Biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc

Lê Thị Hải / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 01(44) (2021) 97-103  
97  
01(44) (2021) 97-103  
Biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc  
The symbol of water in the cultural life of the Thai ethnic group in the northwest of  
Vietnam  
Lê Thị Hảia,b*  
Le Thi Haia,b*  
aViện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Cao, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, Việt Nam  
aInstitute of Research and Development, Duy Tan University, Da Nang, 550000, Vietnam  
bKhoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng, Việt Nam  
bFaculty of Social Sciences and Humanities, Duy Tan University, Danang, 550000, Vietnam  
(Ngày nhận bài: 20/01/2021, ngày phản biện xong: 25/01/2021, ngày chấp nhận đăng: 10/02/2021)  
Tóm tắt  
Bài viết bước đầu diễn giải biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc từ giác độ văn hóa học.  
Theo đó, nước trong đời sống văn hóa người Thái được nhận diện từ các khía cạnh văn hóa, hàm chứa triết lí nhân sinh.  
Qua khảo cứu biểu tượng nước, chúng ta thấy được những giá trị văn hóa của người Thái trong bức tranh văn hóa đa sắc  
tộc người của văn hóa Việt Nam - một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng; thấy rõ một di sản quý giá trong nền văn hóa  
nước nhà; thấy được tâm thức văn hóa của cộng đồng dân tộc Thái trong lòng Việt Nam; cũng như nét riêng biệt trong tâm  
thức văn hóa của dân tộc Thái ở Tây Bắc: đời sống, tâm tư, khát vọng và triết lí về cuộc đời của người Thái ở Tây Bắc trên  
suốt chặng đường lịch sử. Bằng phương pháp nghiên cứu văn hóa học, liên ngành và điền dã, khảo sát,... người viết đã thu  
được một số kết quả: từ mạch ngầm của văn hóa Việt Nam, nước trong đời sống dân tộc Thái được cảm nhận như một  
khách thể thẩm mĩ, một biểu tượng sống động, lắng đọng bao triết lí nhân sinh về tình đời, tình người.  
Từ khóa: Biểu tượng; văn hóa; nước; người Thái; Tây Bắc.  
Abstract  
The article initially interprets the symbol of water in the culture of Thai ethnic people living in the Northwest of  
Vietnam from the profundity of cultural perspective. Accordingly, water in Thai cultural life is identified from cultural  
aspects, containing the philosophy of human life. Through research on water symbols, we can see the cultural values of  
Thai people in Vietnamese multi-ethnic community - a unified culture in diversity; a valuable legacy in the culture of  
the country; the cultural consciousness of the Thai ethnic community in the heart of Vietnam; as well as the distinct  
characteristics of the cultural perception of the Thai people in the Northwest: life, thoughts, aspirations, and philosophy  
of Thai life in the Northwest throughout the history. By the method of cultural studies, interdisciplines and fieldwork,  
surveys, etc, the writer has obtained a number of results such as: from the underground circuit of Vietnamese culture,  
the water symbols in Thai ethnic life as an aesthetic object and a living symbol, depositing many human philosophies  
about life and human love.  
Keywords: Symbols; cultural; water; Thai ethnic group; Northwest Vietnam.  
*
Corresponding Author: Le Thi Hai; Institute of Research and Development, Duy Tan University, Da Nang, 550000,  
Vietnam; bFaculty of Social Sciences and Humanities, Duy Tan University, Danang, 550000, Vietnam  
98  
Lê Thị Hải / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 01(44) (2021) 97-103  
1. Khái niệm biểu tượng  
thấy được, nhưng nếu đã là biểu tượng chắc  
chắn nó đại diện cho các khía cạnh bản chất  
nào đó của văn hóa một cộng đồng. L.White -  
nhà nhân học văn hóa Mĩ nhận định: “Văn hóa  
là cơ chế của các hiện tượng, vật thể, hành  
động, tư tưởng, cảm xúc. Cơ chế này được tạo  
ra nhờ việc sử dụng các biểu tượng, hoặc phụ  
thuộc vào các biểu tượng đó” [7, Tr.65].  
Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, tác giả  
của cuốn sách Từ điển Biểu tượng văn hóa thế  
giới đã phát biểu: “Nói chúng ta sống trong một  
thế giới biểu tượng thì vẫn còn chưa đủ, phải  
nói một thế giới biểu tượng sống trong chúng  
ta” [1, Tr.XIV]. Vậy, biểu tượng là gì?  
Thuật ngữ biểu tượng (Symbol) bắt nguồn từ  
tiếng Hi Lạp “Symbolon” nghĩa là dấu hiệu để  
nhận ra nhau. Từ một chỉnh thể - một vật được  
chia tách ra làm hai nửa, mỗi bên giữ một nửa.  
Khi chúng ta đem hai nửa đó khớp lại với nhau  
mà vừa khít thì khi đó chúng ta nhận ra mối  
quan hệ của vật. Có thể coi, nó là dấu hiệu nhận  
biết và phân biệt các nền văn hóa khác nhau  
trên thế giới nói chung, tộc người nói riêng.  
Tùy thuộc vào văn hóa riêng của mỗi quốc gia,  
mỗi tộc người, mỗi vùng miền mà cùng một vật  
nhưng lại mang nét nghĩa khác nhau. Do vậy,  
muốn giải mã được một biểu tượng đòi hỏi  
người giải mã phải có kiến thức nền vững chắc;  
phải tìm ra và lí giải được phần chìm (cái được  
biểu trưng) chứa trong phần nổi (cái biểu trưng)  
từ mạch ngầm văn hóa. Chẳng hạn, cùng một  
biểu tượng mèo: người Nhật Bản xem đó là  
biểu tượng của sự may mắn. Họ thường trưng  
Maneki Neko (mèo thần tài) trong cửa tiệm để  
mong muốn được mua may bán đắt. Còn theo  
quan niệm của người Việt Nam, con mèo lại  
mang ý nghĩa là tai ương và xui xẻo. Người  
Việt có câu: “Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà  
thì sang”. Tương tự, con quạ trong tiềm thức  
người Việt: tiếng quạ kêu báo điềm dữ. Nhưng  
với Triều Tiên và Nhật Bản thì quạ lại biểu  
trưng cho điều tốt đẹp.  
Nếu như các nhà Phân tâm học hiểu biểu  
tượng là: “Nó không chỉ là những mảnh nhỏ  
của vô thức cá nhân mà là một nguồn mạch chi  
phối toàn bộ đời sống tinh thần của cộng đồng,  
của nhân loại: vô thức tập thể” [2, Tr.16], thì từ  
góc nhìn của các nhà nghiên cứu Văn hóa học:  
biểu tượng là một đối tượng nghiên cứu cơ bản;  
là biến thể của chủ thể mẫu gốc ở cấp độ văn  
hóa. C. Lesvy - Strauss đã chỉ ra: “Mọi nền văn  
hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ  
thống biểu tượng trong đó xếp ở hàng đầu là  
ngữ ngôn, các qui tắc hôn nhân, các quan hệ  
kinh tế, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo”  
[1, Tr.XXIII]. Toàn thư quốc tế về phát triển  
văn hóa của UNESCO viết: “Văn hóa là tập  
hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thế  
ứng xử của con người và làm cho một số đông  
người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ  
thành một cộng đồng riêng biệt”. “Biểu tượng -  
một loại kí hiệu đặc biệt, thể hiện nội dung thực  
tế của một điều nào đó. Biểu tượng văn hóa  
khác kí hiệu thông thường ở chỗ chứa đựng  
mối liên hệ tâm lí với tồn tại mà nó biểu trưng”  
[3, Tr.50].  
Như vậy, Biểu tượng chính là “ngôn ngữ  
tượng trưng” chỉ có ở loài người và là “tế  
bào” của văn hóa. Cho nên tìm hiểu biểu tượng  
cũng là tìm hiểu về văn hóa, biểu tượng luôn  
thể hiện tính quan niệm và mọi vật đều có thể  
mang giá trị biểu tượng. Và giá trị văn hóa của  
một dân tộc, cộng đồng người luôn được kết  
tinh trong biểu tượng. Giải mã biểu tượng chính  
là con đường tiếp cận những giá trị văn hóa của  
mỗi dân tộc, cộng đồng người đó.  
Biểu tượng được hình thành trong một quá  
trình lâu dài, có tính ước lệ và bền vững. Nó là  
vật môi giới giúp ta tri giác cái bất khả tri giác.  
Có thể nói, biểu tượng chính là một loại  
hình ngôn ngữ - kí hiệu (sign). Biểu tượng có  
xu hướng liên thông với tín hiệu. Nó chính là  
cái kí hiệu dẫn ta đến với cái khó có thể nhìn  
Lê Thị Hải / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 01(44) (2021) 97-103  
99  
2. Đôi nét về người Thái ở Tây Bắc  
Cộng đồng người Thái sống thành từng bản,  
mường; ở những thung lũng, gần sông suối. Họ  
sống hài hòa với thiên nhiên, nương tựa thiên  
nhiên để canh tác, sinh hoạt. Nước đã trở thành  
một biểu tượng sống động trong tín ngưỡng của  
người Thái.  
Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh  
sống trên dải đất hình chữ S, tạo lên một bức  
tranh văn hóa đa màu sắc, giàu âm thanh. Mỗi  
dân tộc có một cách thức tổ chức môi trường  
sống khác nhau, nét văn hóa riêng biệt.  
Nét văn hóa độc đáo của người Thái được  
thể hiện qua trang phục, lễ hội, các làn điệu dân  
ca, sử thi, truyện cổ, ẩm thực,... góp phần làm  
nên sự đa dạng về bản sắc văn hóa của cộng  
đồng dân tộc Việt Nam. Từ bao đời nay không  
gian văn hóa ở đồng bào Thái Tây Bắc thường  
gắn với câu nói: Ăn cơm nếp, uống rượu cần,  
mặc xửa cóm, ở nhà sàn, múa xòe hoa. Đây là  
những nét văn hóa đặc trưng của người Thái.  
Người dân Tây Bắc nói chung, người Thái Tây  
Bắc nói riêng cần cù, hiền hậu, hiếu khách, anh  
dũng, kiên cường,.. Đồng bào dân tộc Thái một  
lòng đi theo Đảng, giữ vững và phát huy các  
giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc mình góp  
phần vào công cuộc xây dựng và phát triển Tây  
Bắc ngày càng giàu đẹp.  
Theo thống kê tổng điều tra dân số và nhà ở  
trên toàn quốc năm 2009, người Thái ở nước ta  
có 1.550.423 người, có dân số đứng thứ ba tại  
Việt Nam, và có mặt ở hầu hết trên các tỉnh,  
thành phố nước ta. Người Thái phân thành hai  
ngành: Thái Đen (Tay (Thay) Đăm), Thái  
Trắng (Tay Đón). Họ có ngôn ngữ và văn tự  
riêng, và vẫn được lưu truyền và gìn giữ đến  
tận ngày nay.  
Tây Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt của đất  
nước ta, là vùng phên giậu của Tổ quốc, là địa  
bàn sinh sống của hơn 30 dân tộc anh em.  
Trong đó, dân tộc Thái có số lượng nhân khẩu  
chỉ sau người Kinh. Dân tộc Thái ở Việt Nam  
khởi nguồn sinh sống ở khu vực Mường Lò  
thuộc tỉnh Yên Bái. Từ đó phát triển ra các tỉnh  
Tây Bắc như Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào  
Cai, Hòa Bình rồi vào tới miền Trung như  
Thanh Hóa, Nghệ An,... Nhưng dân cư tập  
trung đông nhất là ở Tây Bắc. “Xứ sở hoa ban”,  
“xứ sở hoa đào” là những mĩ danh được dân  
gian dành tặng cho Tây Bắc. Mảnh đất này đã  
được tạo hóa ưu ái, ban cho cảnh quan thiên  
nhiên vô cùng tuyệt mĩ. Cứ mỗi độ xuân về,  
Tây Bắc như được trải một thảm hoa trắng  
điểm nhụy hồng trải dài trên khắp triền núi,  
triền sông:  
Trong suốt quá trình lịch sử hình thành và  
phát triển, dân tộc Thái cùng với các dân tộc  
vùng Tây Bắc, Việt Nam đã chung sức, đồng  
lòng xây dựng quê hương. Có thể nói, Tây Bắc  
chính là nơi sản sinh, lưu truyền một nền văn  
hóa dân gian Thái vô cùng đặc sắc. Những điệu  
xòe cuồng say, câu khắp ngân nga, tiếng đàn  
tính réo rắt làm say đắm lòng người,... Tất cả đã  
làm lên hương sắc của núi rừng Tây Bắc.  
3. Nước biểu trưng cho sự sống  
Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới,  
nước được xem như là một khối vật chất chưa  
phân hóa, là hình tượng của số lượng vô cùng  
lớn của những khả năng diễn biến, chứa đựng  
toàn bộ cái tiềm tàng, cái phi hình, cái mầm  
mống của mọi mầm mống, tất cả mọi hứa hẹn  
của sự phát triển, nhưng cũng chứa đựng mọi  
mối đe dọa bị tiêu tan. Xuất phát từ việc quan  
sát trực tiếp sự vật, Ta Lét (624 - 547 trước  
công nguyên) đã chỉ ra rằng: nước giữ vai trò  
“Hoa ban nở thành người con gái Thái,  
Đám mây bay trong thau nước gội đầu,...  
Nơi vách đá còn ghi bia Lê Lợi  
Lịch sử ngược sông Đà, nước réo tiếng  
gươm xưa  
Em đứng đó mỉm cười khi anh hỏi  
Như hoa ban chỉ nở lúc sang mùa”.  
(Gửi Lai Châu - Trần Mạnh Hảo)  
100  
Lê Thị Hải / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 01(44) (2021) 97-103  
vô cùng quan trọng trong tự nhiên cũng như  
trong đời sống con người. Ông nhận thấy thức  
ăn của mọi sinh vật đều ẩm ướt, hạt giống của  
tất cả mọi vật đều có bản chất ẩm ướt mà nguồn  
gốc của các vật thể luôn ẩm ướt chính là nước,  
không có nước thì không có gì cả. Vì thế ông  
viết: “Nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên  
của mọi vật, tất cả bắt đầu từ nước, rồi lại trở về  
yếu tố cuối cùng là nước”. Như vậy, theo Ta  
Lét: Vật chất (nước) vận động vĩnh viễn. Ngay  
từ thời cổ đại các nhà hiền triết đã phát hiện ra  
được tính năng của nước đối với vạn vật.  
tôm, cua, ốc, rêu,... Truyện Gốc tích bốn mùa  
trong năm có kể: Sau khi bà mụ “mé bảu, mé  
nạng” nặn ra giống người và thả xuống trần  
gian, do không có gì để ăn và uống nên con  
người đói khát. Họ kêu khóc thảm thiết thấu tận  
mường Trời. Vua Then và các vị thần bàn bạc  
rồi quyết định thả các loại cây lương thực, củ,  
cây gỗ, rau rừng, loài vật, nước xuống trần gian  
để cho con người sống được. Song, họ phân vân  
không biết nên chọn loài vật nào là quan trọng  
nhất giúp nuôi sống con người. Nhiều loài vật  
ứng cử, cuối cùng Then chọn cá. Vì chỉ họ hàng  
nhà cá mới có thể giúp nuôi con người sống một  
cách khỏe mạnh. Họ hàng nhà cá có “muôn vàn  
con cá mẹ; mỗi con cá mẹ lại có chín bọc trứng;  
mỗi bọc trứng có chín vạn con; một vạn con sau  
này lại có thể sinh ra chín mươi vạn con cá mẹ  
khác” [4, Tr.343].  
Không chỉ dừng lại ở đây, nước còn đi vào  
trong tâm thức văn hóa của các dân tộc, tộc  
người trên thế giới. Với tư duy của người  
Dogon và người Bambara, nước là sức sống  
mang mầm sống “là tinh dịch của trời, cũng là  
ánh sáng, lời nói, là ngôn từ sinh sản mà hóa  
thân huyền thoại chính, là hình xoắn ốc bằng  
đồng đỏ” [1, Tr.50]. Theo truyền thuyết, tộc  
người Thái ở nước ta ban đầu sinh sống ở rừng,  
ngủ hang; sống theo bầy; hái quả, bắt muông  
thú, mò cua bắt cá, ốc, ếch ở các ven suối để ăn.  
Từ xa xưa, người Thái đã tôn thờ thần nước.  
Hằng năm, họ làm lễ tế thần nguồn nước.  
Người ta tin rằng thần nước luôn che chở, phù  
hộ cho họ có mùa màng tốt tươi, có lúa gạo  
nuôi sống con người, có nước để phục vụ sinh  
hoạt hằng ngày. Truyện Quả bầu đá kể rằng:  
Then (trời) cho giống người từ trong mẹ bầu đá  
sinh ra, có một mỏ nước tắm thai nhi là “Bó nặm  
hôộc” chảy thành suối “Huổi hôộc” dẫn xuống  
một cái ao “Nong Huổi Hai”. Để tưởng nhớ  
công lao to lớn của mẹ, người Thái đã dùng quả  
bầu nậm đựng nước đặt ở gian thờ tổ tiên trong  
nhà. Tương truyền, sau khi sinh ra loài người,  
quả bầu mẹ đã hóa đá. Tại nơi có quả bầu đá đó,  
người Thái đã đến đây sinh cơ lập nghiệp, dựng  
bản mang tên Quả Bầu (bản Tảu Pung) nay  
thuộc xã Nà Tấu, huyện Điện Biên. Ý thức được  
tầm quan trọng của nước, người xưa thường răn  
dạy con cháu bản, mường:  
Sống bằng nghề nông nên người Thái thường  
dựng bản ở thung lũng bằng, thấp, gần các con  
suối, nơi có nước nguồn sạch dùng để ăn uống  
và lấy nước để gieo trồng, cấy lúa. Nước nguồn  
mà người Thái gọi là “nặm bó” chảy đều quanh  
năm suốt tháng, không bao giờ bị vẩn đục, nước  
mát và ngọt. Nó xuất phát từ các kẽ núi đá, hoặc  
từ lòng đất chảy ra. Nước rất tinh khiết nên  
người Thái thường lấy nước nguồn về uống trực  
tiếp chứ không cần đun sôi. Một trong những lí  
do nước nguồn chảy mãi không dừng là do nước  
đã được người Thái thiêng hóa. Họ tin rằng:  
những khu rừng đầu nguồn là vườn cây của thần  
nước - rừng thiêng nên không ai dám chặt phá.  
Các dòng nước nguồn dùng không hết thì chảy  
ra ruộng đồng và chảy ra suối. Nước suối không  
chỉ phục vụ nhu cầu tắm rửa, giặt giũ hay tưới  
tiêu cho đồng ruộng để có thóc đầy bồ, mà nó  
còn cung cấp nhiều thực phẩm tươi ngon như cá,  
“Làm nương bát ngát không bằng ruộng  
một thửa  
Làm nương, năm được tậu trâu, năm phải  
bán con”  
[6, Tr.20]  
Lê Thị Hải / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 01(44) (2021) 97-103  
101  
Câu tục ngữ đã truyền tải kinh nghiệm cho  
con cháu người Thái: không nên làm nương rẫy  
trên rừng, vì không chắc được thu hoạch, có khi  
còn bị mất trắng do phải phụ thuộc vào nguồn  
nước thiên nhiên - nước mưa. Còn làm ruộng  
thì có nhiều thuận lợi, có thể chủ động được  
việc tưới tiêu do ruộng gần sông, suối nên tiện  
lấy nước vào ruộng để cấy cày; khi thừa nước  
thì tháo cho chảy đi,... nên chắc chắn sẽ gặt hái  
được mùa bội thu.  
thuộc đất Lào; ba con sông: Lô, Gâm, Chảy  
thuộc vùng Đông Bắc nước ta; bốn con sông:  
Rốm, Mã, Đà, Thao thuộc vùng Tây Bắc của  
nước ta. Và cũng cho chúng ta thấy được vì sao  
người Thái lại tôn sùng nước đến thế.  
Việc cưới xin của người Thái được ghi chép  
lại thành văn bản và còn lưu giữ đến ngày nay.  
Luật tục này viết rõ về lễ cưới của hai lớp  
người trong xã hội thời phong kiến: “tạo lấy  
nàng” và thường dân lấy nhau. Trong lễ “Cưới  
lên” của “tạo lấy nàng” (lễ cưới mà người  
chồng và người vợ đều thuộc tầng lớp trên -  
con của phìa tạo hoặc bản thân người chồng đã  
lên làm phìa, cai quản dân toàn mường) có tục  
té nước vờ ngăn cản đoàn mối nhà trai không  
cho vào mường. Còn ở lễ “Cưới xuống” có tục:  
khi đón dâu về, phía nhà trai tổ chức lễ “khay  
tu mương” mở cửa mường. Trong lễ này có khá  
nhiều mâm cúng. Có thể kể đến mâm cỗ thịt  
trâu cúng “chảu bó nặm” chủ nguồn nước chảy  
giữa mường là loài thuồng luồng (rồng nước);  
một mâm cỗ thịt gà cúng thần khe núi, suối  
lạch;...  
Từ việc nhận thức được vai trò của nước  
trong hoạt động mưu sinh, nước đi vào trong  
tâm thức người Thái như một lẽ thường tình. Họ  
thành kính và sùng bái nước trong tín ngưỡng và  
nghi lễ: ở lệ cúng lễ mường có lễ “Tế phi bó -  
cáp” tế thần đầu nguồn nước bằng trâu đen và  
lợn; trong lễ cúng bản thì có lễ “tế - ta” tế thần  
bến nước. Trong văn tế thần nguồn nước của  
người Thái đen vùng Tây Bắc có đoạn:  
“Ơn Then Gió ban cho mưa thuận hòa ban  
cho vừa đủ  
Ơn thần nguồn nước bao la  
Ơn thần đất cho dân cấy cày lúa bội thu  
Bề tôi không quên công ơn đóa cây nhỏ  
bông sen  
Người Thái luôn tỏ lòng biết ơn, kính trọng  
và tôn sùng nước nên từ xa xưa đã có lệ tế thần  
nước. Họ coi nước là một trong những vị thần  
tối cao đem lại sự sống cho con người.  
Các Thánh thần chủ ngai đền ngài lớn”  
Tạ ơn Thiên Triều sinh ra đất và loài cỏ cây  
Lập nên bầu trời cao hình chiếc nấm  
Lập thành vùng chín dòng sông suối  
Lập nên vùng cửa sông Đà chảy vào sông Thao  
Lạy Then trên Thiên đình nom đến”.  
4. Nước biểu trưng cho sự thanh tẩy và tái  
sinh  
Trong tiềm thức con người từ xưa đến nay,  
nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó không  
chỉ là nguồn sống, mà còn là biểu tượng cho  
những năng lượng vô thức, cũng như biểu  
tượng cho đời sống tâm linh. Trong dòng chảy  
văn hóa của người Thái, nước còn biểu trưng  
cho sự thanh tẩy và sự tái sinh.  
[6, Tr. 193-194]  
Lời văn tế cho người nay biết được nơi cư  
trú của người Thái ở trong lưu vực chín con  
sông: Nặm Lò (sông Lô), Nặm Xang (sông  
Gâm), Nặm Cháy - Nặm Cả (sông Chảy), Nặm  
Tao (sông Thao), Nặm Te (sông Đà), Nặm Ma  
(sông Mã), Nặm Dôm - Núa (sông Nặm Rốm),  
Nặm U (sông Nặm U), Nặm Khoong (sông  
MêKông). Hai con sông Nặm U, MêKông nay  
Trước hết, nước trong tâm thức của tộc  
người Thái giúp họ gột rửa đi những nỗi buồn  
đau ở đời, khiến họ vui sống. Câu chuyện cổ  
tích Chàng Cáp Láng là một minh chứng: Cáp  
Láng sinh ra trong một gia đình nghèo khó,  
102  
Lê Thị Hải / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 01(44) (2021) 97-103  
nhưng có biệt tài kéo nhị. Chàng được con gái  
vua đem lòng yêu mến. Vì muốn có chút của  
cải trước khi cưới vợ nên anh quyết định đi  
buôn xa cùng Ké Thi - kẻ luôn ghen tị với anh.  
Ké Thi đã lừa và đẩy Cáp Láng xuống hang  
trăn tinh. Ở dưới hang sâu, chàng tìm mọi cách  
để thoát ra nhưng không được. Tối đến, chàng  
lại bị đàn dơi xà xuống, mổ ăn thịt. Sau ba  
tháng chàng được vợ chồng Then (Ngọc  
Hoàng) cứu ra và đưa lên mường Trời cho làm  
việc canh nương. Do ba tháng không được tắm  
rửa, lại bị dơi rỉa thịt nên người chàng hôi hám,  
mủ đầy mặt,... Một hôm, chàng đang ngủ thì có  
con quạ lao tới mổ, chàng nhanh tay tóm được  
quạ. Quạ van xin và hứa sẽ lấy nước hồi sinh  
cho chàng. Khi quạ mang nước hồi sinh tới,  
chàng liền vảy nước hồi sinh khắp người, tự  
nhiên máu mủ hôi thối biến mất. Chàng trở lại  
trẻ, khỏe, đẹp hơn xưa. Chàng xin phép Ngọc  
Hoàng trở về trần gian tìm mẹ. Ngọc Hoàng  
đồng ý và cho chàng một bầu nước hồi sinh và  
dặn: “thấy vết thương hôi thối, vảy nước hồi  
sinh vào sẽ khỏi, lành trở lại như xưa” [4, Tr.40].  
chân núi Then cho khoét từ trong lòng đất có  
“nặm bó” nước nguồn chảy. Các nguồn nước  
chảy ra tụ kèm theo nước mưa từ các khe núi  
chảy xuống hợp thành các con suối. Các con  
suối nhỏ to, chảy hợp lại thành các con sông.  
Các con sông chảy dồn vào biển cả bao la. Khi  
đã hình thành trời cao và trái đất xong, Then  
thả cho giống người xuống sinh sống ở dưới  
trần gian”. Theo quan niệm của người Thái, con  
người trần được sinh ra từ mường Then. Sau  
khi chết - kết thúc một chặng đường dài sinh  
sống ở mường Trần gian, linh hồn của họ lại trở  
về với nơi họ sinh khởi là mường Then.  
Thêm nữa, dòng nước đã thanh tẩy đi mọi  
nỗi sợ hãi giúp con người đủ dũng khí để trở về  
với khởi nguyên, với thế giới cực lạc. Nếu như  
người Mường có quan niệm về ba thế giới:  
Trần gian, Ma và Trời thì người Thái chỉ tin là  
có hai thế giới khác biệt: mường Trần gian và  
mường Then (mường Trời). Khi còn sống, thể  
xác và linh hồn của tộc người Thái neo đậu ở  
mường Trần gian - nơi vui vẻ, ấm áp tình  
người: nam thanh nữ tú thường dựng “Hạn  
khuống” vui chơi, hát ca, múa xòe mỗi đêm; họ  
say với chum rượu cần mỗi dịp lễ tết, hiếu, hỉ.  
Còn lúc chết đi, người Thái quan niệm: con  
người chỉ còn lại phần hồn. Linh hồn của người  
chết được thầy Mo dẫn lối để đến với thế giới  
của mường Then - thế giới cực lạc. Có thể nói,  
đoạn đường đi tới mường Trời chủ yếu đi qua  
sông, suối, thác ghềnh. Ngăn giữa hai thế giới  
này là một con sông dài, có nhiều khúc đoạn.  
Sông đó có tên là sông Ta Khái. Phải vượt qua  
sông Ta Khái thì linh hồn người Thái mới đến  
được đất của mường Trời:  
Nước còn giúp gột rửa linh hồn để linh hồn  
được thanh sạch khi sang thế giới khác - mường  
Then (mường Trời). Tang ma của người Thái  
có tục: khi trong nhà có người chết thì người  
nhà sẽ đi kiếm lá cây thuốc về đun một nồi  
nước để ấm rồi tắm rửa cho người đã khuất.  
Dòng nước cuốn trôi cát bụi, một đời người  
trong chớp mắt hòa về với thiên nhiên. Thi thể  
được gột rửa trong dòng nước thanh khiết để về  
với cội nguồn. Sách Quan tô Mương viết:  
“Thời xửa thời xưa, khi Then Luông mới lần  
đầu tiên lập thành trời đất. Trời trên cao xanh  
bao la. Giữa trời và đất có một thân cột đi lại,  
lên xuống với nhau được. Trời đất hình thành  
trông tựa như một chiếc nấm khổng lồ. Lúc ấy  
trời đất khi mới hình thành còn nhão, lại nóng  
lắm. Sau nguội dần và cứng lại. Then cho mọc  
các loại cỏ cây um tùm trên mặt đất. Đất có chỗ  
bằng phẳng, có chỗ cao thành núi. Tại các nơi  
“Nghe ào ào phía trước - tiếng gió  
Nghe ầm ầm dưới chân núi Khâu Côm -  
tiếng sông Ta Khái”  
[7, Tr.373]  
Con sông Ta Khái hiện lên trước mắt người  
chết là một con sông hung dữ: nước cuồn cuộn  
Lê Thị Hải / Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đại học Duy Tân 01(44) (2021) 97-103  
103  
chảy xiết, nhiều thác ghềnh, nhiều chỗ nước  
xoáy mạnh, bao chứa trong lòng nó là muôn  
loài thủy quái như thuồng luồng, rắn,... tất cả  
chỉ như chực nuốt chửng mọi thứ đi ngang qua  
nó. Linh hồn người chết đủ dũng khí tự khắc  
qua sông.  
Nước xét từ cội nguồn văn hóa người Thái ở  
Tây Bắc là biểu tượng của tinh khiết, thiêng  
liêng; biểu tượng của sự sống, của sự tái sinh;  
là cội nguồn của cuộc sống nội tâm và năng  
lượng tinh thần lớn.  
Tóm lại: Theo bước chân của dòng chảy văn  
hóa, chúng ta nhận thấy nước trong tâm thức  
văn hóa của người Thái không chỉ là biểu tượng  
của sự sống, mà còn là phương tiện thanh tẩy,  
sự tái sinh. Nước là gốc của vạn vật, là nơi mà  
con người cùng muôn vật ngưỡng vọng và  
hướng về. Nghiên cứu biểu tượng nước trong  
đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc đã  
cho ta cái nhìn sâu sắc về văn hóa của tộc  
người Thái. Nước không đơn thuần là cái vỏ  
hình thức bên ngoài của nó mà là biểu tượng  
văn hóa của cộng đồng người Thái trong nền  
văn hóa Việt Nam.  
Tuy nhiên, mường Trời rất rộng nên họ phải  
tiếp tục vượt qua con sông Cưới thì mới đến  
được xứ sở của Then Luông - vị thần nắm  
quyền tối cao trên trời, của các Then Hung,  
Then Khao, Then Hom, Then Thóng:  
“Ta lên với ba chàng thả lưới câu  
Bảy chàng ở bến đò sông Cưới”  
[7, Tr.374]  
Như vậy, con người muốn sang được thế giới  
khác - mường Then thì nhất định phải vượt qua  
được con sông Ta Khái; còn để đến được nơi  
cao nhất ở mường Then thì phải được con sông  
Cưới tắm rửa. Đó là những dòng sông thiêng,  
dòng sông thần, dòng sông đã được nhìn qua  
lăng kính tâm thức của người Thái ở Tây Bắc.  
Nó có chức năng thanh tẩy mọi tội lỗi, mọi khổ  
đau, sự sợ hãi,... để khi con người trở về với  
nguồn cội với một linh hồn thanh sạch. Ai chưa  
được dòng sông Ta Khái gột rửa thì người đó  
chưa đủ tư cách để trở về, để sang mường Trời,  
để tái sinh. Có thể nói, dòng sông là một biểu  
tượng đa nghĩa bởi vì nó tương ứng với quyền  
năng sáng tạo của cả tự nhiên lẫn thời gian. Một  
mặt, nó biểu thị cho sự màu mỡ và việc tưới tiêu  
đều đặn cho đất đai; mặt khác nó biểu trưng cho  
dòng thời gian bất khả qui hồi.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), Từ điển  
văn hóa Thế giới, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.  
[2]. S.Freud, C.Jung, E.Frommm (2004), Phân tâm học  
và văn hóa nghệ thuật, NXB Văn hóa Thông tin, Hà  
Nội.  
[3]. Lê Nguyên Cẩn (2014), Tiếp cận văn học từ góc nhìn  
văn hóa, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
[4]. Lương Thị Đại (2014), Truyện cổ dân gian dân tộc  
Thái tỉnh Điện Biên (Quyển 1), Nxb Văn hóa Thông  
tin, Hà Nội.  
[5]. Nguyễn Văn Hòa (2009), Quan tô mương, Nxb Đại  
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.  
[6]. Nguyễn Văn Hòa (2013), Tục lập bản mường và lệ tế  
thần núi, thần nguồn nước của người Thái đen vùng  
Tây Bắc, Nxb Thời đại, Hà Nội.  
[7]. Nguyễn Thị Bích Hà (2013), Nghiên cứu văn học  
dân gian từ mã văn hóa dân gian, Nxb Văn hóa  
Thông tin, Hà Nội.  
pdf 7 trang yennguyen 21380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biểu tượng nước trong đời sống văn hóa của người Thái ở Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbieu_tuong_nuoc_trong_doi_song_van_hoa_cua_nguoi_thai_o_tay.pdf