Tang lễ của người Khmer theo Phật giáo Nam tông ở tỉnh An Giang hiện nay

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
TANG LỄ CỦA NGƯỜI KHMER THEO PHẬT GIÁO NAM TÔNG  
Ở TỈNH AN GIANG HIỆN NAY  
y Nguyễn Thị Hoàng Phượng(*)  
Tóm tắt  
Tang lễ là một nghi lễ trong chuỗi nghi lễ vòng đời con người của nhiều dân tộc trên thế giới.  
Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến tang lễ của người Khmer An Giang theo Phật giáo Nam  
tông từ các nghi thức diễn ra trong quá trình tiến hành tang lễ đến các nghi thức thờ cúng sau đám  
tang. Bài viết còn đề cập đến một số biến đổi trong tang ma và tục thờ cúng người chết của người  
Khmer An Giang hiện nay.  
Từ khóa: Tang lễ, Phật giáo Nam tông, Khmer An Giang.  
1. Đặt vấn đề  
Xác định văn hóa không chỉ là nền tảng tinh trong tang ma  
2.1. Sơ lược về người Khmer An Giang  
2. Người KhmerAn Giang và các nghi thức  
thần của xã hội, của dân tộc mà còn là mục tiêu,  
động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước  
nên Đảng và Nhà nước ta đưa ra hàng loạt các Chỉ  
thị, Nghị quyết, Quyết định, nhằm bảo tồn và phát  
huy những phong tục, tập quán truyền thống của  
các dân tộc, cụ thể như: Tại Điều 5 của Hiến pháp  
năm 1992 có nêu: “Các dân tộc có quyền dùng  
tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát  
huy những phong tục, tập quán, truyền thống văn  
hóa tốt đẹp của mình”; Nghị quyết Hội nghị Ban  
chấp hành Trung ương lần thứ VII (khóa IX) nêu  
rõ: “Giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn  
hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự  
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt  
Nam thống nhất”; Quyết định số: 1270/QĐ-TTg  
của Thủ tướng Chính phủ, ngày 27 tháng 07 năm  
2011 về việc: Phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển  
văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm  
2020”; Chỉ thị số: 194/CT-BVHTTDLcủa Bộ Văn  
hóa, Thể thao và Du lịch ra ngày 20 tháng 10 năm  
2011 về việc: Triển khai thực hiện Đề án “Bảo  
tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt  
Nam đến năm 2020”. Như vậy, việc nghiên cứu  
và bảo tồn phát huy văn hóa truyền thống của các  
dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong đó có dân tộc  
Khmer An Giang theo Phật giáo Nam tông qua lễ  
tang là thực hiện đúng tinh thần “tốt đời, đẹp đạo”  
góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa truyền  
thống của dân tộc Việt Nam vốn “thống nhất trong  
sự đa dạng”, phù hợp chủ trương của Đảng và chính  
sách Nhà nước ta hiện nay.  
Về nguồn gốc: Người KhmerAn Giang là một  
bộ phận thuộc Khmer Đồng bằng sông Cửu Long  
(ĐBSCL). Khi bàn về nguồn gốc của người Khmer  
ĐBSCL, một số nhà nghiên cứu đưa ra những giả  
thuyết như sau:  
Giả thuyết thứ nhất: “Người Khmer ĐBSCL  
và người Khmer Campuchia có chung một nền  
văn hóa và nguồn gốc lịch sử giống nhau. Người  
Khmer đến sinh sống ở vùng ĐBSCL khoảng thế  
kỷ X - XII” [9, tr. 2]; Giả thuyết thứ hai: “Người  
Khmer ở vùng ĐBSCL gốc vốn là tộc người Văh  
Năh (Phù Nam)” [5, tr. 26]; Giả thuyết thứ 3:  
“Người Khmer ĐBSCL có hai nguồn gốc: Người  
Khmer sống ở vùng đồi núi có nguồn gốc từ Khmer  
Campuchia (Chân Lạp) và người Khmer sống ở  
vùng đồng bằng, ven biển có nguồn gốc từ người  
Phù Nam. KhmerAn Giang (đại diện Khmer vùng  
núi), Khmer tỉnh Sóc Trăng (đại diện Khmer vùng  
biển)” [8, tr. 56].  
Có thể nói, những giả thuyết trên đã góp phần  
làm phong phú thêm hoạt động nghiên cứu về  
nguồn gốc của người Khmer ở ĐBSCL nói chung,  
người Khmer An Giang nói riêng.  
Tính đến tháng 7/2018 “Dân số toàn tỉnh An  
Giang có 2.159.859 người. Ngoài dân tộc Kinh  
chiếm đa số còn có 28 dân tộc thiểu số với 119.219  
người (Trong đó Khmer là 93.717 người; Chăm  
15.327 người; Hoa có 10.079 người và 25 dân tộc  
thiểu số khác với tổng số 96 người)” [1, tr. 1].  
Về tôn giáo: Người Khmer An Giang hầu hết  
theo Phật giáo Nam tông (chỉ có một số theo đạo  
Công Giáo hoặc Tin Lành). Điều đáng lưu ý là,  
(*) Trường Đại học An Giang.  
48  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
khác với Phật giáo Nam tông của người Khmer  
Trong nhà có người sắp chết thì gia đình  
các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, Cần Thơ lập bàn thờ Phật và mỗi buổi tối mời Acha Duky  
hay Vĩnh Long thì Phật giáo Nam tông của người (người hướng dẫn làm nghi thức tụng kinh cho  
Khmer An Giang có hai hệ phái: Mahanikay và người đang hấp hối) đến tụng kinh Kok salla. Mục  
Thommazut, còn các tỉnh kể trên chỉ có một đích tụng kinh này là để người đang hấp hối giải  
phái Mahanikay. Theo số liệu thống kê của Ban hết nghiệp chướng đang mang và tâm trí luôn  
Tôn giáo tỉnh An Giang năm 2018, trên địa bàn hướng về Đức Phật.  
toàn tỉnh An Giang “Có 66 chùa theo Phật giáo  
Nam tông (trong đó có 19 chùa theo chi phái  
b. Khi tắt thở (Chết)  
Khi đang tụng kinh Kok salla mà người thụ  
Thommazut và 47 chùa theo chi phái Mahanikay). kinh tắt thở, Acha Duky chuyển sang tụng kinh  
Riêng, ở huyện Tri Tôn có 37 chùa (08 chùa Apithom. Ý nghĩa của kinh này là khuyên mọi  
Thommazut); huyện Tịnh Biên 24 chùa (09 chùa người cố tu tâm, tịnh diệt, trong lòng giữ gìn chánh  
Thommazut); huyện Châu Thành 03 chùa (02 đạo. Kinh Apithom đọc đi đọc lại nhiều lần để  
chùa Thommazut); huyện Châu Phú 01 chùa; người vừa tắt thở ra đi thanh thản, không lưu luyến  
huyện Thoại Sơn 01 chùa. Trong đó, các Chư gì về kiếp sống trần gian. Tục lệ đọc kinhApithom  
tăng có 895 vị (09 Hòa thượng, 13 Thượng tọa, xuất phát từ câu chuyện cổ của Phật giáo Nam tông:  
66 Ban Quản trị Achar, 370 vị Achar, số còn lại “Ngày xưa, có 500 đệ tử của Pras Sêrây Poth, lúc  
gồm: Tùy Khưu, Thức Xoamana, Sadi)” [2, tr. 2]. đương thời làm nhiều điều độc ác, nên khi chết đi  
Phật giáo Nam tông có mặt ở ĐBSCL nói họ đầu thai thành 500 con dơi cùng sống chung  
chung và An Giang nói riêng từ rất lâu đời và chỉ trong một hang núi. Một hôm, Pras Chetha Puth  
có một giáo phái đó là Mahanikay. Đến “Cuối thế đi vào hang núi đó và tụng kinhApithom, 500 con  
kỷ XIX, có một vị trưởng lão tên Preah Saukonn dơi chăm chú nghe đến nổi không hay biết quả núi  
bất mãn trong tăng đoàn, bỏ sang Thái Lan tu sắp đổ. Quả nhiên, núi đổ và đè chết 500 con dơi  
hành và thành lập giáo hội Thommazut, nghĩa là mà bên tai chúng vẫn văng vẳng nghe tiếng kinh  
"chánh pháp”. Sau đó, Ngài về Campuchia truyền Apithom. Sau khi chết, 500 con dơi đều đầu thai  
bá giáo phái đó vào năm 1864. Điểm đặc biệt của thành con người. Trở lại kiếp người, họ biết thức  
phái này là được Hoàng gia Campuchia ủng hộ tỉnh, chỉ làm điều lành, tránh điều ác, khổ luyện  
và khi xuất gia họ cũng chọn giáo phái này. Vì tu tâm, dưỡng tính và đi tu, họ trở thành chánh  
thế, Thommazut, trở thành một giáo phái quan quả” [3, tr. 98].  
trọng. Vào năm 1900, Hoàng gia Campuchia cử  
Sau khi tắt thở, thi hài được đặt trên giường,  
một nhà sư thuộc giáo phái Thommazut sang Việt đầu quay về hướng Đông (hệ phái Mahanikay).  
Nam truyền đạo và ủng hộ những ngôi chùa nào Phái này quan niệm, nếu đặt đầu quay về hướng  
chấp nhận bỏ giáo phái Mahanikay theo giáo phái Tây sẽ không tốt cho con cháu trong công việc làm  
của mình” [7, tr. 65-66]. Hai phái Thommazut ăn sau này, vì hướng Tây là hướng của điềm xấu.  
và Mahanikay của Phật giáo Nam tông ở tỉnh An Còn hệ phái Thommazut đặt người chết quay mặt  
Giang xuất phát từ hai tầng lớp khác nhau. Phái vào nhà (không phân biệt hướng Tây hay Đông mà  
Thommazut thuộc Hoàng gia, phái Mahanikay tùy thuộc vào cửa chánh của ngôi nhà).  
thuộc tầng lớp bình dân nhưng về kinh điển và  
Công việc kế tiếp là gia đình cử người đến  
nghi lễ phần nhiều hoàn toàn giống nhau. Riêng về chùa và mang theo Chong thbau ung (là một cái  
hình thức thì có một số điểm dị biệt. Tuy nhiên ở thúng, bên trong thúng chứa từ 02 đến 03 lít gạo,  
bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến lễ tang của người 01 cái nồi đất, 01 cái đèn cóc, bốn bộ chén đĩa  
Khmer An Giang.  
2.2. Các nghi thức trong tang ma của người trước là thông báo với sư sãi trong gia đình có  
Khmer An Giang theo Phật giáo Nam tông người qua đời, sau là trình với sư sãi đây là lễ vật  
2.2.1. Các nghi thức tiến hành trong tang lễ của người chết mang theo về thế giới bên kia để  
(ăn cơm), 01 trái dừa khô bóc vỏ, 2m2 vải trắng),  
a. Khi lâm chung (Trước khi tắt thở)  
sử dụng. Sau đó, người ở chùa đánh 03 hồi trống/  
49  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
chiêng với mục đích thông báo cho người trong thẳng chân rồi phủ kín vải trắng (Rumsa) từ đầu  
Phum, Sóc biết có người qua đời. Ngoài ra, để mọi đến chân. Muốn quàng người chết lâu ngày, tử thi  
người nhận biết dễ dàng hơn, phía trước nhà tang phải quấn thêm một lớp vải dầu hay vải cao su và  
chủ người ta dựng cây cờ tang. Sau khi nhận tin từ lót trấu hay trà, hoa nhằm để hút nước, tránh mùi  
03 hồi trống/chiêng của chùa, mọi người sắp xếp hôi phát ra từ tử thi. Ngoài ra, người ta để trên bụng  
công việc đến chia buồn và giúp đỡ gia đình có người chết một nải chuối xanh (chuối sống). Việc  
tang. Người Khmer đến cúng, viếng thường cúng để nải chuối xanh có nhiều mục đích: hoặc ngụ ý  
tiền, nhang, gạo, chuối chín, nến, trái cây… Để tỏ con người như cây chuối khi có quả thì cây chết  
lòng biết ơn, gia đình tang chủ mời khách dùng đi; hoặc để tránh cho phần bụng của người chết  
cơm, bún. Đặc biệt ở Khmer An Giang trong tang trương lên sớm.  
ma, gia đình tang chủ không có đãi bia, rượu.  
Kế tiếp Acha Duky lấy Slatho (gồm: hai lá  
Sau khi chuẩn bị 05 Tean Kol (mỗi cái Tean trầu ốp lại nhau, chính giữa có hai cây nhang và  
Kol gồm: trầu, đèn cầy, nhang cắm lên thân cây 01 cây đèn cầy) để lên ngực người chết và lấy hai  
chuối cao khoảng 15cm), lúc này Acha Duky thắp tay người chết chắp lại (trường hợp chết quá lâu  
05 Tean Kol (01 để ở đầu, 02 để hai bên vai, 02 để không thể chắp tay người chết được thì Slatho để  
ở dưới hai chân người chết) và Tông Prôlưng (là cờ trên ngực). Ý nghĩa của việc làm này, ngụ ý là  
hồn hình con rồng hoặc cá sấu từ nhiều mảnh vải người chết chỉ mang theo lời kinh và hình ảnh Đức  
trắng kết lại) đặt ở phía trên đầu người chết. Tiếp Phật. Tục lệ này xuất hiện trong truyện cổ Phật  
theo,Acha Duky để vào miệng người chết một đồng giáo: “Ngày xưa có một người chuyên sống bằng  
bạc trắng (với quan niệm là, sau khi chết một đồng nghề săn thú. Trong cuộc đời của ông đã giết chết  
bạc bỏ vào miệng cũng đem theo không được. Mục biết bao loài thú không kể xiết. Đến khi bị bệnh  
đích của việc làm đó là để cho người sống suy nghĩ sắp chết, ông thấy các loài thú bị giết chết đến đòi  
mà làm đúng theo đạo lý ở đời). Sau đó,Acha Duky mạng. Ông rất đau đớn và khổ sở. Con trai ông là  
hướng dẫn người thân tắm rửa tử thi bằng nước ướp Tùy Khưu, thấy cha đau đớn như vậy mới lấy lá  
hương (nước ướp hương xưa kia người ta làm bằng trầu xanh ghim vào cây hương để lên ngực ông  
nhiều cách: làm bằng sáp ong; hoa lài; nhang. Nếu và nói: cha đừng nghĩ vẫn vơ nữa mà nghĩ đến  
làm bằng hoa lài thì người ta lấy hoa lài bóp dập dập Đức Phật thôi. Nhờ đó mà ông không còn nghĩ  
thả vào nước cúng (nước cúng là nước sạch được lung tung mà chỉ một lòng hướng về Đức Phật  
sư sãi làm phép); nếu làm bằng nhang thì người ta cho đến khi nhắm mắt” [3, tr.101]. Dưới chân thi  
đốt nhang, sau khi khói nhang bay lên, người ta lấy hài người chết, người ta để di ảnh và đặt 01 lon  
cái ly hoặc xô úp xuống để chặn khói vào ly, xô, sau đất cát (Chơng thúp) để cắm hương. Ngoài ra, gia  
đó lật ngược ly, xô lên rồi nhanh tay đổ nước cúng đình cũng chuẩn bị các lễ vật như: Son khur lễ vật  
vào xô, ly; nếu làm bằng sáp ong thì cho sáp ong cúng chùa (chiếu, cà sa, mùng, thùng đựng nước..)  
vào ô đậy nắp lại và xông lửa lên, sau đó cho nước để sư sãi sử dụng và Tean’t bôn lễ vật trả ơn cho  
cúng vào để lấy mùi thơm. Ngày nay, người ta làm các acha (gồm 01 cái thúng, đựng một nải chuối,  
nước hương bằng cách lấy nước cúng rồi xịt nước đèn dầu, nhang, một trái dừa khô bóc vỏ, bánh,  
hoa (dầu thơm) vào).  
Việc tắm rửa tử thi được ông Chau Kuôn  
(Acha Duky chùa Sà Lôn) lý giải như sau: “Việc  
trà, nồi, tô…) .  
Khâm liệm (Đưa tử thi vào quan tài):  
Sau khi tụng xong kinh Apithom, Acha  
con, cháu tắm rửa cho ông, bà, cha, mẹ thì ngoài Duky thỉnh sư tụng kinh Achirăng. Nội dung kinh  
mục đích làm vệ sinh cho tử thi, còn xin người quá Achirăng nói về sự tồn tại của thân xác là tạm bợ.  
cố tha thứ, bỏ qua những lỗi lầm mà con, cháu sai Sau khi đọc kinhAchirăng xong, phương thức tẩm  
phạm với ông, bà, cha, mẹ khi lúc ông, bà, cha, liệm được tiến hành. Lúc bấy giờ, thân xác của  
mẹ còn sống”.  
người chết được quấn vải trắng (Rum sap); trường  
Sau khi tắm rửa và thay quần áo mới cho hợp gia đình khó khăn người ta quấn bằng chiếu,  
người chết, người ta đặt tử thi nằm thẳng tay, có nơi chỉ để miếng vải trắng nhỏ (từ 05 cm đến  
50  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
01 m) lên ngực người chết (xã Ô Lâm, Tri Tôn). làm lễ di quan (sau đó quan tài được di chuyển từ  
Trên miếng vải này,Acha Duky viết dòng chữ với ý nhà đến chùa), rồi tiến hành thiêu hay chôn là do  
nghĩa căn dặn linh hồn người chết đừng đi xa, nên Hòa thượng là người quyết định”.  
ở yên một chỗ. Tiếp theo,Acha Duky tiến hành lấy  
TạiAn Giang không có bán quan tài của người  
03 đoạn chỉ buộc ở 03 nơi của thi hài: buộc ngang Khmer như ở Trà Vinh, SócTrăng mà chỉ có một số  
cổ (tượng trưng cho con); buộc ngang rốn (tượng chùa đóng quan tài làm từ thiện như: chùa Svayton,  
trưng cho vợ/chồng); buộc ngang bàn chân (tượng chùa Sà Lôn (hiện nay chùa Sà Lôn không còn  
trưng cho tài sản). Với quan niệm người chết còn đóng quan tài làm từ thiện nữa) hay quan tài được  
03 vướng bận: bận vợ/chồng; bận con cái; bận tài đóng tại nhà, tại chùa.  
sản. Hiện nay, người Khmer huyện Châu Thành  
Điều lưu ý rằng, ở mỗi chùa đều đóng quan  
tỉnhAn Giang còn giữ tục lệ này, còn người Khmer tài chuẩn bị sẵn cho các vị sư sãi có tuổi khá cao;  
huyện Tri Tôn, Tịnh Biên tỉnh An Giang không đối với gia đình khá giả, người ta thường đóng  
thực hiện tục lệ này nữa, do họ nghĩ rằng chết là quan tài chuẩn bị sẵn cho ông bà, cha mẹ khi tuổi  
bỏ hết mọi ràng buộc ở trần gian.  
đã cao; ở những gia đình có hoàn cảnh khó khăn,  
Theo quan niệm của người Khmer, trước khi nào có người mất, người ta mới tiến hành đóng  
lúc nhập quan để đi thổ táng hoặc hỏa táng, Acha quan tài hay đi xin quan tài từ thiện.  
Duky là người xem giờ “Giờ tốt là giờ chẳn như:  
09 giờ đúng, 10 giờ đúng, 11 giờ đúng. Nguyên  
Quàn, viếng:  
Sau khi thi thể đã để vào quan tài và đóng nắp  
tắc để định giờ tốt là coi tuổi con để chọn giờ. Tuy lại, phía trên đầu quan tài người ta đặt cờ phướn  
nhiên, không nhất thiết là con cả mà con thứ hay (Tong Prolung) còn gọi cờ cá sấu được làm bằng  
con út cũng được. Bởi vì, nhiều khi con cả đi làm vải trắng có chiều dài khoảng 01 m.  
ăn và không phân biệt là trai hay gái” [6, tr. 72].  
Ngoài ra, hai đầu và chính giữa quan tài người  
Đối với gia đình khá giả, trong lúc quấn thi ta thắp 03 cây nến tượng trưng cho Phật/Đức Phật  
thể đưa vào quan tài người ta thường để thêm các (Pras Puth), Pháp/kinh sách nhà Phật ((Pras tho) và  
thứ như: bông hoa, trà hay bông gòn (để tránh mùi Tăng/tu sĩ Phật giáo (Pras son). Các cây nến này  
hôi phát ra từ thi thể) và các vật dụng, quần, áo khi cứ thay nhau đốt cho đến khi quan tài đem thiêu  
người quá cố sử dụng lúc còn sống. Ở những gia hay chôn. Tùy theo gia cảnh, điều kiện mỗi gia  
đình có hoàn cảnh khó khăn, người ta dùng chiếu đình mà quan tài lưu lại ở nhà từ 01 hoặc 03 đêm.  
để quấn xác tử thi và mang theo một số vật dụng  
Kế tiếp, người thân dọn cúng cho người chết  
sinh hoạt mà lúc còn sống người quá cố đã sử dụng. gồm: 01 chén cơm trắng, 01 chén nước, 01 chén  
Khi đi an táng người Khmer An Giang cũng bánh và 01 chén thịt, tượng trưng cho "tứ đại" (gió,  
coi ngày giờ. “Việc tang mỗi tháng có 4 ngày kỵ: nước, lửa, đất). Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh và  
Thứ ba, chủ nhật, ngày 02 và ngày 16 Âm lịch (theo sự thống nhất giữa gia đình và Acha hay người đã  
lịch Khmer). Nếu ngày đưa người chết đi hỏa thiêu/ mất có tâm nguyện lúc còn sống là chôn hay thiêu.  
chôn mà trùng ngày kiêng kỵ nêu trên thì cũng có Cho dù chôn hay thiêu thì người Khmer đều đem  
cách xử lý. Đó là người ta chọn giờ để di quan, chỉ người thân (người chết) của mình vào chùa. Nếu  
có 02 giờ trong ngày đó là: 06 giờ sáng và 13 giờ thiêu, gia đình cử người đến chùa để thống nhất  
chiều” [6, tr. 78]. Tuy nhiên, việc coi ngày giờ tiến với bộ phận thực hiện công việc hỏa thiêu về giờ  
hành chôn/ thiêu người chết cũng có quan niệm hỏa táng cũng như các vật dụng dùng khi thiêu;  
khác nhau. Theo Hòa thượng Chau Sơn Hy (Trụ còn chôn thì gia đình đến gặp Sư cả của chùa ở  
trì chùa Sà Lôn theo hệ chi phái Thommazut) cho nơi đang sinh hoạt để xin được chôn tại chùa. Ở  
biết: “Việc coi ngày, giờ chôn/ thiêu doAcha Duky An Giang phần nhiều gia đình không chôn người  
ở chi phái Mahanikay quyết định; đối với chi phái chết dưới đất của chùa mà để quan tài trong hộc  
Thommazut thì việc xem ngày, giờ để thiêu/ chôn phía dưới tháp cốt (Chet day) rồi dùng ximăng bịt  
rất ít diễn ra. Thông thường việc thiêu/chôn xem kín lại. Việc làm này với quan niệm để người chết  
hay không xem giờ thì khoảng 08 giờ sáng bắt đầu thường xuyên được nghe kinh Phật. Ngoài ra, việc  
51  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
chôn hoặc xây tháp cốt người chết trong chùa mà sợi dây Sbau phleang từ người con gái trưởng  
không chôn hay xây tháp cốt gần nhà là sợ người hay cháu gái trưởng mà không phải là con trai là  
chết về dọa người sống, chủ yếu là con cháu và trẻ do người Khmer có quan niệm con gái là con của  
con (quan niệm chiếm số ít trong đồng bào Khmer mình, con trai là con của người ta. Vì khi lập gia  
An Giang).  
Động quan, di quan, hỏa/thổ táng:  
đình, thông thường người nam sang nhà người nữ  
ở; còn người con gái đi lấy chồng vẫn ở bên nhà  
Trước khi di quan, người ta làm lễ di quan. cha mẹ ruột của mình.  
Sư sãi tụng kinh Tri Điệu (Thom son vêk) người  
Trong quá trình di quan, bốn sư sãi đứng 4  
chết trong khúc nhạc Ngũ âm buồn và Acha Duky góc quan tài tụng 7 bài kinh cầu siêu. Khi kiệu bắt  
làm lễ Otarapa (5 điều quán tưởng). Trong khi thực đầu di chuyển tiến về phía trước, trẻ con thay nhau  
hiện lễ tụng, Acha Duky và các Acha Ph’luk tay ngồi xếp hàng thành một hàng dài để kiệu khiêng  
cầm hương hoặc nến đang cháy đi ba vòng quanh ngang qua đầu (Đối với kiệu quan tài, việc làm này  
quan tài theo chiều ngược chiều kim đồng hồ và tượng trưng cho chiếc cầu đưa linh hồn về cõi Niết  
miệng đọc kinh Otarapa. Sau khi các Acha dứt lời bàn hay là sự đền đáp hiếu hạnh của con, cháu đối  
thì những người nam giới (bộ phận khiêng quan với người quá cố; đối với kiệu nhà sư, việc làm này  
tài) nâng quan tài lên và khiêng ra đặt trên xe bò mang đến phước lành, bình an cho những đứa trẻ).  
hay xe cải tiến hoặc khiêng đi bộ đến nơi an táng  
Trường hợp người ta dùng xe cải tiến để di  
(hiện nay còn có một số nơi, khi di quan người ta chuyển kiệu sư, kiệu quan tài, thì việc xếp hàng  
khiêng quan tài và kiệu nhà sư đi bộ đến chùa như: ngồi để kiệu quan tài, kiệu sư đi ngang qua được  
chùa Phnômpi Lơ, Phnômpi Conh Dal, Phnômpi diễn ra ngay trong chánh điện ở chùa. Khi tới  
Krom thuộc Tri Tôn).  
chùa, không chỉ những trẻ nhỏ mà những người  
Khi tiễn đưa linh cửu đến nơi hỏa táng hay thổ lớn tuổi không phân biệt họ hàng hay không họ  
táng, dẫn đầu đoàn đám ma là người đánh trống và hàng với người quá cố xếp hàng ngồi phía trước  
dàn nhạc Ngũ âm hay dàn nhạc đám ma; kế tiếp chánh điện để chờ kiệu của sư và kiệu quan tài  
Acha Duky (cầm cờ hồn, hương đèn và chiếc nồi (khi đến chùa người ta khiêng phần chân quan tài  
đất buộc dây trên đầu cây gậy, ngụ ý đời người vào trước) khiêng ngang qua và lúc bấy giờ kiệu  
mong manh như chiếc nồi đất vỡ lúc nào cũng sư và kiệu quan tài được khiêng đi 03 vòng chánh  
không biết); tiếp kế là kiệu nhà sư; theo sau là con/ điện. Dưới sự hướng dẫn của Acha Duky, người  
cháu gái trưởng (người này đầu đội thúng Tean’bôn ta khiêng quan tài đặt ở nhà quàn và Phật tử lúc  
cầm di ảnh người chết và mang theo thúng lúa này tập trung lại, giữ trật tự rồi thỉnh các sư tụng  
rang hoặc bắp nổ. Đối với gia đình khá giả ngoài kinh cầu siêu cho người quá cố. Mục đích của việc  
lúa rang hay bắp nổ người ta còn để thêm những tụng kinh này nhằm để dẫn dắt linh hồn người quá  
tờ bạc từ 1.000 đến 2.000 đồng rải trên đường di cố về Niết bàn.  
quan); kế đến là họ hàng thân thuộc; tiếp đến quan  
tài và cuối cùng là đoàn người đưa tiễn.  
Sau khi rước linh cửu đi vòng quanh chánh  
điện 03 lần, quan tài được đưa vào nhà thiêu hoặc  
Từ kiệu nhà sư đến quan tài được nối bằng đem đi chôn.  
01 sợi dây Sbau phleang (xưa làm bằng cỏ tranh  
Trường hợp hỏa táng: Khi quan tài được đưa  
hay rơm, nay làm bằng nylon). Việc nối sợi dây vào lò thiêu, lửa bắt đầu cháy, nghi thức tu báo hiếu  
nói trên với quan niệm nhờ sư dẫn đường đưa linh được tiến hành. Các nhà sư tiến hành làm lễ xuống  
hồn người chết lên Niết bàn. Tuy nhiên, cũng có tóc, phát cà sa cho người con trai hoặc cháu trai ai  
nơi (chùa Sài So thuộc Núi Tô huyện Tri Tôn) sợi muốn tu báo hiếu (người này có thể tu luôn hoặc  
dây Sbau phleang được nối từ người con gái hoặc chỉ tu nửa ngày). Tuy nhiên, việc làm lễ xuống tóc  
cháu gái trưởng (người đội thúng Teant’ bôn và hay phát áo cà sa có địa phương làm ngay lúc khi  
cầm di ảnh) đến quan tài. Ý nghĩa của việc làm hỏa táng, có địa phương làm trước khi hỏa táng  
này với quan niệm: cha mẹ chết rồi, mọi chuyện nhưng phải cùng trong ngày hỏa táng. Khi xác cháy  
còn lại để cho con cái lo liệu. Nguyên nhân cột được phân nửa, người chịu lễ xuống tóc được đưa  
52  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
lên chùa lạy tượng Phật Thích ca, đến khi thiêu người chết. Nếu người chết là cha, mẹ thì trang thờ  
hoàn tất, người ta làm lễ hoàn tục, cậu con trai đó để giữa nhà; nếu là anh chị, em thì để bên hông  
trở về cuộc sống bình thường. Nếu người con trai nhà. Tùy theo kinh tế của gia đình mà lễ cúng được  
đã đi tu trước khi gia đình có người thân qua đời long trọng hay đơn giản.  
thì sẽ không có nghi thức này.  
Sau khi chôn vài năm, gia đình làm lễ giã cốt  
Khi lửa tàn, xác đã cháy hếtAcha Duky đánh cho người đã quá cố. Người Khmer quan niệm nếu  
03 tiếng còng cho con cháu người quá cố đến nhặt chết mà không được hỏa táng thì linh hồn người  
xương. Những mảnh xương chưa được cháy hết chết không được đầu thai, cứ lẩn quẩn quanh xóm  
còn sót lại trong đám tro than, sau đó người ta làng, chỉ khi nào được làm lễ giã cốt thì mới đầu  
đem rửa bằng nước dừa. Người Khmer tin rằng, thai kiếp khác. Chính vì vậy, dù cho gia đình có  
nước dừa là loại nước tinh khiết, rửa xương cốt khó khăn đến mấy, sau khi chôn cũng phải dành  
bằng nước dừa khi đầu thai người đó được sạch dụm tiền để làm lễ giã cốt cho người đã quá cố.  
sẽ và tinh khiết. Họ để xương tro vào hủ (kott) Lễ giã cốt được tiến hành sau khi chôn từ 02 đến  
và mang gửi ở trong Tháp cốt ở chùa. Mục đích 05 năm nhưng phần nhiều khoảng 03 năm người  
người Khmer An Giang thường xây dựng tháp để ta làm lễ giã cốt (bonlesop).  
gửi hài cốt người thân ở chùa là họ mong người  
Theo Hòa thượng Chau Sơn Hy: “Trước đây  
thân đã qua đời ngày ngày được nghe kinh Phật. người Khmer An Giang phần đông do kinh tế khó  
Tuy nhiên, cũng có một số gia đình hiện nay xây khăn hay vì nhiều lý do khác, nên khi chết người  
tháp cốt ở đất nhà.  
Khmer phần nhiều đem chôn hơn là thiêu, nhưng  
Trường hợp thổ táng: Người KhmerAn Giang ngày nay thì thiêu nhiều hơn chôn”. Lễ giã cốt  
chôn người chết đầu thường quay về hướng núi được xem là lễ lớn đặc trưng trong tang ma của  
(hướng Tây), vì họ quan niệm đó là hướng Niết người Khmer An Giang. Từ năm 1975 đến năm  
bàn (Thane sua). Trước đây người Khmer thường 2000, sau khi chôn người thân khoảng từ 2 đến  
chôn ở gần nhà, họ chọn những gò đất cao ráo để 3 năm người Khmer An Giang thường làm lễ giã  
chôn và thường cất mái che cho người chết nhưng cốt tập thể ở chùa.  
ngày nay họ thường chôn trong chùa hoặc để trong  
Trước đây, do đời sống của người Khmer phần  
tầng rỗng phía dưới của các tháp cốt rồi dùng gạch, nhiều còn khó khăn nên hàng năm trụ trì ở chùa có  
ximăng bịt kín lại.  
2.2.2. Nghi thức sau hỏa/ thổ táng  
thông báo giờ, ngày, tháng làm lễ giã cốt tập thể  
tại chùa, vì vậy, gia đình nào muốn làm lễ giã cốt  
Trường hợp hỏa táng: Sau khi hỏa thiêu, gia tập thể cho người thân của mình thì đem hài, cốt  
đình tiến hành làm lễ đại Dâng phước (oppaset). Lễ của người thân đã quá vãng đến chùa để thực hiện.  
này chỉ dành cho người hỏa táng (người thổ táng Trước đây, thông thường lễ giã cốt tập thể thường  
không cử hành lễ này). Đám phước chỉ tổ chức được diễn ra tại chùa vào mùa khô; tuy nhiên, trong  
một lần duy nhất sau khi thiêu. Vì vậy, tùy theo thời gian khoảng 05 năm gần đây phần nhiều các  
điều kiện kinh tế gia đình mà người ta tổ chức long chùa ở An Giang không còn làm lễ giã cốt tập thể  
trọng hay giản đơn. Thông thường người Khmer nữa, thay vào đó là làm lễ giã cốt riêng lẻ.  
An Giang tổ chức lễ này kéo dài 02 ngày, 02 đêm.  
Nguyên nhân là do đời sống kinh tế của người  
Trong 02 buổi tối, gia đình tang chủ thỉnh mời các Khmer An Giang có phần khởi sắc hơn trước nên  
sư đến cầu siêu, cầu an. Buổi sáng ngày đầu gia sau khi chết, họ hỏa táng nhiều hơn thổ táng. Bên  
đình cúng cơm cho các sư, buổi sáng hôm sau gia cạnh đó, có một số chùa vẫn còn giữ tục lệ giã cốt  
đình tiến hành làm lễ đem cốt người chết lên chùa. tập thể như trước đây, cụ thể là: Chùa Văn Râu ở  
Khi lên chùa, họ mang theo mân cơm để cúng cho Văn Giáo (Tịnh Biên) hay một số chùa thuộc xã  
sư và nhờ sư hướng dẫn để đưa hài cốt vào tháp.  
Trường hợp thổ táng: Buổi tối sau khi chôn các chùa này thông thường 02 năm diễn ra một lần.  
cất, gia đình mời sư đến cầu siêu, cầu an. Lúc này, Qui trình làm lễ giã cốt thường diễn ra 3 ngày  
Acha Duky hướng dẫn gia đình làm nơi thờ phụng và 2 đêm.  
Ô Lâm, huyện Tri Tôn nhưng lễ giã cốt tập thể ở  
53  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
Ngày thứ nhất: Gia đình chuẩn bị mọi thứ có người chết và con cháu xin được cởi bỏ khăn tang  
liên quan trong việc thực hiện lễ giã cốt. (xả tang). Sau đó, ông Acha đọc kinh, vẩy nước  
Ngày thứ hai: Gia đình tiếp khách, cúng và cầu chúc phước cho họ được tự do làm theo  
dường và mời sư làm lễ An vị Phật.  
Ngày thứ ba: Gia đình tiếp khách, cúng dường  
và mời sư thuyết pháp.  
nguyện vọng của mình.  
Lễ Giỗ (Banh Khnop): Sau khi người thân  
mất đúng giáp năm, gia đình tiến hành làm lễ cầu  
2.2.3. Các nghi thức thờ cúng sau đám tang phước cho người chết. Cũng giống như lễ 100  
Theo phong tục truyền thống, người Khmer ngày, lễ giỗ được diễn ra lớn hay nhỏ tùy thuộc  
không làm lễ giỗ cho người chết như người Việt, vào hoàn cảnh của mỗi gia đình. Đối với gia đình  
người Hoa mà hàng năm họ làm lễ cúng người khá giả, thường tổ chức một ngày và một buổi  
chết vào dịp tết Chol Chnam Thmay và lễ Senh sáng (ngày thứ 1, vào buổi trưa gia đình thỉnh  
Dolta. Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh của gia đình sư đi chay tăng và tiếp khách; tối lại mời sư đến  
mà việc thờ cúng người chết được diễn ra cũng có tụng kinh, cầu siêu và tiếp khách; sáng ngày hôm  
phần khác nhau.  
sau lại dâng cơm cho sư và tiếp khách); gia đình  
Theo Hòa thượng Chau Sơn Hy: “Ít nhất đời nghèo chỉ tổ chức một buổi sáng, họ mời sư đến  
người khi chết rồi làm 03 lễ, đó là: Lễ Banh da (lễ tụng kinh, cầu siêu và một ít người thân trong  
dâng phước sau khi chôn được 07 ngày); lễ Banh dòng họ đến tham dự.  
Khuap (dâng phước sau khi chôn 100 ngày); lễ  
Lễ Cầu siêu (Banh Skol): Lễ cầu siêu thường  
giáp năm”. Vì vậy đối với gia đình khó khăn, khi được diễn ra không ấn định ngày đối với gia đình  
làm xong 3 lễ trên thì hàng năm người ta thờ cúng khá giả, còn đối với gia đình khó khăn người ta  
người chết vào dịp tết Chol Chnam Thmay và lễ thường tổ chức lễ cầu siêu vào dịp tết Chol Chnam  
Senh Dolta; đối với gia đình khá giả, ngoài làm Thmay. Lễ này được tổ chức tại nhà mời sư sãi đến  
xong 03 lễ trên, hàng năm gia đình cũng tổ chức tụng kinh hoặc gia đình tập trung lên chùa.  
lễ giỗ như người Việt, Hoa”.  
Lễ cầu siêu được tổ chức vào ngày thứ 3 trong  
Lễ Dâng phước (Banh da): Sau khi người thân dịp tết Chol Chnam Thmay. Sáng sớm, tất cả mọi  
hỏa táng hoặc thổ táng được 7 ngày, gia đình tổ người trong Phum, Sóc đều lên chùa và không  
chức làm lễ Dâng phước cho người quá cố (Banh quên mang theo lễ vật, cơm canh. Sau khi họ tập  
da). Lễ được tổ chức tại nhà, tùy theo khả năng trung cùng sư sãi tham dự lễ tụng kinh, cầu siêu tại  
kinh tế gia đình mà được tổ chức lớn nhỏ, mời chánh điện xong, họ mời các vị sư sãi dùng cơm.  
khách đông hay ít. Lễ thường tổ chức vào 1 đêm Một số gia đình còn mời sư sãi đến tháp đựng hài  
và 1 buổi sáng.  
cốt người thân hay người quá cố được chôn trong  
Buổi tối họ làm lễ Tam bảo, thọ ngũ giới mời chùa để cầu siêu cho người quá vãng.  
sư sãi đến tụng kinh rồi gia chủ dâng nước, trà cho  
Lễ Cúng ông bà (Banh Senh Dolta): Lễ Senh  
sư. Sáng hôm sau gia chủ mời các vị sư đến tụng Dolta được xem là lễ lớn thứ 2 trong năm, sau tết  
kinh cầu siêu, cầu phước, sau đó gia chủ dâng lễ Chol Chnam Thmay của người Khmer ĐBSCL.  
vật lên chùa.  
Tuy nhiên riêng người Khmer An Giang quan  
Lễ 100 ngày (Banh Khuap): Sau khi người niệm rằng tết Chol Chnam Thmay chủ yếu dành  
thân mất 100 ngày, người ta tổ chức làm lễ Banh cho thanh, thiếu niên, còn lễ Senh Dolta là ngày  
Khuap cho người đã mất. Lễ này không khác so với lễ dành cho tất cả mọi người, từ già đến trẻ. Vì  
lễ Banh da nhưng quy mô khách đến tham dự đông vậy, lễ Dolta ở người Khmer An Giang được tổ  
hơn. Tùy theo gia cảnh của mỗi người mà làm lớn chức lớn hơn so với người Khmer các nơi khác  
hay nhỏ. Đối với gia đình khá giả, thường tổ chức như: Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu,.. Hàng năm  
một ngày và một buổi sáng; đối với gia đình khó lễ được tổ chức trong ba ngày từ ngày 29/8 đến  
khăn chỉ tổ chức một buổi sáng. Phần quan trọng ngày 1/9 âm lịch. Lễ mang ý cầu siêu, cầu phước  
của lễ này là sau khi cúng xong ông Achar hướng cho linh hồn ông bà, cha mẹ và người thân đã  
dẫn con cháu đốt nhang cầu nguyện cho linh hồn quá cố.  
54  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
2.3. Một số thay đổi phong tục truyền thống  
trong tang ma và thờ cúng người chết của người  
Khmer An Giang hiện nay  
loa và cho phát băng (dot) để trước cửa nhà điều  
mà trước đây không có và sợi dây sbau phleang  
trong lễ di quan trước đây làm bằng cỏ tranh nay  
là sợi dây nylon.  
Thay đổi trong tang ma: Do việc tổ chức  
tang lễ cũng như việc thờ cúng tổ tiên theo kiểu  
truyền thống rất tốn kém về thời gian, tiền của  
nên người Khmer An Giang giảm lược và bớt đi  
các nghi thức rườm rà như: nghi thức đâm thủng  
quần áo người chết; nghi lễ giã cốt được giảm  
bớt thời gian (qui trình làm lễ giã cốt trước đây là  
03 ngày nhưng hiện nay chỉ còn 02 ngày. Ngày  
trước: Gia đình chuẩn bị mọi thứ có liên quan  
trong việc thực hiện lễ giã cốt; ngày sau: gia đình  
tiếp khách; cúng dường và mời sư làm lễ An vị  
Phật, lễ thuyết pháp).  
Thay đổi trong cách quan niệm về cái chết:  
Trước đây người Khmer quan niệm những cái chết  
không bình thường (chết do tai nạn giao thông,  
chết khi mang thai, chết trôi... ) thì không được an  
táng như những người chết bình thường (thường  
đem chôn cất ở bìa rừng hoặc có nhiều hình thức  
dị đoan kiêng kỵ kèm theo). Theo ông Chau Kuôn  
cho biết về trường hợp trừ tà, dị đoan đối với cái  
chết không bình thường (trường hợp người phụ nữ  
mang thai chết) như sau: “Khi quan tài mà người  
chết là người phụ nữ mang thai đem đi an táng và  
sắp đi ngang nhà có phụ nữ đang mang thai, thì lúc  
này trong gia đình người phụ nữ đang mang thai  
đem muối, gạo rải trước cửa nhà của mình. Mục  
đích của việc làm này là mong linh hồn người chết  
không vào nhà để quấy phá người phụ nữ mang  
thai, làm động thai hay bắt người phụ nữ ấy chết  
theo”. Tuy nhiên, hiện nay việc do tai nạn giao  
thông mà chết, hoặc do mang thai mà chết người  
Khmer cho là bình thường và ít làm những điều dị  
đoan, trừ tà như trước đây.  
Về cách thức thiêu/chôn cũng có thay đổi:  
Trước đây người Khmer An Giang có tập tục hỏa  
táng nhưng đối với người Khmer Tịnh Biên, Tri  
Tôn vẫn duy trì tập quán chôn người chết và làm lễ  
giã cốt sau ba năm chôn cất, nhưng hiện nay người  
KhmerAn Giang ở Châu Thành, Châu Phú, Thoại  
Sơn, Tịnh Biên, Tri Tôn phần nhiều đều hỏa táng.  
Nguyên nhân là do đời sống kinh tế và công việc  
hỏa thiêu tiện lợi hơn trước, cộng thêm tình trạng  
dân cư đông đúc nên đất cư trú và đất mộ táng ngày  
càng khan hiếm. Ngoài ra, trước đây thiêu ngoài  
trời gây ô nhiễm nay mỗi chùa đều có lò thiêu, tuy  
vẫn sử dụng củi là chính.  
Thay đổi trong việc thờ cúng cho người chết:  
Trước đây người Khmer chỉ thờ cúng ông, bà, cha,  
mẹ người thân ở trong chùa nhưng hiện nay có  
nhiều gia đình làm bàn thờ ông bà, cha mẹ ở nhà.  
Người Khmer ở Châu Thành, Thoại Sơn cúng  
người đã mất hàng ngày từ khi thiêu/chôn đến  
100 ngày, tùy khả năng kinh tế, có gì cúng đó.  
Bên cạnh đó, có một số gia đình Khmer sống gần  
người Kinh, Hoa cũng tổ chức làm tuần (thất), cứ  
7 ngày/1 lần, cho đến 49 ngày (bảy thất), rồi đến  
100 ngày làm lễ Banh khuap.  
3. Kết luận  
Lễ tang là một sự kiện trọng đại đánh dấu sự  
chuyển đổi của con người từ thế giới vật chất sang  
thế giới tinh thần. Lễ tang của người Khmer An  
Giang thể hiện đậm đà bản sắc của một tộc người có  
nền văn hóa lâu đời, hòa hợp cả Bà La Môn giáo và  
Phật giáo Nam tông. Sự giao thoa giữa các nền văn  
hóa của người Kinh, Hoa ở An Giang thể hiện qua  
lễ tang và thờ cúng người chết của người KhmerAn  
Giang đã tạo ra một bản sắc văn hóa truyền thống  
độc đáo của họ, góp phần làm phong phú thêm cho  
nền văn hóa truyền thống Việt Nam đó là một nền  
văn hóa “thống nhất trong sự đa dạng”./.  
Ngoài ra, trước đây người Khmer không có  
tục để tang nhưng hiện nay họ vẫn có tục thọ tang  
100 ngày và cũng mang tang trắng, mặc tang phục  
như người Kinh, người Hoa. Bên cạnh đó, việc báo  
tin gia đình có người qua đời, người Khmer dùng  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Ban Dân tộc tỉnh An Giang (2018), Báo cáo “Kết quả thực hiện công tác dân tộc và các chính  
sách dân tộc”, tháng 7/2018.  
[2]. Ban Tôn giáo tỉnhAn Giang (2018), Báo cáo của “Quản lý nhà nước về tôn giáo", tháng 7/2018.  
55  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
[3]. Trần Văn Bổn (2002), Phong tục và nghi lễ người Khmer Nam Bộ, NXB Đại học Quốc gia,  
Hà Nội.  
[4]. Mai Ngọc Diệp (2008), Tang ma của người Khmer An Giang, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại  
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.  
[5]. Trường Lưu (1993), Văn hóa người Khmer vùng ĐBSCL, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội.  
[6]. Nguyễn Văn Lữ (2007), Những nghi lễ vòng đời chủ yếu của người Khmer xã Châu Lăng,  
huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.  
[7]. Thiện Minh (2014), Giáo trình lược sử Phật giáo Nam tông Việt Nam, NXB Hồng Đức.  
[8]. Nguyễn Thị Hoàng Phượng (2017), “Tìm hiểu sự giống và khác nhau giữa lễ hội dân gian  
của người Khmer An Giang và người Khmer Sóc Trăng”, Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Số  
28, 10-2017, tr. 55-58.  
[9]. Nguyễn Ngọc Tùng, Hoàng Thị Lan (2004), “Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội  
khu vực đồng bào Khmer Tây Nam Bộ”, Vấn đề tôn giáo ở khu vực đồng bào Khmer Tây Nam Bộ hiện  
nay, Đề tài cấp Bộ - Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tr.1-14.  
THE KHMERS’ OBSEQUISE IN CURRENT THERAVADA BELIEF  
IN AN GIANG PROVINCE  
Summary  
The obsequie is one of the human lifecycle ceremonies practiced by a great number of nations in  
the world. This article discusses The Khmers' obsequise in Theravada belief in An Giang province with  
those ceremonies during and post-obsequise. The article also presents the changes in current obsequies  
and ancestral worship among the Khmer in An Giang province.  
Keywords: Obsequise, Theravada belief,An Giang Khmers, Thommazut school, Mahanikay school.  
Ngày nhận bài: 19/11/2018; Ngày nhận lại: 10/01/2019; Ngày duyệt đăng: 15/2/2019.  
56  
pdf 9 trang yennguyen 17900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tang lễ của người Khmer theo Phật giáo Nam tông ở tỉnh An Giang hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftang_le_cua_nguoi_khmer_theo_phat_giao_nam_tong_o_tinh_an_gi.pdf