Những nỗ lực của người Việt trong lĩnh vực tài chính ở Nam kì thời thuộc địa: Trường hợp Việt Nam ngân hàng (Société annamite de crédit)

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
Bài nghiên cứu  
Open Access Full Text Article  
Những nỗ lực của người Việt trong lĩnh vực tài chính ở Nam kì thời  
thuộc địa: trường hợp Việt Nam ngân hàng (Société annamite de  
crédit)  
Võ Phúc Toàn*  
TÓM TẮT  
Ở xã hội thời phong kiến, người Việt xem trọng việc đỗ đạt khoa cử và nông nghiệp. Thương mại  
và thủ công nghiệp chỉ được xem là thứ yếu trong tư duy kinh tế của người Việt. Cho nên khi chủ  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
nghĩa tư bản theo con đường thực dân vào Việt Nam, người Việt trở thành cộng đồng thích ứng  
chậm với những biến đổi diễn ra trên trường kinh tế. Trong số những khó khăn của quá trình thay  
đổi tư duy và sinh hoạt kinh tế, ngành tài chính ngân hàng được xem như lĩnh vực hạn chế nhất  
của người Việt thời thuộc địa. Từ thực tế đó, năm 1912, mô hình Nông nghiệp tương tế hội ra đời  
ở Nam kì được xem là những thể nghiệm đầu tiên của người Việt trong việc thành lập các tổ chức  
tài chính chuyên nghiệp. Tuy nhiên, do tiềm lực kinh tế còn hạn chế, các hội nông nghiệp tương  
tế này lại phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn của Ngân hàng Đông Dương. Đến năm 1919, với tinh  
thần dân tộc đang dâng cao trong phong trào tẩy chay Hoa kiều, kế hoạch thành lập một tổ chức  
tài chính tên là Việt Nam Ngân hàng đã xuất hiện nhưng không thành công. Phải 8 năm sau, năm  
1927, Việt Nam Ngân hàng mới chính thức được thành lập, trở thành ngân hàng đầu tiên của người  
Việt, phản ánh nỗ lực xây dựng một cơ sở tài chính độc lập với tư sản ngoại kiều. Sự ra đời này là  
sản phẩm kết tinh của sức mạnh kinh tế và tinh thần dân tộc đang dâng cao trong phong trào yêu  
nước của giới tinh hoa bản xứ cuối thập niên 1920.  
Từ khoá: Nông nghiệp tương tế hội, Việt Nam Ngân hàng (Société annamite de crédit), Nam kì,  
giới tinh hoa bản xứ, chủ nghĩa dân tộc  
thác, thị trường Việt Nam dần bị giới doanh nghiệp  
Pháp thâu tóm, nắm các ngành kinh tế then chốt. Các  
cơ sở sản xuất vận hành theo mô hình kinh tế tư bản  
GIỚI THIỆU  
Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, việc mở rộng đầu  
tư, nâng cao năng suất lao động rất cần đến các tổ chức  
tài chính. Hoạt động cho vay của các ngân hàng giúp  
tiền tệ được lưu thông từ nơi nhàn rỗi đến nơi cần,  
từ đó tiền tệ sinh ra lợi nhuận. Trong thời kì thuộc  
địa hóa, sau nhiều cuộc vận động kêu gọi thay đổi tư  
duy kinh tế, người Việt bắt đầu chú trọng đến thương  
mại và kỹ nghệ. Tuy nhiên, các cơ sở tài chính dù  
lớn hay nhỏ ở Đông Dương đều nằm trong tay doanh  
nghiệp nước ngoài. Chính từ thực tế này, để giảm sự  
phụ thuộc vào các tổ chức tín dụng nước ngoài, một  
quá trình vận động thành lập cơ sở tài chính đầu tiên  
của người Việt đã được được khởi động trong gần 30  
năm đầu thế kỷ XX. Đến năm 1927, ngân hàng đầu  
tiên của người Việt mới xuất hiện.  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam  
chủ nghĩa đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam, trước hết  
là ở Nam kì. Năm 1864, công binh xưởng Ba Son (Ar-  
senal) được xây dựng trên nền xưởng đóng thuyền cũ  
ở Gia Định. Tiếp theo đó, một số cơ sở công nghiệp  
chế biến được xây dựng ở khu vực Sài Gòn – Chợ Lớn  
như nhà máy rượu bia (1874), nhà máy cưa (1875),  
nhà máy kéo sợi (1876). Tính đến năm 1895, Nam kì  
có tới 200 xưởng xay xát gạo, chuyên chế biến gạo xuất  
khẩu, trong đó có 2 nhà máy chạy bằng đầu máy hơi  
nước [1, tr.30]. Đặc biệt là lĩnh vực tài chính, để điều  
hành nền tài chính tiền tệ ở Đông Dương, người Pháp  
lại không thành lập một ngân hàng công lập mà cho  
giới doanh nghiệp tư nhân Pháp thành lập Ngân hàng  
Đông Dương vào năm 1875 với hai chi nhánh đầu tiên  
ở Nam kì và Ấn Độ. Ngân hàng Đông Dương có đặc  
quyền phát hành giấy bạc và cho vay tín dụng. Như  
thế, Ngân hàng Đông Dương vừa có tính chất ngân  
hàng nhà nước trong việc điều hành tỷ giá, phát hành  
tiền tệ vừa mang bản chất kinh doanh của ngân hàng  
Liên hệ  
Võ Phúc Toàn, Trường Đại học Khoa học Xã  
hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Email: [email protected].vn  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 3/11/2020  
• Ngày chấp nhận: 17/03/2021  
• Ngày đăng: 31/03/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i1.651  
Bản quyền  
Tài chính – một vùng trũng trong kinh tế  
người Việt thời thuộc địa  
Năm 1858, người Pháp mở đầu quá trình xâm lược  
Việt Nam. Những diễn tiến sau đó của quá trình  
thuộc địa hóa đã từng bước củng cố sự hiện diện của  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
chủ nghĩa tư bản Pháp ở Việt Nam. Là thuộc địa khai tư nhân. Chính đặc quyền phát hành tiền tệ đã giúp  
Trích dẫn bài báo này: Toàn V P. Những nỗ lực của người Việt trong lĩnh vực tài chính ở Nam kì thời  
thuộc địa: trường hợp Việt Nam ngân hàng (Société annamite de crédit). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci.  
Hum.; 5(1):975-985.  
975  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
cho ngân hàng này dễ dàng kiểm soát nền tài chính thường và dành cho người phụ nữ trong gia đình lo  
của Đông Dương và tái đầu tư vào các ngành nghề  
chủ yếu của nền kinh tế thuộc địa. Các chi nhánh của  
nó nhanh chóng được mở trong cả nước: Hải Phòng  
(1885), Hà Nội (1887), Đà Nẵng (1891).  
liệu:  
“Sự buôn bán chỉ cốt để đổi chác những vật thổ sản,  
mà công nghiệp lại không phát đạt, cho nên thương  
mãi cũng không phát đạt. Những người buôn chuyên  
ở các chợ phần nhiều là đàn bà nhà nông, khi rảnh  
việc đi buôn để kiếm thêm đồng lời. Có người đi cả  
ngày đến tối về nhà tính chỉ lời đâu vài xu. Ở chợ nào  
việc buôn bán có hơi quan trọng là thấy có một vài nhà  
buôn bán Hoa kiều lũng đoạn lợi quyền.” [5, tr.48]  
Tính chất này của nền kinh tế Việt Nam thời kì tiền  
thuộc địa khiến các tổ chức tài chính phục vụ việc mở  
rộng sản xuất ra đời chậm chạp. Hình thức cho vay lấy  
lãi dưới dạng tín dụng dân gian như hò (hụi) dù tồn  
tại lâu đời cũng chỉ mang tính chất nhỏ, lẻ ở phạm vi  
địa phương không hình thành nên những cơ sở cung  
cấp dịch vụ tín dụng chuyên nghiệpa 6. Trong khi đó  
ở Trung Quốc, loại hình tiền trang được thư tịch ghi  
nhận sớm nhất dưới thời Minhb 7. Hiện nay, chúng  
ta vẫn không đủ tư liệu để biết mô hình này có theo  
chân các đoàn di dân người Hoa vào Việt Nam trong  
thời kì tiền thuộc địa hay không.  
Bước vào thời kì thuộc địa, trước sự du nhập của  
phương thức tư bản chủ nghĩa và ưu thế của các cộng  
đồng ngoại kiều trong kinh tế, nhiều lời kêu gọi, làn  
sóng vận động người Việt thức tỉnh chú ý vào con  
đường thực nghiệp, từ bỏ lối học làm quan, vinh thân  
phì gia liên tiếp nổi dậy. Các phong trào Duy Tân,  
Minh Tân diễn ra đã dần thức tỉnh giới tinh hoac  
người Việt chú trọng hơn vào kinh tế, phá bỏ quan  
niệm tứ dân (sĩ, nông, công, thương) bảo thủ, trì trệ.  
Khi mở rộng sản xuất, đi theo con đường kinh doanh  
tư bản chủ nghĩa, vấn đề về vốn đã được các trí thức  
cấp tiến đầu thế kỷ XX đặt ra. Tân Dân Tử trên tờ  
Nông cổ mín đàm đã kêu gọi thành lập ngân hàng của  
người Việt để tránh lệ thuộc vào nguồn tài chính của  
người Hoa và người Ấn:  
Không chỉ vậy, chính sách khai thác kinh tế thuộc  
địa của người Pháp đã tạo điều kiện cho người Hoa  
và người Ấn đến định cư và làm ăn ở Đông Dương.  
Ấn kiều từ Pondicherry và Karikal di dân đến Nam  
kì làm ăn họ có thể là người Pháp gốc Ấn hoặc người  
Anh gốc Ấn. Đỉnh điểm số lượng người Ấn ở Nam  
kì lên đến 7.000 người (0,2% dân số) trong thập niên  
1920. Những thương nhân Sindi người Ấn thường  
hoạt động trong ngành dệt may. Còn người Ấn Hindu  
thì có khoảng 300 người làm trong lĩnh vực cho vay  
tín dụng (người Chà chettys) hay nhân viên ngân hàng  
trong thập niên 1930 [2, tr.121-122]. Đặc biệt, người  
Hoa đã nhanh chóng trở thành một thế lực kinh tế lớn  
ở Đông Dương chỉ sau người Pháp. Họ được hưởng  
nhiều ưu đãi trong việc nhập cư, được tạo điều kiện  
tự do kinh doanh ở Đông Dương. Hiệp ước thương  
mại Bắc kì giữa Pháp và Trung Quốc ngày 25/4/1886  
cho phép người Hoa đến làm ăn, buôn bán, xây nhà,  
kho bãi trong toàn lãnh thổ Việt Nam. Họ nhận được  
sự bảo vệ của chính phủ Pháp về các quyền tư hữu,  
thân nhân, hàng hóa như người châu Âu và đổi lại,  
người Pháp cũng được hưởng các đặc quyền tương tự  
trong lãnh thổ của Trung Quốc [3, tr.136-137]. Trong  
phiên họp ngày 03/8/1900, Hội đồng Quản hạt Nam  
kì còn ra quyết định miễn cho người Hoa tiền đăng bạ  
trong năm đầu tiên đến làm ăn ở Nam kì [4, tr.112].  
Với sự mở cửa của Pháp cho Hoa kiều từ Singapore,  
Malaysia, Hong Kong đến làm ăn và xây dựng nhà  
máy, thị trường lúa gạo Nam kì nhanh chóng bị thâu  
tóm vào tay những Hoa thương quốc tế có tiềm lực tài  
chính mạnh, sẵn sàng nắm lấy hệ thống thu mua lúa  
gạo rộng khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long.  
Ngược lại với sự phát triển của các cộng đồng ngoại  
kiều ở Đông Dương, cộng đồng người Việt bản xứ lại  
thích ứng khá chậm với con đường làm ăn kiểu mới.  
Trong nền kinh tế Việt Nam truyền thống, yếu tố sản  
xuất nhỏ theo hộ gia đình kéo dài, tạo nên sự trì trệ  
trong sinh hoạt kinh tế của người Việt. Nền thủ công  
nghiệp của người Việt dù đạt được nhiều thành tựu  
về kỹ nghệ tạo tác nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ  
của kinh tế gia đình. Việc chuyên môn hóa lao động  
đã diễn ra nhưng tính chất gia đình làm cho các kinh  
nghiệm, bí quyết sản xuất thường chỉ lưu truyền nội  
bộ nên các cơ sở thủ công nghiệp khó mở rộng về  
mặt quy mô. Người đàn ông trong xã hội Việt truyền  
thống chủ yếu quan tâm đến con đường khoa cử và  
nông nghiệp. Nền thương mại cũng diễn ra trong  
khung cảnh này. Hoạt động buôn bán thường bị xem  
“Người bổn quốc ta mảng có tánh nghi nan đố kỵ  
nhau, nên không đồng tâm hiệp lực mà kinh dinh  
cuộc thương mại chi với người ngoại quốc đặng. Vì  
vậy các cuộc đại thương trong xứ ta đều nhượng  
cho Trung Huê và Ấn Độ thâu tóm lợi quyền, mà  
aTrong tác phẩm Việt Nam Phong tục, Phan Kế Bính có đề cập  
đến loại hình này dưới nhan đề “hội tư cấp” [6, tr.188-189].  
beo i Bá Hành trong Tiền trang học (1931) thì tiền trang được  
định nghĩa như sau: “Tiền trang là xí nghiệp có tính chất công ty vô  
hạn, tổ chức bằng tiền của một cá nhân hoặc họp bạn, đều dựa vào  
tín nhiệm của mình, thu hút vốn liếng ở một phía của xã hội mà cho  
phía khác vay để điều tiết cung và cấu trong giới tài chính, đồng thời  
làm việc giao dịch tiền bạc.” [7, tr.21].  
cuật ngữ giới tinh hoa (từ gốc tiếng Pháp là élite) bài viết này  
được sử dụng với nguyên nghĩa chỉ một nhóm người có ưu thế về kinh  
tế, chính trị, giáo dục có sức ảnh hưởng lớn trong xã hội. Ở Nam kì  
thời thuộc địa, giới tinh hoa người Việt bao gồm giới trí thức, doanh  
nhân, điền chủ, công chức có sức ảnh hưởng lớn trong xã hội.  
976  
     
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
trường hưởng phú quí, lạc nghiệp an cư, như một hành công việc. Không chỉ vậy, một số hội tương tế  
nông nghiệp khác ở Nam kì còn tìm cách cải cách hoạt  
động sản xuất, đưa các loại hình sinh hoạt kinh tế mới  
vào nông nghiệp. Hội nông nghiệp tương tế ở Sa Đéc  
trong điều lệ hoạt động cho biết ngoài việc hỗ trợ tài  
chính sẽ chú trọng vào việc “cải cách trồng tỉa, cách  
dùng phân cùng cách lựa lúa giống; dùng thử những  
đồ khí cụ tinh xảo cùng các cách thế nào khác đặng  
làm cho nhẹ công cho nhà nông mà được thêm số huê  
lợi và bớt sự tổn hao” cũng như “bày cuộc diễn thuyết  
cùng cách thế chi khác như là: lập hội đấu xảo đồ thổ  
phần hương hỏa kia của tổ phụ người lưu lại cho đó  
vậy. Còn người Annam là người bản sở tổ quán xứ  
này mà không đặng hưởng đúng sự giàu sang thạnh  
lợi, cứ rút vô chỗ thảo gia điền viên mà ra sức cày sâu  
cuốc bẩm, buôn vụn bán vằn, người nào có phước thì  
phước đặng ấm dưỡng thê nhi kẻ nào thất thời lại phải  
bần hàn cực khổ, thiệt là thua sức người ngoại quốc  
lắm.  
… Nay chúng ta muốn tranh đua thắng bại với người  
Trung Quốc, thì kịp dùng thương mãi mà cự địch với  
chúng nó, còn muốn tranh đua với người Ấn Độ, thì  
kịp lập cuộc ngân hành (nhà băng để cho vay).” [8,  
tr.11-14].  
Tuy nhiên, từ lời kêu gọi, vận động đến việc thành  
lập một ngân hàng hoàn toàn của người Việt đòi hỏi  
một sự nỗ lực và kiên trì cao độ trong khung cảnh  
ngột ngạt của chế độ thuộc địa. Tiến trình này kéo  
dài hàng chục năm, với sự lớn mạnh từng bước của  
giới tinh hoa bản xứ.  
sản,… đặng mà dạy dỗ dân trong nông nghiệp.” [10  
tr.6].  
,
Mô hình của Mỹ o nhanh chóng được nhân rộng  
ra khắp Nam kì. Đến năm 1928, toàn Nam kì có 20  
hội nông nghiệp tương tế bản xứ cấp tỉnh được thành  
lập [11, tr.139]. ành phần tham gia của các nông  
nghiệp tương tế hội này chủ yếu là giới công chức, địa  
chủ, trí thức người Việt bản xứ. Một số nhân vật có địa  
vị xã hội cao tham gia vào ban quản trị như Hội Nông  
nghiệp tương tế ở Sa Đéc thành lập năm 1920 do Nghị  
viên Hội đồng Quản hạt Nam kì Nguyễn Tấn Dược  
làm chánh hội trưởng; ở Rạch Giá năm 1926 do Nghị  
viên Hội đồng Quản hạt Nam kì Lê Quang Liêm làm  
chánh hội trưởng; ở Cần ơ năm 1930 thì do doanh  
nhân ngành vận tải Võ Hiếu Để làm hội trưởng... Sự  
giao thoa giữa các cá nhân này trên những danh nhân  
khác nhau giúp họ có tích lũy những kinh nghiệm  
quan trọng trong quá trình hoạt động kinh tế cũng  
như chính trị. Điển hình như Nguyễn Tấn Dược, một  
nghị viên sát cánh cùng với Nguyễn Phan Long kịch  
liệt lên án kế hoạch độc quyền cảng Sài Gòn của nhóm  
Candelier năm 1923 vì lo sợ ảnh hưởng đến nông  
nghiệp bản xứ:  
Những thử nghiệm đầu tiên: từ Nông  
nghiệp tương tế hội (1912) đến dự án Việt  
Nam Ngân hàng lần thứ nhất (1919)  
Nam kì là nơi diễn ra quá trình thuộc địa hóa sớm  
nhất trong cả nước nên giới tinh hoa ở Nam kì có điều  
kiện tiếp xúc với lối kinh doanh mới được du nhập.  
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng ở Nam  
kì, có lịch sử khai thác lâu dài và được chính quyền  
thuộc địa quan tâm đầu tư. Đồng thời, do chế độ tư  
hữu đất đai được hình thành ngay từ đầu, giới địa chủ  
ở Nam kì có điều kiện tích lũy về tài sản trở thành  
một thế lực kinh tế khá mạnh nếu so với nhóm người  
Việt hoạt động trong khu vực công thương nghiệp.  
Cho nên, một điều dễ hiểu khi khu vực nông nghiệp  
lại là nơi sớm nảy sinh nhu cầu về vốn phát triển sản  
xuất. Để giảm sự phụ thuộc vào nguồn tín dụng của  
người Hoa, người Ấn, một mô hình quỹ tài chính  
nông nghiệp được giới điền chủ, công chức người Việt  
thai nghén và ra đời từ năm 1912.  
Vào ngày 27/12/1912, quỹ tín dụng nông nghiệp đầu  
tiên ra đời ở Mỹ o với tên gọi là Hội Nông nghiệp  
tương tế Mỹ o. Mục đích của Hội là:  
“Trước họp các điền chủ mỗi tỉnh. Rồi sau họp cả  
các tỉnh làm một hội cực lớn để đối lại với bọn Khách  
buôn gạo, tìm cách đặt lấy nhà máy, định lấy giá gạo  
và bán thẳng cho ngoài, không phải qua tay bọn đó.”  
[9, tr.129-130]  
“Vậy tôi muốn cho tôi tròn cái nghĩa vụ làm người An-  
nam, thuộc dân của Đại Pháp, nên tôi phải xin quan  
trên lưu ý về sự giao quyền vận tải này, là một sự sẽ  
ảnh hưởng dẫu chưa rõ tới bực nào, song chắc là trọng  
hệ lắm, bởi vì sự ấy động tới quyền lợi to tát của nông  
nghiệp, nghĩa là quyền lợi của cả và dân tộc Annam.”  
[
12, tr.26].  
Sức hút của các hội nông nghiệp tương tế ở các tỉnh  
Nam kì cũng có sự khác nhau tùy thuộc vào hoạt động  
của ban quản trị cũng như mức độ phát triển nông  
nghiệp ở từng tỉnh. Có thể theo dõi số lượng hội viên  
và phần hùn của các hội nông nghiệp tương tế ở Rạch  
Giá (1926), Gia Định (1929), Cần ơ (1930) qua biểu  
đồ ở Hình 1.  
Tuy nhiên, do tiềm lực tài chính hạn hẹp của giới điền  
chủ, công chức người Việt, các quỹ nông tín này chịu  
chi phối nặng từ nguồn tài lực của Ngân hàng Đông  
Dương. Từ năm 1923 đến năm 1930, phần góp vốn  
Hội hoạt động theo hình thức công ty thương mại cổ  
phần, do tri phủ Đoàn Hữu Chung làm chủ tịch hội  
đồng quản trị. Bên cạnh hội đồng quản trị còn có một  
ủy ban giám sát của chính quyền Pháp tham gia điều của các quỹ nông tín này chỉ dao động từ 0,02% đến  
977  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
Hình 1: Số hội viên và tiền hùn của các hội nông nghiệp tương tế ở Rạch Giá (1926), Gia Định (1929), Cần Thơ  
(1930)13–15  
0,04% so với số vốn mà Ngân hàng Đông Dương cung phần nhiều đã tẩy chay Khách trú, không thèm uống  
cấp cho các quỹ nông nghiệp tương tế ở Nam kì [11  
,
cà phê Khách trú nữa…  
tr.148]. Đơn cử như Hội Nông nghiệp tương tế Vĩnh  
Long, theo báo cáo thường niên năm 1926, tiền hùn  
của hội viên trong tỉnh chỉ có 15.750 đồng trong khi  
phần vay của Ngân hàng Đông Dương lên tới 351.210  
đồngd. Tỷ lệ phần vốn tự góp chỉ bằng 0,044% phần  
vốn vay [16, tr.7]. Việc phụ thuộc rất lớn vào nguồn  
tài chính của Ngân hàng Đông Dương đã phản ánh  
tính chất của các hội nông nghiệp tương tế ở Nam kì  
tương tự như một đại lý của Ngân hàng Đông Dương.  
Nhìn chung, những nỗ lực này của giới điền chủ, công  
chức người Việt ở nông thôn là không thể phủ nhận  
dù còn khá khiêm tốn và chỉ giới hạn trong lĩnh vực  
nông nghiệp.  
Không chỉ có khu vực nông thôn, những người Việt  
có tài lực ở khu vực thành thị Nam kì cũng tìm cách  
thoát khỏi vùng trũng tài chính. Sự vận động này lại  
diễn ra trong một không khí khá đặc biệt của cuộc tẩy  
chay Khách trú năm 1919. Bất bình từ sự tăng giá đột  
ngột của một tiệm điểm tâm người Hoa ở Sài Gòn, làn  
sóng kêu gọi tẩy chay hàng hóa, cửa tiệm người Hoa  
đã diễn một cách mạnh mẽ khắp Sài Gòn, Chợ Lớn rồi  
nhanh chóng lan rộng ra Nam kì và cả nước. Cũng có  
một số bài viết kêu gọi tẩy chay luôn các tiệm cầm đồ,  
cho vay của người Ấn nhưng rất hạn chế, cuộc tranh  
thương này tập trung chủ yếu vào giới Hoa kiều. Ngày  
13/8/1919, trên tờ Lục tỉnh tân văn, Lê Hoằng Mưu  
(1919) viết bài xã luận chính thức kêu gọi tẩy chay các  
cửa hàng người Hoa ở Sài Gòn – Chợ Lớn:  
Hãy tẩy chay Khách trú đi đồng bang, đồng lòng cùng  
nhau, hiệp ý nhau, làm cho nên, chớ có làm mưa  
mứa mà mang điều, mang tiếng cười chê, cười ta, chê  
ta, nhục nòi giống ta, nước Đông hải rửa nhơ không  
sạch.” [17, tr.1]  
Tờ La Tribune Indigène cũng kêu gọi: “Hãy tập hợp lại,  
đây là sức mạnh của chúng ta, chiến thắng của chúng  
ta” [18, tr.136]. Phong trào tẩy chay Hoa thương  
trên báo chí nhanh chóng từ Nam kì lan rộng ra cả  
nước. Hoạt động biểu tình, rải truyền đơn diễn ra ở  
nhiều nơi với những khẩu hiệu như “Người Việt Nam  
dùng hàng Việt Nam”, “Người Việt Nam không gánh  
vàng đi đổ sông Ngô”,… Ở Bắc kì, những doanh nhân  
đóng vai trò chủ chốt trong phong trào này như Bạch  
ái Bưởi , Nguyễn Hữu u , Bùi Huy Tín, Nguyễn  
Huy Hợi… ậm chí ở Hà Nội, phong trào còn mang  
khuynh hướng bạo lực, nhiều cửa hàng người Hoa bị  
đập phá [19, tr.65]. Trên diễn đàn công khai của báo  
chí, hai bên Hoa – Việt liên tục công kích, tấn công lẫn  
nhau. Rất dễ nhận ra cuộc đấu tranh kinh tế này của  
người Việt đã mang đậm màu sắc dân tộc chủ nghĩa.  
Tâm lý uẩn ức của một cộng đồng bản xứ vừa mất  
nước lại vừa bị chèn ép về kinh tế vốn hết sức ngột  
ngạt đã mau chóng được giải phóng qua làn sóng tẩy  
chay Hoa kiều.  
Chính trong bối cảnh này, một lời thách thức do giới  
thương nhân Hoa kiều đưa ra đã chạm vào sự tự tôn  
dân tộc của giới tinh hoa người Việt: “Nếu Annam lập  
được nhà băng thì họ thưởng cho một cái xe hơi 8 chỗ  
ngồi” [20, tr.10]. Không chịu thua cuộc, một nhóm  
doanh nhân, điền chủ ở Nam kì đã nhóm họp thảo ra  
tờ chương trình của Ngân hàng Việt Nam, với số vốn  
“Vì biết thẹn chung, hổ chung bởi lời Khách trú ở đậu  
với ta mà khinh khi ta, nên mấy ngày sau đây, Annam  
dTrong tiểu luận này, đơn vị tiền tệ được sử dụng thống nhất là  
đồng bạc Đông Dương, gọi tắt là đồng (piastre).  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
định 10 triệu đồng từ việc huy động 100 vạn cổ phần. vào năm 1923 dưới sự bắt tay của giới tinh hoa người  
Hội đồng sáng lập có Lê Văn Mầu, đốc phủ sứ hưu trí Việt và giới thương nhân người Hoa. Năm 1925, Bùi  
làm chủ hội; Nguyễn Hữu Hào, điền chủ, con rể của Quang Chiêu sang Pháp vận động cải cách cho Đông  
Lê Phát Đạt làm phó chủ hội; Nguyễn Văn Của, chủ Dương cũng như xin giấy phép hoạt động chính thức  
nhà in Union làm thủ quỹ; Nguyễn Phú Khai, tổng lý cho Đảng Lập hiến gieo nhiều hi vọng cho sự cải cách  
hãng uận Hòa và quản lý tờ La Tribune Indigène làm  
ở bản xứ. Làn sóng này đã lên đến cao trào vào năm  
1926.  
thư ký [21, tr.314]. Một điều đáng lưu ý của dự án này  
1
là việc quy định số cổ phần cho người Pháp nào có  
Trong năm 1926 này, hàng loạt các sự kiện liên tiếp  
diễn ra cho thấy sự dâng cao của phong trào dân tộc  
ở Nam kì. Phan Châu Trinh một chí sĩ yêu nước được  
quốc dân ngưỡng mộ sau 14 năm ở Pháp về nước hoạt  
động từ năm 1925. Trong khoảng thời gian chưa đầy  
một năm trước khi mất, Phan Châu Trinh đã có 2 bài  
diễn thuyết thu hút đông đảo người nghe, gây nức  
tiếng ở Sài Gòn. Tối ngày 24/3/1926, Phan Châu Trinh  
qua đời, một tang lễ trọng thể được gấp rút chuẩn  
bị. Cùng lúc này, ngày 25/3/1926, Bùi Quang Chiêu  
cũng đón tàu từ Pháp về đến cảng Sài Gòn. Liên tiếp,  
quần chúng Sài Gòn – Chợ Lớn chứng kiến hai cuộc  
tập hợp lực lượng đông đảo của phong trào chính trị  
người Việt từ đón tiếp Bùi Quang Chiêu đến đám tang  
của Phan Châu Trinh. Đầu tháng 4/1926, đám tang  
Phan Châu Trinh diễn ra có thể coi như một cuộc biểu  
dương lực lượng đông đảo của quần chúng yêu nước,  
tiến bộ khi quy tụ đến hàng vạn người từ khắp nơi về  
Sài Gòn đưa tang chí sĩ yêu nước [23, tr.15-32]. Đời  
sống chính trị xã hội Nam kì năm 1926 đạt đến một  
trạng thái mà Nguyễn Ái Quốc gọi là “sự thức tỉnh  
toàn quốc” khi “chủ nghĩa quốc gia được nói và viết  
công khai” và lịch sử người Việt Nam “chưa hề được  
chứng kiến một việc to lớn như vậy” [24, tr.41].  
Chính trong bối cảnh phong trào dân tộc đang dâng  
cao, vấn đề thành lập ngân hàng đầu tiên của người  
Việt lại được đặt ra. Ngày 08/11/1926, nhóm vận động  
thành lập họp tại trụ sở của Hội kỹ nghệ gia và doanh  
nhân An Nam (Association des Industriels et Com-  
merçants Annamites) ở số 76 rue La Grandière, Sài  
Gòn (nay là đường Lý Tự Trọng) để thành lập Công  
ty tín dụng An Nam (Société annamite de Crédit).  
ành viên sáng lập công ty gồm có: luật sư Paul  
Monin, kỹ sư Lưu Văn Lang, nghị viên Nguyễn Tấn  
Văn, doanh nhân Nguyễn Khắc Trương, doanh nhân  
Lê Văn Gồng, doanh nhân Nguyễn Văn Kiêu, nghị  
viên Nguyễn Văn ơm, doanh nhân Lê Kim Danh,  
nghị viên Lê Quang Liêm, doanh nhân Võ ành  
Liêm [25, tr.233].  
lòng muốn giúp 4vốn mở ngân hàng và giao cho viên  
quản lý người Pháp trông coi hoạt động kinh doanh.  
Qua đó, có thể thấy nhóm vận động dự án thành lập  
Việt Nam Ngân hàng năm 1919 muốn dựa vào một  
phần tài lực của giới tư sản Pháp để cạnh tranh với  
Hoa kiều. Sức mạnh về kinh tế của giới tinh hoa bản  
xứ năm 1919 vẫn chưa đủ để họ tự tin tranh thương  
một cách độc lập và sòng phẳng với Hoa kiều. Tuy  
nhiên dự án Việt Nam Ngân hàng lần này của nhóm  
Lê Văn Mầu không thành công, phải mất 8 năm sau  
nó mới thành hiện thực.  
Việt Nam Ngân hàng năm 1927 ra đời: sự  
kết hợp giữa sức mạnh kinh tế và tinh thần  
dân tộc của giới tinh hoa người Việt  
Sau lời kêu gọi thành lập Việt Nam Ngân hàng năm  
1919, giới tinh hoa người Việt ở Nam kì không ngừng  
phát triển về lực lượng cũng như thực lực về kinh tế  
và chính trị. Chiến tranh thế giới thứ I (1914-1918)  
khiến hàng hóa của Pháp không thể qua Đông Dương  
như trước đó nên người Pháp buộc lòng để các thế  
lực kinh tế bản xứ tạm thời lấp vào chỗ trống trên  
thị trường. Qua đó, giới tinh hoa bản xứ từng bước  
được củng cố cả về kinh tế lẫn chính trị. Cuộc tẩy  
chay Khách trú năm 1919 là một minh chứng cho  
sự phát triển về tinh thần dân tộc của giới tinh hoa  
bản xứ. Lúc này Nam kì, nơi diễn ra quá trình thuộc  
địa hóa và Tây hóa mạnh mẽ nhất, quy tụ một thế hệ  
tinh hoa thụ hưởng nền văn hóa phương Tây ở bản  
xứ hoặc từ Pháp về. Sự xuất hiện của những cái tên  
như Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Nguyễn  
Phú Khai, Nguyễn Háo Vĩnh, Nguyễn An Ninh, Lê  
Quang Trinh, Nguyễn Tấn Dược, Trịnh Đình ảo,  
Tạ u âu, … khiến cho đời sống công cộng ở Nam  
kì diễn ra sôi nổi trên báo chí và cả nghị trường. Từ  
năm 1921, Nhóm Lập hiến do Bùi Quang Chiêu đứng  
đầu đã vận động cải tổ chế độ bầu cử và cơ cấu Hội  
đồng Quản hạt Nam kì. Kết quả trong cuộc bầu cử  
năm 1922, cử tri đoàn người Việt tăng từ 10.000 lên  
Một lần nữa cái tên Việt Nam Ngân hàng được sử  
20.000 người, ủy viên Hội đồng người Việt tăng lên 10 dụng. Có thể thấy, tinh thần dân tộc đã là một động  
người [22, tr.361-362]. Nguyễn Phan Long trở thành lực rất quan trọng thôi thúc giới tinh hoa người Việt  
người Việt đầu tiên giữ chức Phó Nghị trưởng Hội ở Nam kì thành lập một cơ sở tín dụng hoàn toàn độc  
đồng Quản hạt Nam kì. Không chỉ vậy, kế hoạch lập với tư sản ngoại kiều, nhất là trong bối cảnh chính  
độc quyền cảng Sài Gòn của người Pháp cũng thất bại trị - xã hội đặc biệt của năm 1926. Lời kêu gọi góp vốn  
979  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
của Việt Nam Ngân hàng trên Đông Pháp thời báo đã một trong những doanh nhân người Việt thành công  
thể hiện rất rõ điều này:  
“ưa đồng bào,  
nhất trên cả thương trường lẫn chính trường ở Nam  
kì31e. Trong khi đó cả Nguyễn Hữu Hào và Lê Phát  
Việt Nam Ngân hàng là nhà ngân hàng chung cho cả An đều là thành viên của gia tộc Lê Phát Đạt, một đại  
dân tộc Việt Nam chớ chẳng phải là nhà ngân hàng gia tộc giàu có và quyền thế nhất nhì ở Nam kì về sau  
của một số ít người trong xã hội nên ai là người Việt trở thành thông gia với hoàng gia triều Nguyễn khi  
Nam cũng đều có cái bổn phận giúp đỡ vào công cuộc Nguyễn Hữu ị Lan được gả cho hoàng đế Bảo Đại.  
sáng lập Việt Nam Ngân hàng vậy.  
Sự xuất hiện và tính tiếp nối của những thế lực kinh  
Anh em nên nhớ rằng việc làm giàu là việc tối khẩn tế - chính trị lớn ở Nam kì trong hai dự án Việt Nam  
cho một dân tộc hèn yếu như dân tộc Việt Nam ta Ngân hàng năm 1919 và 1927 đã phản ánh ý chí và nỗ  
ngày nay; trong lưng không sẵn đồng tiền, thì thế ta lực mong muốn có một ngân hàng đầu tiên của người  
phải bó gói khoanh tay chớ chưa dễ mong gì đến tự Việt đồng thời cũng là bảo chứng về uy tín cho hoạt  
động tín dụng của công ty (xem thêm Hình 2).  
do độc lập!  
Về hoạt động kinh tế, nhờ ra sức kêu gọi, đánh vào tâm  
lý ngân hàng đầu tiên của người Việt, Việt Nam Ngân  
hàng kinh doanh khá hiệu quả. Trong ba năm đầu  
tiên 1928; 1929 và 1930, lợi nhuận kinh doanh từng  
năm so với số vốn ban đầu của Ngân hàng này lần  
lượt là 7,28% (1928); 15,26% (1929) và 18,84% (1930)  
Vả lại, thời buổi này là thời buổi cần phải hành động;  
anh em thử liếc mắt chung quanh ta thì thấy các nước  
người ta đều cạnh tranh xô xát, hoạt động tưng bừng,  
nếu chúng ta muốn tránh cho khỏi cái họa diệt chủng  
vong gia, thì há cứ ngồi y mà “nói dóc”?” [26, tr.2]  
Nhóm vận động thành lập Việt Nam Ngân hàng kêu  
gọi góp vốn tại Ngân hàng Đông Dương và các chi  
nhánh tại Sài Gòn, Cần ơ, Đà Nẵng, Hải Phòng,  
Phnom Penh hoặc nhà in Union của Nguyễn Văn Của  
ở Sài Gòn.  
Sau một thời gian kêu gọi góp vốn, ngày 24 và ngày  
25/8/1927, hội nghị lần thứ hai được triệu tập đánh  
dấu sự ra đời của Việt Nam Ngân hàng và thông qua  
danh sách ban quản trị gồm có Trần Trinh Trạch làm  
chủ tịch, Nguyễn Tấn Văn phó chủ tịch và Nguyễn  
Văn Của làm quản lý ủy viên; ban quản lý gồm: Trần  
Trinh Trạch, Nguyễn Văn Của, Trương Tấn Vị, Ngô  
Trung Tính, Nguyễn Tấn Văn, Nguyễn Văn ơm,  
Nguyễn Hữu Đỏ, Võ Hà Trị [29, tr.2]. Việt Nam Ngân  
hàng chính thức khai trương hoạt động kể từ ngày  
01/9/1927.  
So với lời kêu gọi năm 1919, Việt Nam Ngân hàng đã  
chính thức thành lập và hoàn toàn do người Việt làm  
chủ và điều hành, phản ánh sự trưởng thành và sức  
mạnh kinh tế của giới tinh hoa bản xứ. Đồng thời,  
qua danh sách thành viên ban quản trị của Việt Nam  
Ngân hàng năm 1927 có thể thấy sự xuất hiện của  
các nhân vật, thế lực kinh tế lớn của người Việt đã  
từng tham gia vào dự án Việt Nam Ngân hàng năm  
1919 như Nguyễn Văn Của, gia tộc của Lê Phát Đạt  
hoặc là người có tài lực lớn như Huỳnh Đình Khiêm,  
Trần Trinh Trạch. Huỳnh Đình Khiêm là nghiệp chủ  
lớn ở Gò Công, góp cho Việt Nam Ngân hàng 30.000  
đồng để lập hội, do đó được cử làm Chánh danh dự  
hội trưởng [30, tr.3] còn Trần Trinh Trạch là đại điền  
chủ nức tiếng ở Bạc Liêu. Nguyễn Văn Của là một  
công chức thuộc địa ở Sài Gòn đã đứng ra thành lập  
tờ Nam Trung nhựt báo vào năm 1917, mua lại nhà in  
Union của Nguyễn Văn Viết vào năm 1918 và tờ Lục  
tỉnh tân văn năm 1919. Nguyễn Văn Của trở thành  
[
32, tr.3]. Đến tháng 6 năm 1930, số tiền gửi vào Ngân  
hàng là 826.783,62 đồng, gấp 3,01 lần so với năm đầu  
tiên hoạt động [32, tr.11]. Nhờ vào hiệu quả kinh  
doanh, ban quản trị của Công ty tín dụng An Nam  
còn mạnh dạn mở thêm Việt Nam Công ty bảo hiểm  
xe hơi vào năm 1929 với số vốn là 200.000 đồng; mở  
chi điếm ở Vĩnh Long ngày 01/6/1930; gọi vốn thành  
lập công ty Việt Nam Bất động sản năm 1931. Ngay  
sau khi ra đời, thực lực kinh tế và khả năng quản lý của  
những người sáng lập, điều hành Việt Nam Ngân hàng  
như được thử thách khi đối mặt với cuộc khủng hoảng  
kinh tế thế giới giai đoạn 1929-1933. Một loạt các biện  
pháp thắt chặt quản lý được đưa ra như đóng cửa chi  
nhánh ở Vĩnh Long trong năm 1931 [30, tr.5]; đình lại  
dự án thành lập công ty Việt Nam Bất động sản trong  
năm 1932 khi đã kêu gọi được một lượng vốn nhất  
định [33, tr.10]. Lợi nhuận của công ty trong thời kì  
khủng hoảng cũng bắt đầu đi xuống (xem Hình 3).  
Tuy nhiên trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp phải  
phá sản, thua lỗ nhưng hoạt động kinh doanh của Việt  
Nam Ngân hàng vẫn thu về lợi nhuận đã cho thấy sức  
sống của tổ chức này cũng như khả năng lèo lái vượt  
qua khủng hoảng của ban quản trị Việt Nam Ngân  
hàng.  
Sau khi kinh tế Đông Dương thoát khỏi quỹ đạo  
khủng hoảng, tình hình kinh doanh của Việt Nam  
Ngân hàng dần phục hồi. Hoạt động kinh doanh của  
Việt Nam Ngân hàng đến năm 1942 vẫn đem lại lợi  
nhuận dù gặp nhiều khó khăn kể từ khi Nhật vào  
Đông Dương, cụ thể xem Bảng 1.  
Mang tinh thần dân tộc cao độ, ban quản trị Việt Nam  
Ngân hàng cũng tích cực tham gia các hoạt động xã  
eTới năm 1930, Nguyễn Văn Của không còn đứng tên trong ban  
quản trị của Việt Nam Ngân hàng.  
980  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
Hình 2: Thông tin ban quản trị Việt Nam Ngân hàng qua tài liệu hội đồng thường niên năm 192827 và mẫu quảng  
cáo Việt Nam Ngân hàng trên tờ Tân văn năm 1935 [28, tr.10].  
Hình 3: Tình hình lợi nhuận của Việt Nam Ngân hàng giai đoạn 1929-1933 (đơn vị: đồng Đông Dương). Nguồn:  
Tổng hợp từ các báo cáo đại hội thường niên Việt Nam Ngân hàng năm 1930 [32, tr.3], 1931 [30, tr.11], 1932 [33  
tr.15], 1933 [34, tr.13].  
,
981  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
Bảng 1: Tình hình kinh doanh của Việt Nam Ngân hàng trong giai đoạn 1938-1942 [35, p. 403-404].  
Lãi ròng  
Tổng cổ tức  
Cổ tức ròng  
(nghìn đồng)  
(nghìn đồng)  
Tổng  
Mỗi cổ phiếu (đồng)  
(nghìn đồng)  
1938-1939  
1939-1940  
1940-1941  
1941-1942  
29  
22,2  
22,9  
17,2  
15,6  
20,0  
20,0  
15,0  
12,5  
2,0  
29,9  
27,2  
21,9  
2,0  
1,5  
1,25  
hội do giới tinh hoa người Việt phát động. Năm 1929, Ngân hàng đã cho thấy tính chất gắn kết giữa hoạt  
tờ Phụ nữ tân văn của vợ chồng thương gia Nguyễn động kinh doanh với thúc đẩy sự tiến bộ của người  
Đức Nhuận vừa ra đời đã phát động thành lập Quỹ Việt thời thuộc địa.  
học bổng Phụ nữ Việt Nam. Trong bài “Phất cờ bác Tuy nhiên, dẫu ghi nhận cố gắng thành lập và duy trì  
ái”, ban biên tập Phụ nữ tân văn đã kêu gọi:  
hoạt động của nhóm vận động và quản trị Việt Nam  
“Chúng tôi quả quyết nói lớn rằng: có một cách cứu Ngân hàng, một thực tế phải thừa nhận rằng nếu so  
vớt, một cách lo liệu: cứu vớt bằng sự giáo dục, lo liệu sánh với các ngân hàng của giới tài chính người Pháp  
cho việc giáo dục được hoàn toàn, được ích lợi….  
và Hoa thì thực lực kinh tế của Việt Nam Ngân hàng  
Chúng tôi tuy tài hèn sức mọn, song nếu đồng bào cho còn hết sức khiêm tốn. Không tính đến Ngân hàng  
lời bày tỏ trên này là phải, thì chúng tôi dám quả quyết Đông Dương, các ngân hàng, công ty tài chính khác có  
với đồng bào rằng: trong hạn 90 ngày, chúng tôi đã có mặt ở Việt Nam thời thuộc địa đều có số vốn huy động  
thể lập học bổng cho học sinh nghèo được đi du học.” lớn hơn rất nhiều so với Việt Nam Ngân hàng như  
[
36, tr.17]  
Ngân hàng Chartered (75 triệu francs), Trung Pháp  
Hưởng ứng lời kêu gọi của báo Phụ nữ tân văn, Việt Công thương ngân hàng (50 triệu francs), công ty tín  
Nam Ngân hàng cũng ra thông cáo cho vay lâu dài, dụng d’Extrême-Orient (3,3 triệu francs)…39. Dù rất  
giao tiền theo từng đợt để giúp học sinh người Việt  
đi du học ở nước ngoài. Người vay có thể về nước trả  
một lần hay trả góp theo tháng. Số lượng cho vay dự  
kiến là 20 người xét hồ sơ từ tháng 2/1929 [37, tr.8].  
Một vài thành viên trong ban quản trị, điều hành Việt  
Nam Ngân hàng cũng tham gia hội đồng tuyển chọn  
học bổng như Nguyễn Văn Của, Nguyễn Tấn Văn.  
Trong số 20 thí sinh tham dự xét tuyển học bổng, hai  
học sinh Nguyễn Hiếu ở ái Bình và Lê Văn Hai ở  
ủ Dầu Một cùng đạt số điểm như nhau nên cả hai  
cùng nhận học bổng sang Pháp. Nguyễn Hiếu sang  
Paris học tại trường Trung học Janson de Sailly còn  
Lê Văn Hai thì học ở tỉnh Bordeaux [38, tr.7].  
nỗ lực nhưng tiềm lực tài chính của Việt Nam Ngân  
hàng còn hạn chế, có khoảng cách quá lớn so với các  
công ty tài chính, ngân hàng ngoại quốc. Công ty tín  
dụng An Nam cũng chỉ có hội sở ở Sài Gòn từ khi chi  
điếm ở Vĩnh Long đóng cửa (1931). Ngân hàng này  
tiếp tục hoạt động ở Nam kì sau khi chế độ thuộc địa  
kết thúc vào năm 1945 (xem Hình 4).  
KẾT LUẬN  
Từ một cộng đồng thích ứng chậm với những thay  
đổi do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mang  
lại, trong vòng 3 thập niên đầu của thế kỷ XX, nhiều  
cuộc vận động, kêu gọi người Việt thay đổi tư duy  
và sinh hoạt kinh tế đã diễn ra ở Nam kì. Để có thể  
mở rộng sản xuất, đầu tư thiết bị máy móc sản xuất,  
việc vay vốn từ các tổ chức tài chính chuyên nghiệp là  
một khuynh hướng tất yếu. Tuy nhiên, ở lĩnh vực tài  
chính, giới doanh nhân ngoại kiều đều thâu tóm và  
Không chỉ dừng lại ở đây, để hỗ trợ học sinh du học ở  
Pháp, Việt Nam Ngân hàng còn phối hợp với nhà đại  
lý Comptoir National d’Escompte de Paris ở các địa  
phương Pháp cho các du học sinh đến lãnh tiền sinh  
hoạt gia đình gửi cho Việt Nam Ngân hàng ở Sài Gòn.  
ể thức cho học sinh du học vay sang Pháp cũng kiểm soát chặt chẽ. Đến đầu thế kỷ XX, tài chính vẫn  
được công ty bổ sung và hoàn thiện thành một hạng là một vùng trũng trong đời sống kinh tế của người  
mục kinh doanh chính thức với nhiều ưu đãi riêng Việt.  
biệt như hạn mức vay tối đa 8.000 đồng trong vòng Trước thực tế đó, sự ra đời của hội nông nghiệp tương  
10 năm; được trả chậm 1 năm sau ngày tổng kết tiền tế ở Nam kì và nhất là Việt Nam Ngân hàng (1927) đã  
vay để người học có thời gian tiền kiếm công việc… cho thấy sự nỗ lực rất lớn của người Việt để thoát khỏi  
[
33, tr.19-21]. Như vậy, ngay từ khi ra đời, Việt Nam hạn chế này. Một chặng đường rất dài và gian nan từ  
982  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
Hình 4: Trụ sở của Việt Nam Ngân hàng ở Sài Gòn thập niên 1950 qua bưu ảnh của Pháp40  
sự ra đời đầu tiên của nông nghiệp tương tế hội ở Mỹ  
o (1912) đến hailầnvận độngkêugọi thành lập Việt  
Nam Ngân hàng năm 1919 và 1927. Chặng đường này  
diễn ra đồng thời và song song với sự trưởng thành,  
lớn mạnh của giới tinh hoa người Việt ở Nam kì. Việt  
Nam Ngân hàng chính thức ra đời năm 1927 là sự kết  
tinh của tinh thần dân tộc đang dâng cao và sức mạnh  
kinh tế qua quá trình tích lũy lâu dài của giới điền  
chủ, doanh nhân cũng như sự kêu gọi của giới trí thức  
người Việt. Nhưng trên một bình diện rộng lớn hơn  
của nền tài chính Việt Nam thời thuộc địa, các cơ sở  
tài chính của người Việt như Việt Nam Ngân hàng vẫn  
còn hết sức khiêm tốn nếu so với các ngân hàng, công  
ty tài chính ngoại quốc./.  
2. Daniel L. The Chinese, the Indians and the French Exchange  
control during the French Indochinese war or how to endure,  
fight and mock the Colonial Power (1945-1954), Essays on  
colonial domination and Asian agency, Finland: Amsterdam  
University Press. 2009;.  
3. Hongkong Daily Press. The Directory & Chronicle for China,  
Japan, Corea, Indochina, Straits Settlements, Malay states,  
Siam, Netherlands India. Borneo, The Philippines, &c for the  
year 1912. Hong Kong: The Hongkong Daily Press Office.  
1912;.  
4. Hai C. Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam. Hà Nội:  
Khoa học Xã hội. 1992;.  
5. Anh DD. Việt Nam văn hóa sử cương, Quan Hải Tùng thư, Huế:  
Imprimerie du Mirador. 1938;.  
6. Binh PK. Việt Nam phong tục. Hà Nội: Văn học. 2005;.  
7. Quang TM. Lịch sử tiền trang, TP.HCM: Trẻ. 2001;.  
8. Tu TD. Thượng trường bại tích. Trong: Minh Tân tiểu thuyết.  
Sài Gòn: Phát Toán. 1907;.  
9. Nam Phong tạp chí. 1919;20:129 –130.  
10. Nông nghiệp tương tế hội Sa Đéc. Sa Đéc Nông nghiệp tương  
tế hội Điều lệ. Sa Đéc: Nguyễn Duy Minh. 1930;.  
11. Trung PQ. Tổ chức Nông tin tương hỗ ở Nam kỳ trong thời  
Pháp thuộc. Trong: Viện Sử học. Nông dân và nông thôn Việt  
Nam thời cận đại, Hà Nội: Khoa học Xã hội. 1993;.  
12. Long NP - Duoc NT. Khảo cứu về tờ giao ước nhượng quyền  
vận tải lúa, gạo, cám và bắp trong Thương khẩu Saigon-  
Cholon. Sài Gòn: J. Nguyễn Văn Viết. 1924;.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
Bài viết không có từ viết tắt.  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Bài báo này không có xung đột lợi ích.  
13. Nông nghiệp Tương tế và Nông nghiệp Tương tế Ngân hàng  
Hội Rạch Giá. Tờ phúc trình chung niên năm. Sài Gòn: Xưa Nay.  
1926;.  
14. Gia Định Canh nông ngân hàng tương tế hội. Sách chung niên  
1929. Sài Gòn: Đức Lưu Phương. 1929;.  
15. Hội Bổn quốc nông nghiệp tương tế Ngân hàng Cần Thơ. Tờ  
kiết chứng đại hội nhóm ngày 5 Février 1931. Cần Thơ. An Hà.  
1931;.  
16. Hội Nông nghiệp tương tế Vĩnh Long. Nông nghiệp tương tế  
hội và nông nghiệp tương tế ngân hàng tỉnh Vĩnh Long: Tờ  
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
Tác giả đã xử lý các tài liệu hoạt động do Việt Nam  
Ngân hàng ấn hành trong thời gian hoạt động, cũng  
như các tài liệu báo chí đương thời. Từ nguồn tài liệu  
này, tác giả đã xử lý các dữ liệu liên quan để thực hiện  
việc nghiên cứu của mình.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Khanh NV. Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-  
1945). Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội. 1999;.  
983  
                             
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):975-985  
kiết chứng đại hội Vĩnh Long. Sài Gòn: J. Nguyễn Văn Viết, Sài  
Gòn. 1927;.  
30. Công ty tín dụng An Nam. Đại hội đồng thường niên của công  
ty Việt Nam Ngân hàng năm 1931. Sài Gòn: Đức Lưu Phương.  
1931;.  
31. Cua NV. 2019;Available from: http://entreprises-coloniales.fr/  
32. Công ty tín dụng An Nam. Đại hội đồng thường niên năm thứ  
3 của công ty Việt Nam Ngân hàng năm 1930. Sài Gòn: Đức  
Lưu Phương. 1930;.  
17. Muu LH. Khách trú thị nhục ta. báo Lục tỉnh tân văn. 1919;.  
18. Peycam PMF. Làng báo Sài Gòn 1916-1930, TP.HCM: Trẻ. 2015;.  
19. Nghiep BC. Hoạt động kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam  
đầu thế kỷ XX qua dòng báo chí kinh tế Hà Nội, Luận văn Thạc  
sĩ Lịch sử, ĐH KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội. 2014;.  
20. Phụ nữ tân văn. 1930;41:10.  
21. Nam Phong tạp chí. 1919;28:314.  
33. Công ty tín dụng An Nam. Đại hội đồng thường niên của công  
ty Việt Nam Ngân hàng năm 1932. Sài Gòn: Đức Lưu Phương.  
1932;.  
34. Công ty tín dụng An Nam. Đại hội đồng thường niên của công  
ty Việt Nam Ngân hàng năm 1933. Sài Gòn: Đức Lưu Phương.  
1933;.  
22. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. Tổ chức bộ máy các cơ quan  
trong chính quyền thuộc địa ở Việt Nam qua tài liệu và tư liệu  
lưu trữ (1862-1945). Hà Nội: Hà Nội. 2013;.  
23. Rieu ND. Phan Châu Trinh lịch sử quốc gia huyết lệ. Sài Gòn:  
Xưa Nay. 1926;.  
24. Hồ Chí Minh. Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản về phong trào  
cách mạng ở An Nam. Trong: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3. Hà  
Nội: Chính trị Quốc gia. 2011;.  
35. Direction des Services Économiques de L’Indochina. Bulletin  
économique de l’Indochine. fascicule 3. Hà Nội: d’Extrême  
Orient. 1943;.  
25. Hiep ND. Lịch sử doanh nghiệp và công nghiệp ở Sài Gòn và  
Nam kì từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945. TP.HCM: Tổng hợp  
TP.HCM. 2018;.  
36. Phụ nữ tân văn. 1929;3:17.  
37. Phụ nữ tân văn. 1929;18:8.  
38. Phụ nữ tân văn. 1929;68:7.  
26. Đông Pháp thời báo. 1927;567:2.  
39. ;Available from: www.entreprises-coloniales.fr.  
27. Công ty tín dụng An Nam. Tình hình hoạt động công ty năm  
1928. Sài Gòn: Xưa Nay. 1928;.  
40. ;Available from:  
28. Báo Tân văn. 1935;42:10.  
29. Báo Tiếng dân. 1927;11(2).  
984  
                                               
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(1):975-985  
Research Article  
Open Access Full Text Article  
Efforts of the Vietnamese in finance sector in Cochinchina during  
the colonial period: the case of Vietnam Bank (Société annamite  
de crédit)  
Vo Phuc Toan*  
ABSTRACT  
In feudal society, Vietnamese spent the most care on study Confusim to become courting and  
agriculture production. Trade and handicrafts were considered secondary in the economic think-  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
ing of Vietnamese. When capitalism followed France's conquest path into Vietnam, Vietnamese  
became a community that adapted slowly to change in the economy. Among difficulties of the  
reforming thinking and economic activities process, the finance sector was considered the most re-  
strictive field of Vietnamese. In 1912, the Association of Mutual Agriculture was born in Cochinchina  
became the first experiment of Vietnamese in the finance sector. However, due to the limited fi-  
nancial potential, these agricultural associations depend on loans from Indochina Bank. In 1919,  
with the rising national spirit in the movement to boycott Chinese overseas, the plan to set up  
a financial association named the Vietnam Bank had appeared but was unsuccessful. Eight years  
later, the first bank of Vietnamese, still called by Vietnam Bank (Société annamite de crédit), was  
established, reflecting Vietnamese's efforts to build an independent financial association from for-  
eign entrepreneurs. This result is a combining economic strength and national spirit rising in the  
patriotic movement of indigenous elites in the late 1920s.  
Key words: the Association of Mutual Agriculture, Vietnam Bank (Société annamite de crédit),  
Cochinchina, indigenous elites, nationlism  
University of Social Sciences &  
Humanities, VNU-HCM, Vietnam  
Correspondence  
Vo Phuc Toan, University of Social  
Sciences & Humanities, VNU-HCM,  
Vietnam  
Email: [email protected]du.vn  
History  
• Received: 3/11/2020  
• Accepted: 17/3/2021  
• Published: 31/3/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i1.651  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Toan V P. Efforts of the Vietnamese in finance sector in Cochinchina during the  
colonial period: the case of Vietnam Bank (Société annamite de crédit). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci.  
Hum.; 5(1):975-985.  
985  
pdf 11 trang yennguyen 16400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Những nỗ lực của người Việt trong lĩnh vực tài chính ở Nam kì thời thuộc địa: Trường hợp Việt Nam ngân hàng (Société annamite de crédit)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnhung_no_luc_cua_nguoi_viet_trong_linh_vuc_tai_chinh_o_nam_k.pdf