biệt  
là khách du lịch quốc tế, góp phần thực hiện  
những mục tiêu chiến lược đặt ra. Song quan  
trọng hơn là thông qua phát triển du lịch làng  
quê, sẽ góp phần bảo vệ và phát huy được các  
giá trị văn hoá truyền thống và tạo cơ hội cho  
cộng đồng người dân ở nông thôn, hiện chiếm  
phần lớn dân số ở Việt Nam, tham gia tích cực  
Một là, quan tâm đến việc ban hành văn  
bản quy phạm pháp luật, hoạch định chính  
sách quản lý và quy hoạch bảo tồn và phát  
huy bền vững giá trị của di sản văn hóa trong  
phát triển du lịch; bảo tồn và phát huy giá trị  
di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, giá trị văn  
hóa truyền thống gắn với quy hoạch phát triển  
du lịch.  
70 Số 26 - Tháng 12 - 2018  
VĂN HÓA DU LỊCH  
Hai là, có chiến lược phát triển du lịch văn  
hóa phù hợp, trong đó lựa chọn sản phẩm du  
lịch dựa trên phát huy giá trị di sản văn hóa;  
phát triển du lịch có trách nhiệm gắn với văn  
hóa cộng đồng; tôn trọng đa dạng văn hóa,  
đề cao vai trò văn hóa bản địa; nâng cao nhận  
thức, bảo vệ lợi ích và phát huy vai trò của  
cộng đồng dân cư địa phương trong phát triển  
du lịch văn hóa.  
truyền thông. Đồng thời, du khách cũng cần  
nêu cao ý thức để “du lịch có trách nhiệm” như  
phản xạ có trong mỗi người nhằm phát huy  
các giá trị động lực, tạo sức lan tỏa của hoạt  
động du lịch, tăng cường đóng góp tích cực từ  
các hoạt động này cho sự nghiệp bảo tồn giá  
trị văn hóa thông qua con đường du lịch nhằm  
phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương  
nói riêng và của quốc gia nói chung.  
H.V.S  
Ba là, định hướng hoạt động du lịch và các  
hoạt động dân sinh khác trong lòng di sản một  
cách bền vững; quy định chi tiết về quy tắc  
ứng xử với di sản; những gì được làm, không  
được làm, những gì nên, không nên làm; kiểm  
soát nghiêm ngặt tác động về sức chứa, loại  
hình hoạt động và cân bằng nhịp sống của hệ  
sinh thái tại di sản; khuyến khích cộng đồng  
địa phương chủ động cùng tham gia quản lý  
di sản, gắn lợi ích của cộng đồng địa phương  
với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản.  
(TS., Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch)  
Tài liệu tham khảo  
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), Báo  
cáo về công tác bảo vệ và phát huy gía trị di sản  
văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững, trong  
Kỷ yếu Hội nghị Bảo vệ và phát huy giá trị di sản  
văn hóa Việt Nam vì sự phát triển bền vững, Hà  
Nội, tháng 7 năm 2018.  
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2017), Nghị quyết  
của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành  
ngành kinh tế mũi nhọn (Nghị quyết số 08-NQ/  
TW ngày 16/01/2017).  
Bốn là, xây dựng hệ thống dữ liệu số hóa về  
di sản văn hóa Việt Nam, ứng dụng công nghệ  
4.0 trong quản lý khai thác di sản văn hóa và  
phát triển du lịch di sản; tăng cường đào tạo kỹ  
năng thuyết minh và ứng dụng thuyết minh tự  
động để làm thăng hoa giá trị cho di sản trong  
hoạt động hướng dẫn du lịch và phát triển sản  
phẩm du lịch thông minh.  
3. Quốc hội Nước CHXHCNVN (2005), Luật Du  
lịch (Luật số 44/2005/QH11 ngày14/6/2005).  
4. Quốc hội Nước CHXHCNVN (2017), Luật Du  
lịch (Luật số 09/2017/QH14 ngày 19/6/2017).  
5. Hà Văn Siêu (2018), Yêu cầu đặt ra trong xây  
dựng Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai  
php/items/26876  
Năm là, xử lý nghiêm, triệt để những vi  
phạm đối với di sản, gắn liền với quá trình  
tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức  
cho doanh nghiệp, người dân và du khách;  
khuyến khích, tôn vinh các hoạt động du lịch  
tình nguyện, tự nguyện đóng góp nguồn lực,  
trí tuệ cho việc bảo tồn và phát huy giá trị di  
sản văn hóa.  
6. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định  
phê duyệt “Chiến phát triển lược phát triển du lịch  
Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”  
(Quyết định số 2473/QĐ-TTg, ngày 30/12/2011).  
7. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1999), Pháp  
lệnh Du lịch (Pháp lệnh số 11/1999/PL-UBTTQH10  
ngày 08/02/1999).  
Du lịch có trách nhiệm sẽ là con đường đạt  
tới phát triển du lịch bền vững. Để thực hiện  
được mục tiêu này, bên cạnh chính sách hỗ trợ  
cho nguồn lực bảo vệ văn hóa, môi trường, cần  
có sự hợp tác của các doanh nghiệp du lịch,  
Ngày nhận bài: 6 - 10 - 2018  
Ngày phản biện, đánh giá: 15 - 11 - 2018  
Ngày chấp nhận đăng: 23 - 12 - 2018  
NGHIÊN CỨU  
Số 26 - Tháng 12 - 2018  
71  
V
ĂN H Ó  
A
pdf 6 trang yennguyen 21380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam thông qua phát triển du lịch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_ton_va_phat_huy_gia_tri_di_san_van_hoa_viet_nam_thong_qu.pdf