Đánh giá của du khách đối với các điểm đến du lịch văn hóa Chăm: So sánh giữa An Giang và miền Trung

AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH ĐỐI VỚI CÁC ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH  
VĂN HÓA CHĂM: SO SÁNH GIỮA AN GIANG VÀ MIỀN TRUNG  
Nguyễn Thị Ngọc Thơ1, Nguyễn Hữu Trí1, Hồ Bạch Nhật1, Đoàn Vinh Thăng1, Võ Khánh Thiện2  
1Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM,  
2Trường Đại học RMIT – Việt Nam  
Thông tin chung:  
Ngày nhận bài: 03/08/2020  
Ngày nhận kết quả bình duyệt:  
04/12/2020  
Ngày chấp nhận đăng:  
01/2021  
ABSTRACT  
This study aims to identify the evaluations and requirements of tourists  
incultural-values-related tourism of Cham Islam ethnic group in An Giang  
province. The research interviewed 300 tourists who came from An Giang  
and 95 tourists came from Ninh Thuan, Binh Thuan provinces. Sample  
surveyed is diversified by tourists’ career, religion, levels of income, which  
can be represented the overall population. Most of tourists traveling to An  
Giang are attracted by its spiritual tourism and natural landscape, whereas  
the two provinces in the central of Vietnam are attractive to their leisure  
travel or ecotourism. The research results indicated that most of tourists  
would like to experience Cham Islam-related cultural values at a specific  
village where there comprise all of the cultural values such as the  
architecture of Cham Islam mosque and religion, ceremonies, food,  
traditional dress and crafts.  
Title:  
Evaluation of travellers for  
tourism destinations of the  
Cham ethnic culture:  
comparison between An Giang  
and the Central region  
Keywords:  
Tourist, destination decision,  
Champa ethnic group, An  
Giang  
Từ khóa:  
Du khách,  
TÓM TẮT  
quyết định điểm đến,  
dân tộc Chăm, An Giang,  
miền Trung  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định nhu cầu của du khách đối với  
loại hình du lịch dựa vào các giá trị văn hóa dân tộc Chăm tại An Giang.  
Nghiên cứu khảo sát 300 du khách đến An Giang và 95 du khách đến Ninh  
Thuận, Bình Thuận. Mẫu quan sát có sự cân bằng về giới tính, đa dạng về  
nghề nghiệp, thu nhập, tôn giáo nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể.  
Du khách đến An Giang chủ yếu bị thu hút bởi khía cạnh tâm linh và cảnh  
quan thiên nhiên, trong khi du khách đến Ninh Thuận, Bình Thuận là chủ yếu  
để nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Phần lớn du khách muốn trải nghiệm các  
giá trị văn hóa Chăm Islam tại một làng Chăm cụ thể, nơi có tất cả các giá  
trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Chăm như: kiến trúc thánh đường, nét đặc  
trưng tôn giáo, lễ hội, ẩm thực, trang phục và các sản phẩm truyền thống.  
1. GIỚI THIỆU  
(UNWTO), trào lưu phổ biến những năm gần đây  
đã chuyển hướng sang nghỉ dưỡng và trải nghiệm  
Những năm gần đây, sự phát triển của loại hình  
du lịch văn hóa được xem là sản phẩm du lịch đặc  
thù của một số địa phương đã thu hút nhiều khách  
du lịch quốc tế. Theo Tổ chức Du lịch thế giới  
văn hóa địa phương (Báo Du lịch Việt Nam,  
2019). Khách du lịch thế hệ mới là những người  
yêu môi trường, tôn trọng và có trách nhiệm với  
1
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Ngược lại, vấn đề khai thác, phát triển du lịch văn  
môi trường, vì vậy xu hướng tìm về những giá trị  
văn hóa đặc sắc và sinh thái nguyên sơ cũng đang  
thịnh hành (Thông tấn xã Việt Nam, 2019). Du  
lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những giá trị văn  
hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, phong tục  
tín ngưỡng,… để tạo sức hút đối với du khách  
(Nguyễn Tuấn, 2020). Đối với khách du lịch có sở  
thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục  
tập quán bản địa thì du lịch văn hóa là cơ hội để  
thỏa mãn nhu cầu của họ (Phạm Trọng Nghĩa,  
2019). Là một trong số ít tỉnh ở Đồng bằng sông  
Cửu Long có cả 4 tộc người Kinh, Chăm, Hoa,  
Khmer cùng sinh sống, đã tạo cho An Giang sự đa  
dạng về màu sắc văn hóa (Du lịch Việt Nam,  
2019). Mỗi tộc người mang trong mình một bản  
sắc đặc trưng riêng, hòa chung dòng chảy thời  
gian, tạo nên sự cộng hưởng trên mọi mặt của đời  
sống và làm nên sự đa dạng văn hóa trên địa bàn  
tỉnh. Một trong những tộc người có nét văn hóa  
độc đáo phải kể đến là đồng bào Chăm theo Hồi  
giáo Islam, sống chủ yếu ở các huyện: Tân Châu,  
An Phú, Châu Phú, Châu Thành, với thu nhập  
chính từ các nghề thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ,  
làm rẫy (Nguyễn Thành Nhân, 2016). Người  
Chăm là một tộc người sinh sống lâu đời ở An  
Giang. Trong lịch sử phát triển, họ đã đạt trình độ  
cao về tổ chức xã hội với một nền văn hóa đặc  
trưng, phong phú, đa dạng. Vì vậy, muốn tìm hiểu  
một dân tộc, khám phá những nét tinh hoa, tinh  
túy của dân tộc đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu các  
giá trị văn hóa của dân tộc đó bao gồm cả giá trị  
vật thể và phi vật thể. Tỉnh An Giang bắt đầu  
quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn  
hóa Chăm nhằm định hướng phát triển du lịch.  
hóa ở An Giang còn nhiều hạn chế, do đó cần phải  
phát huy mạnh mẽ hơn nữa giá trị văn hóa, trong  
đó có văn hóa Chăm độc đáo, tạo điều kiện thu  
hút du khách trong và ngoài nước tiếp cận với văn  
hóa Chăm ở An Giang. Nghiên cứu này được thực  
hiện nhằm xác định các đánh giá và yêu cầu của  
khách du lịch đối với các giá trị văn hóa của  
người Chăm tại An Giang, qua đó lựa chọn các  
giá trị văn hóa mà du khách quan tâm để bảo tồn  
và phát huy, phục vụ cho phát triển du lịch.  
2. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN  
CỨU  
Thông qua dữ liệu thứ cấp: Sách, báo, tạp chí, các  
nghiên cứu, ấn phẩm liên quan, Internet để thu  
thập thông tin liên quan đến nghiên cứu về các  
khái niệm, định nghĩa, lý thuyết về du lịch, cũng  
như thực trạng tình hình du lịch tại các địa  
phương có người Chăm sinh sống.  
Thông qua dữ liệu sơ cấp: Tiếp cận bằng hình  
thức thảo luận sâu với các chuyên gia, người  
Chăm địa phương và khảo sát thực tế bằng  
phương pháp phỏng vấn trực tiếp những tham dự  
viên (du khách) để thu thập thông tin. Với phương  
pháp chọn mẫu phi xác suất (thuận tiện kết hợp  
hạn mức) tiến hành khảo sát thực trạng mong  
muốn, nhu cầu của du khách khi tham quan du  
lịch tại các huyện Châu Phú, An Phú, Tân Châu,  
cũng như cộng đồng người Chăm ở khu vực miền  
Trung làm cơ sở so sánh.  
Khảo sát thông qua phiếu điều tra cá nhân: số  
lượng phiếu phỏng vấn tuân theo công thức chọn  
mẫu trong thu thập thông tin định lượng của  
Yamane (1973):  
Vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân gian  
Chăm gắn với phát triển du lịch được thực hiện  
chủ yếu tập trung ở 2 tỉnh miền Trung là Ninh  
Thuận và Bình Thuận, nơi có khoảng 80% người  
Chăm đang sinh sống (Trần Viết Lưu, 2005). Các  
tỉnh này cũng đang tích cực khai thác các giá trị  
văn hóa dân gian Chăm và các giá trị văn hóa dân  
gian địa phương, kết hợp với thế mạnh thiên nhiên  
của tỉnh cho phát triển du lịch nói chung và du  
lịch văn hóa nói riêng.  
풁ퟐ∝/ퟐ풑풒  
풏 =  
풅ퟐ  
Trong đó:  
-
p: Tỷ lệ tổng thể dự kiến trong khoảng trên  
50% mức chấp nhận;  
-
-
q = 1 – p;  
d: Sai số cho phép (50% ± 5%);  
2
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
-
푍∝/2: Mức ý nghĩa kiểm định 2 đuôi (∝ =  
0.05; Z = 1.96).  
395 quan sát (300 du khách An Giang và 95 du  
khách miền Trung).  
Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định  
lựa chọn điểm đến du lịch sử dụng trong nghiên  
cứu được lược khảo từ những mô hình lý thuyết  
và công trình nghiên cứu trước:  
Đối với nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu  
được chọn ngẫu nhiên phân bố theo vị trí địa lý và  
phân tầng theo khu vực khảo sát được tính toán là  
Khái nệm  
Biến quan sát  
nghiên cứu  
Nguồn  
Thang đo  
Chi và Qu (2008);  
Bozbay và Ozen (2008);  
Mutinda và Mayaka (2012);  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016)  
Mutinda và Mayaka (2012);  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016)  
Chi và Qu (2008);  
Kết cấu hạ tầng và khả Gồm 11 biến quan sát từ  
Likert 5  
năng tiếp cận điểm đến  
HTTC1 đến HTTC11  
điểm  
Gồm 08 biến quan sát từ  
LSVH1 đến LSVH8  
Likert 5  
Lịch sử và văn hóa  
điểm  
Điều kiện giải trí và thư  
Gồm 4 biến quan sát  
GTTG1 đến GTTG4  
Likert 5  
Mutinda và Mayaka (2012)  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016)  
Chi và Qu (2008);  
giãn  
điểm  
Môi trường chính trị và  
kinh tế  
Gồm 04 biến quan sát  
CTKT1 đến CTKT4  
Likert 5  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016)  
điểm  
Chi và Qu (2008);  
Mutinda và Mayaka (2012);  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016).  
Gồm 7 biến quan sát từ  
ATMS1 đến ATMS7  
Likert 5  
Ẩm thực và mua sắm  
Môi trường cảnh quan  
điểm  
Bozbay và Ozen (2008);  
Mutinda và Mayaka (2012)  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016).  
Gồm 5 biến quan sát  
MTCQ1 đến MTCQ5  
Likert 5  
điểm  
Wu (2009); Mutinda và Mayaka  
(2012);  
Gồm 7 biến quan sát  
DLDL1 đến DLDL7  
Likert 5  
Động lực du lịch  
điểm  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016).  
Um và Crompton (1990);  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016)  
Gồm 4 biến quan sát  
TTDD1 đến TTDD4  
Likert 5  
Thông tin điểm đến  
điểm  
Quyết định lựa chọn  
điểm đến  
Gồm 5 biến quan sát từ  
QDDD1 đến QDDD5  
Keating và Kriz (2008); Mutinda  
và Mayaka (2012);  
Likert 5  
điểm  
3
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Nguyễn Xuân Hiệp (2016)  
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
chuyến đi thường kéo dài khoảng 03 ngày. Tuy  
nhiên, thời gian du lịch của du khách đến An  
Giang chỉ hơn 2 ngày, trong khi thời gian du lịch  
của du khách đến Ninh Thuận, Bình Thuận là 5,4  
ngày. Đây là một trong những lưu ý đối với ngành  
du lịch An Giang trong việc giữ chân du khách  
lưu trú lâu hơn trong mỗi chuyến đi.  
3.1 Thói quen đi du lịch của du khách  
Kết quả khảo sát về tần suất đi du lịch và thời gian  
trung bình trong mỗi chuyến đi của du khách  
(bảng 1) chỉ ra rằng, trung bình du khách đi du  
lịch khoảng 03 lần trong năm và thời gian mỗi  
Bảng 1. Tần suất đi du lịch và thời gian mỗi chuyến đi  
Điểm đến  
Chỉ tiêu  
Số lần đi du lịch/năm 395  
Số ngày/chuyến đi 395  
Số lần đi du lịch/năm 300  
N
Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình Độ lệch chuẩn  
1
1
1
1
1
1
12  
30  
10  
15  
12  
30  
2.91  
3.07  
3.02  
2.33  
2.57  
5.40  
1.891  
2.933  
1.862  
1.582  
1.950  
4.570  
Tổng mẫu  
nghiên cứu  
An Giang  
Số ngày/chuyến đi  
Số lần đi du lịch/năm  
Số ngày/chuyến đi  
300  
95  
Ninh Thuận,  
Bình Thuận  
95  
Kết quả khảo sát về thời điểm đi du lịch, đa phần  
du khách đi du lịch vào lúc rảnh rỗi hoặc vào các  
dịp lễ lớn như Quốc tế Lao động, Quốc Khánh  
hoặc vào dịp Tết. Đây thường là những kỳ nghỉ  
dài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi du lịch.  
Ngoài ra, khoảng 12% du khách thường đi du lịch  
vào dịp cuối tuần hoặc vào những thời điểm khác,  
như khi có lễ hội tại địa phương (hình 1).  
Thời điểm khác  
Dịp cuối tuần  
8.100%  
12.200%  
Khi rảnh rỗi  
62.300%  
Lễ 30/4 và 1/5  
Khi có lễ hội địa phương  
Lễ 2/9  
32.700%  
7.600%  
37.200%  
26.600%  
Đầu năm mới  
.00% 10.00% 20.00% 30.00% 40.00% 50.00% 60.00% 70.00%  
Hình 1. Thời điểm đi du lịch  
4
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Bên cạnh đó, dù có mức thu nhập khác nhau, phần  
lớn du khách (75%) đi du lịch từ 01 đến 3 lần/năm  
(bảng 2). Đây cũng là lưu ý đối với ngành du lịch  
khi nắm bắt được tần suất du lịch để xây dựng  
chiến lược cung ứng dịch vụ cho từng nhóm du  
khách nhằm giữ chân và quảng bá hình ảnh du  
lịch của địa phương.  
Bảng 2. Tần suất đi du lịch và thời gian mỗi chuyến đi theo thu nhập  
Thu nhập  
< 5 triệu 5-10 triệu 10-20 triệu  
Tổng  
78  
> 20 triệu  
n
40  
22.2  
60  
27  
19.9  
45  
8
14.5  
19  
3
1 lần/năm  
2 lần/năm  
3 lần/năm  
4 lần/năm  
5 lần/năm  
>= 6 lần/năm  
%
n
12.5  
7
19.7  
131  
33.2  
86  
%
n
33.3  
34  
33.1  
34  
34.5  
10  
29.2  
8
%
n
18.9  
20  
25.0  
13  
18.2  
6
33.3  
1
21.8  
40  
Số lần đi du  
lịch/năm  
%
n
11.1  
11  
9.6  
4
10.9  
3
4.2  
2
10.1  
20  
%
n
6.1  
15  
2.9  
13  
5.5  
9
8.3  
3
5.1  
40  
%
n
8.3  
180  
100.0  
50  
9.6  
136  
100.0  
33  
16.4  
55  
12.5  
24  
10.1  
395  
Tổng  
%
n
100.0  
14  
100.0 100.0  
6
25.0  
5
103  
26.1  
107  
27.1  
90  
1 ngày  
2 ngày  
3 ngày  
4 ngày  
5 ngày  
%
n
27.8  
52  
24.3  
38  
25.5  
12  
%
n
28.9  
40  
27.9  
32  
21.8  
13  
20.8  
5
Số ngày/  
chuyến đi  
%
n
22.2  
10  
23.5  
12  
23.6  
5
20.8  
4
22.8  
31  
%
n
5.6  
8
8.8  
5
9.1  
4
16.7  
2
7.8  
19  
%
4.4  
3.7  
7.3  
8.3  
4.8  
5
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Thu nhập  
< 5 triệu 5-10 triệu 10-20 triệu  
Tổng  
> 20 triệu  
n
%
n
0
0.0  
4
2.9  
2
3.6  
0
6
6 ngày  
0.0  
2
1.5  
39  
20  
12  
5
>= 7 ngày  
%
n
11.1  
180  
8.8  
9.1  
8.3  
24  
9.9  
395  
136  
100.0  
55  
Tổng  
%
100.0  
100.0  
100.0 100.0  
Kết quả khảo sát tần suất quay lại điểm đến của  
du khách (bảng 3) chỉ ra rằng, trong khi phần lớn  
du khách đến Ninh Thuận và Bình Thuận lần đầu  
tiên (lần lượt là 64% và 77,8%) thì lượng du  
khách đến An Giang từ 02 lần trở lên chiếm trên  
70%, trong đó, hơn 30% du khách đã đến An  
Giang du lịch hơn 05 lần. Điều này cho thấy, An  
Giang cũng có những yếu tố lôi kéo du khách  
quay trở lại. Một trong những yếu tố đó chính là  
khía cạnh tâm linh và cảnh quan thiên nhiên. Kết  
quả khảo sát ở hình 2 cho thấy, du khách đánh giá  
An Giang là điểm đến của du lịch tâm linh (77%)  
và cũng là nơi để tham quan và khám phá thiên  
nhiên (40%); chỉ khoảng 6% du khách đến An  
Giang để trải nghiệm văn hóa bản địa. Do đó, hầu  
hết du khách khi đến An Giang đều đến thăm  
hoặc dự kiến sẽ thăm các địa điểm liên quan đến  
yếu tố tâm linh như Chùa Bà (Miếu Bà Chúa Xứ,  
66%); tượng phật Di Lặc (Núi Cấm, 8%) và  
những đền miếu, chùa chiền khác trong khu vực  
Châu Đốc và Tri Tôn thuộc tỉnh An Giang. Điều  
này nhất quán với hiện trạng của du lịch An Giang  
khi tỉnh này tập trung quảng bá yếu tố tâm linh  
trong hoạt động du lịch. Dù có những yếu tố văn  
hóa bản địa đặc sắc (Chăm Islam, Khơ-me Nam  
bộ), nhưng khía cạnh này chưa được chú trọng  
đầu tư nên vẫn còn ở dạng tiềm năng. Không có  
du khách nào dự kiến sẽ tham quan làng Chăm vì  
chưa biết đến hoặc chưa thấy gì đặc sắc. Chỉ một  
lượng nhỏ du khách (khoảng 2%) quan tâm trải  
nghiệm hoặc dự kiến sẽ tham quan khu vực Búng  
Bình Thiên (An Phú, An Giang), nơi có Thánh  
đường Chăm và làng Chăm sống khép kín mang  
đậm bản sắc riêng. Tuy nhiên, nhiều khả năng du  
khách sẽ cảm thấy không hài lòng vì khu vực này  
chưa có hoạt động nào liên quan đến du lịch, các  
dịch vụ kèm theo như: lưu trú, ăn uống, vui chơi  
giải trí cũng rất nghèo nàn, thưa thớt.  
Bảng 3. Tần suất quay lại điểm đến của du khách  
Nơi phỏng vấn  
An Giang  
87  
Ninh Thuận  
Bình Thuận  
35  
n
32  
64.0  
10  
Lần đầu tiên  
%
n
29.0  
53  
77.8  
6
Số lần đến  
2 lần  
“Nơi phỏng vấn”  
%
n
17.7  
32  
20.0  
4
13.3  
3
3 lần  
%
10.7  
8.0  
6.7  
6
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
n
18  
6.0  
2
4.0  
0
1
2.2  
0
4 lần  
%
n
9
5 lần  
%
3.0  
0.0  
2
0.0  
0
n
101  
33.7  
300  
100.0  
Trên 5 lần  
%
4.0  
50  
0.0  
45  
n
Tổng  
%
100.0  
100.0  
Trong khi đó, phần đông du khách đánh giá Ninh  
Thuận, Bình Thuận là điểm đến của du lịch nghỉ  
dưỡng (40% và 27%); tham quan khám phá thiên  
nhiên (44% và 31%); du lịch sinh thái (22% và  
38%). Ngoài ra, du khách đến Ninh Thuận, Bình  
Thuận cũng để trải nghiệm văn hóa bản địa (lần  
lượt 27% và 16%), đặc biệt là văn hóa dân tộc  
Chăm tại đây. Việc đầu tư và hoạt động quảng bá  
cho văn hóa dân tộc Chăm tại hai tỉnh miền Trung  
này được thực hiện khá bài bản, công phu trong  
thời gian dài nên cũng đã tạo được những dấu ấn  
tích cực trong lòng du khách.  
0%  
0%  
1%  
Loại hình khác  
Du lịch nghỉ dưỡng  
27%  
40%  
4%  
31%  
44%  
40%  
Tham quan, khám phá thiên nhiên  
Trải nghiệm văn hóa bản địa  
Du lịch tâm linh/lễ hội  
27%  
16%  
6%  
24%  
12%  
77%  
22%  
38%  
20%  
Du lịch sinh thái  
0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90%  
An Giang (n=300)  
Bình Thuận (n=45)  
Ninh Thuận (n=50)  
Hình 2. Đánh giá của du khách về loại hình du lịch tại các điểm đến.  
7
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Kết quả khảo sát ở bảng 2 cho thấy, một số nguồn  
thông tin tham khảo quan trọng đối với du khách  
khi lựa chọn điểm đến. Những du khách đến Ninh  
Thuận, Bình Thuận chủ yếu dựa vào thông tin từ  
các phương tiện truyền thông, internet và thông  
tin từ các đại lý, công ty du lịch. Trong khi đó,  
nguồn tham khảo từ bạn bè, đồng nghiệp, người  
thân là nguồn thông tin quan trọng nhất đối với du  
khách lựa chọn An Giang là điểm đến. Du khách  
đến An Giang cũng dựa vào kinh nghiệm du lịch  
của bản thân. Các nguồn thông tin từ các phương  
tiện truyền thông, internet hay từ các đại lý/công  
ty du lịch chưa phải là nguồn tham khảo chính của  
du khách đến An Giang.  
Bảng 4. Nguồn thông tin quan trọng với du khách  
Nơi phỏng vấn  
Nguồn thông tin  
Tổng  
An Giang  
Ninh Thuận  
Bình Thuận  
Dựa vào kinh nghiệm  
3.8  
4.1  
2.9  
1.9  
3.7  
3.7  
4.2  
4.0  
3.0  
3.8  
4.2  
3.4  
3.7  
4.0  
3.2  
2.4  
Qua bạn bè, đồng nghiệp, người thân  
Phương tiện truyền thông, internet  
Đại lý du lịch, công ty du lịch  
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn  
điểm đến của du khách  
nhất là 1, cao nhất là 5, được chia thành 5 khoảng,  
mỗi khoảng sẽ có giá trị = (max/min)/n = (5 – 1)/4  
= 0,8 đơn vị. Ý nghĩa giá trị trung bình đối với các  
khoảng như sau:  
Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 điểm, thang  
điểm đo theo thang Likert 5 mức độ có điểm thấp  
1,00 – 1,80  
Rất thấp  
1,81 – 2,60  
2,61 – 3,40  
3,41 – 4,20  
4,21 – 5,00  
Rất cao  
Tương đối thấp  
Trung bình  
Tương đối cao  
3.2.1 Yếu tố cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận  
điểm đến  
Cụ thể, du khách tại An Giang đánh giá 4.47 điểm  
và du khách tại các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận  
đánh giá 4.28 điểm cho yếu tố này, đó cũng là số  
điểm cao nhất trong số 12 yếu tố được nêu (bảng  
5).  
Kết quả đánh giá yếu tố cơ sở hạ tầng và khả năng  
tiếp cận điểm đến cho thấy, du khách tại cả An  
Giang và Ninh Thuận, Bình Thuận đều đánh giá  
cao địa điểm du lịch mang đậm yếu tố tâm linh.  
Bảng 5. Kết cấu hạ tầng và khả năng tiếp cận điểm đến  
An Giang  
(n=300)  
3.67  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Yếu tố cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận điểm đến  
1
2
3
Có các công trình hiện đại  
3.99  
Có nhiều chợ, gian hàng, giúp du khách dễ dàng mua  
sắm  
3.69  
3.87  
3.93  
4.11  
Dịch vụ liên quan đến xe cộ thuận tiện  
8
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Yếu tố cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận điểm đến  
4
5
Yếu tố tâm linh với nhiều đền, chùa, miếu,…  
Không gian cổ kính  
4.47  
4.04  
3.24  
2.9  
4.28  
3.91  
4.04  
4.22  
4.15  
4.19  
4.22  
4.15  
4.13  
4.11  
6
Dịch vụ thông tin, truyền thông phát triển  
Chất lượng lưu trú tốt  
7
8
Chất lượng nhà hàng tốt  
3.16  
3.17  
2.78  
3.91  
3.51  
3.53  
9
Trung tâm lữ hành, công ty du lịch phát triển  
Hướng dẫn viên tại khu du lịch chuyên nghiệp  
Giao thông, đường sá thông thoáng, hiện đại  
Điểm đến mua sắm thú vị  
10  
11  
12  
Trung bình  
Bảng 5 còn cho thấy, du khách ở An Giang đánh  
giá mức trung bình ở yếu tố đội ngũ hướng dẫn  
viên tại khu du lịch chuyên nghiệp (ĐTB = 2.78  
điểm-số điểm thấp nhất trong 12 yếu tố được liệt  
kê, kế đến một số yếu tố cũng không được đánh  
giá cao là: chất lượng lưu trú, nhà hàng, trung tâm  
lữ hành, công ty du lịch (ĐTB dao động ở mức  
trung bình từ 2.9 đến 3.17). Trong khi đó, du  
khách ở tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận hầu hết đều  
có yêu cầu khá cao về các địa điểm du lịch, nên  
điểm số trung bình của các yếu tố dao động ở mức  
cao từ 3.93 đến 4.28 điểm, không có yếu tố nào  
được đánh giá dưới 3 điểm. Từ đó, kết quả khảo  
sát cho thấy, cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận  
điểm đến của du khách ở tỉnh Ninh Thuận, Bình  
Thuận được đánh giá cao hơn so với tỉnh An  
Giang.  
Giang, du khách đánh giá cao nơi có các công  
trình kiến trúc đặc sắc và thỏa mãn yếu tố tâm linh  
huyền bí với điểm số trung bình ở mức cao, dao  
động từ 4.22 đến 4.43 cao hơn đánh giá của du  
khách ở các điểm đến Miền Trung (Ninh Thuận,  
Bình Thuận). Tuy nhiên, điểm đến là tỉnh Ninh  
Thuận, Bình Thuận thì du khách đánh giá cao các  
yếu tố như: khám phá nét đẹp của các giá trị di  
tích lịch sử và mong muốn có thêm trải nghiệm  
với nhiều nền văn hóa độc đáo khác nhau, người  
dân địa phương thân thiện, các lễ hội văn hóa đa  
dạng, v.v… nên đã đánh giá yếu tố này với mức  
điểm trung bình rất cao, từ 4.22 đến 4.43 điểm -  
mức điểm cao nhất so với các yếu tố còn lại. Nhìn  
chung, các yếu tố lịch sử văn hóa được du khách ở  
các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đánh giá cao  
hơn so với tỉnh An Giang, nhưng điểm trung bình  
đánh giá ở cả hai địa điểm được so sánh đều đạt  
ngưỡng tương đối cao đến rất cao.  
3.2.2 Yếu tố lịch sử văn hóa  
Ngược lại, kết quả đánh giá về yếu tố lịch sử văn  
hóa (bảng 6) cho thấy, đối với điểm đến là tỉnh An  
Bảng 6. Lịch sử văn hóa  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Lịch sử văn hóa  
1
2
Có các công trình kiến trúc đặc sắc (chùa, miếu,…)  
Có các di tích lịch sử, di tích văn hóa độc đáo  
4.43  
3.99  
4.34  
4.43  
9
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Lịch sử văn hóa  
3
4
Văn hóa bản địa khác biệt (đặc trưng)  
Văn hóa bản địa đặc sắc, hấp dẫn  
Điểm đến với nhiều yếu tố lịch sử  
Điểm đến sinh thái hấp dẫn  
3.59  
4.32  
3.68  
3.61  
3.57  
3.94  
3.72  
4.22  
4.26  
3.90  
4.30  
4.35  
4.13  
4.42  
4.22  
4.01  
4.09  
4.26  
5
6
7
Người dân địa phương thân thiện  
Các lễ hội văn hóa đa dạng, hấp dẫn  
Điểm đến với các yếu tố tâm linh huyền bí  
Điểm đến thỏa mãn yếu tố tâm linh  
Trung bình  
8
9
10  
3.2.3 Yếu tố điều kiện giải trí thư giãn  
nhiên, Ninh Thuận và Bình Thuận đánh giá cao  
hơn đạt mức cao nhất 4.4 điểm. Các yếu tố còn lại  
như: hoạt động của người dân đa dạng, hoạt động  
văn hóa truyền thống, có nhiều điểm tham quan,  
tìm cảm giác lạ thì Ninh Thuận, Bình Thuận cũng  
được du khách đánh giá cao hơn ở An Giang.  
Điều này chứng tỏ các hoạt động dịch vụ phục vụ  
du khách ở An Giang chưa thu hút được du khách.  
Kết quả khảo sát yếu tố điều kiện giải trí thư giãn  
(bảng 7) cho thấy, các yếu tố nhân tố đều được  
đánh giá từ mức điểm tương đối cao đến rất cao ở  
cả 2 địa điểm du lịch. Du khách của cả tỉnh An  
Giang và tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đều đánh  
giá cao yếu tố địa điểm du lịch có nhiều cảnh  
quan thiên nhiên để du khách chiêm ngưỡng, tuy  
Bảng 7. Điều kiện giải trí thư giãn  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Điều kiện giải trí thư giãn  
1
2
3
4
Cuộc sống, hoạt động của người dân đa dạng  
Có nhiều hoạt động văn hóa tôn giáo truyền thống  
Có nhiều cảnh quan thiên nhiên để chiêm ngưỡng  
Có nhiều nơi để tham quan, tìm cảm giác lạ  
Trung bình  
3.73  
3.88  
4.09  
3.68  
3.85  
4.11  
4.27  
4.40  
4.25  
4.25  
3.2.4 Yếu tố môi trường chính trị và kinh tế  
Giang và mức độ điểm trung bình rất cao cho tỉnh  
Ninh Thuận, Bình Thuận. Điều này chứng tỏ, du  
khách quan tâm rất nhiều đến tình hình chính trị ở  
nơi họ dự định đến, bởi vì, chỉ khi tình hình chính  
trị nơi đó ổn định, du khách mới có thể an tâm vui  
chơi, tham quan và giải trí.  
Kết quả khảo sát về yếu tố môi trường chính trị và  
kinh tế (bảng 8) cho thấy, cả hai địa điểm đều  
được du khách đánh giá cao về yếu tố có tình hình  
chính trị ổn định, cụ thể là du khách đánh giá mức  
độ điểm trung bình tương đối cao cho tỉnh An  
10  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Bảng 8. Môi trường chính trị và kinh tế  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Môi trường chính trị và kinh tế  
1
2
3
4
Đây là thành phố trẻ, kinh tế phát triển, năng động  
Nơi đây có tình hình chính trị ổn định  
Ít xảy ra trộm cướp, tệ nạn xã hội  
Các quy tắc, luật lệ rõ ràng  
3.64  
3.71  
3.59  
3.58  
3.63  
4.18  
4.29  
4.22  
4.27  
4.24  
Trung bình  
3.2.5 Yếu tố ẩm thực và mua sắm  
lưu ý yếu tố này để có thể thu hút được nhiều  
khách du lịch hơn trong tương lai. Điểm trung  
bình về món ăn đặc trưng vùng, miền, hoạt động  
mua sắm đa dạng, giá cả, phong cách phục vụ,…  
thì các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận được đánh  
giá cao hơn ở An Giang (bảng 9).  
Nhìn tổng quan, tất cả các yếu tố trong ẩm thực và  
mua sắm đều được các du khách đánh giá từ mức  
độ tương đối cao đến rất cao. Điều đó cũng có  
nghĩa là, trong khi đi du lịch, việc ăn uống và mua  
sắm là rất quan trọng, các địa phương cần đặc biệt  
Bảng 9. Ẩm thực và mua sắm  
Ninh Thuận,  
Bình Thuận  
(n=95)  
An Giang  
(n=300)  
STT  
Ẩm thực và mua sắm  
1
2
3
4
5
6
7
Nơi này có nền ẩm thực phong phú  
4.08  
3.58  
3.77  
3.8  
4.05  
Hoạt động mua sắm đa dạng  
4.07  
4.20  
4.24  
4.10  
4.07  
4.19  
4.13  
Nhiều món ăn đặc trưng vùng miền, dân dã độc đáo  
Có nhiều món ăn đặc sản hấp dẫn  
Phong cách phục vụ chuyên nghiệp  
Gía cả ăn uống, mua sắm phải chăng  
Các mặt hàng lưu niệm đặc sắc, phong phú  
Trung bình  
3.26  
3.63  
3.6  
3.67  
3.2.6 Yếu tố môi trường cảnh quan  
đánh giá cao khi có nhiều cảnh đẹp để tham quan  
và khám phá, an ninh, an toàn cho du khách và  
môi trường ít ô nhiễm, ồn ào hơn ở An Giang.  
Đây là yếu tố quan trọng thu hút khách du lịch  
trong và ngoài nước bởi vẻ đẹp thiên nhiên đặc  
trưng của các tỉnh miền Trung (bảng 10).  
Các yếu tố môi trường cảnh quan ở cả hai địa  
điểm đều được các du khách đánh giá rất cao với  
điểm trung bình lần lượt là 3.97 và 4.33 cho tỉnh  
An Giang và Ninh Thuận, Bình Thuận. Đặc biệt,  
tại tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận được du khách  
11  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Bảng 10. Môi trường và cảnh quan  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Môi trường và cảnh quan  
1
2
3
4
5
Du khách không bị hạn chế bởi rào cản ngôn ngữ  
Nhiều cảnh quan để tham quan khám phá  
Đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch  
Nơi này có khí hậu, thời tiết dễ chịu quanh năm  
Môi trường sống ít bị ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn  
Trung bình  
4.08  
4.03  
3.99  
4.04  
3.73  
3.97  
4.34  
4.43  
4.42  
4.14  
4.32  
4.33  
3.2.7 Yếu tố động lực du lịch  
Kết quả phân tích yếu tố động lực đi du lịch (bảng  
11) cho thấy, đối với điểm đến An Giang, du  
khách đánh giá cao việc đi du lịch vì yếu tố tâm  
linh, bởi vì, nơi đây nổi tiếng với nhiều chùa  
chiền và đa dạng về tôn giáo, thờ cúng. Đặc biệt,  
với địa danh nổi tiếng miếu Bà Chúa Xứ núi Sam,  
các du khách càng muốn đến đây để cúng và tham  
quan khi được truyền tai về độ linh thiêng của nơi  
đây. Trong khi đó, đối với điểm đến là các tỉnh  
Ninh Thuận, Bình Thuận thì du khách lại đánh giá  
cao việc đi du lịch để trải nghiệm văn hóa bản địa,  
bởi vì, họ mong muốn có thêm trải nghiệm, tìm  
hiểu về các đặc trưng của các vùng, miền nơi đây.  
Nhìn chung, yếu tố động lực du lịch đến các tỉnh  
miền Trung cao hơn An Giang, đặc biệt là yếu tố  
các điểm đến du lịch ở An Giang khó tiếp cận hơn  
(ĐTB khá thấp chỉ đạt 2.83), trong khi đó, ở Ninh  
Thuận, Bình Thuận là 4.08.  
Bảng 11. Động lực đi du lịch  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
STT  
Động lực du lịch  
Đi du lịch vì yếu tố tâm linh  
1
2
3
4
5
6
7
8
4.38  
3.68  
Để chứng kiến những nét đặc trưng của nơi này  
Để trải nghiệm văn hóa bản địa  
Để tham quan, khám phá  
3.79  
3.45  
3.87  
2.04  
2.08  
2.83  
3.96  
3.30  
4.31  
4.35  
4.25  
3.87  
3.33  
4.08  
4.28  
4.02  
Để giao lưu, học hỏi, tìm kiếm cơ hội kinh doanh  
Kết hợp thăm người thân  
Để dễ dàng tiếp cận những điểm đến du lịch khác  
Đến nơi này để giải trí  
Trung bình  
3.2.8 Yếu tố thông tin điểm đến  
tâm linh, nên đa phần khách du lịch đến địa điểm  
này đều được “rỉ tai” nhau về độ linh thiêng hay  
vẻ đẹp hoang sơ hùng vĩ, điểm trung bình của yếu  
tố này đạt mức tương đối cao, 4.1 điểm. Bên cạnh  
Đối với địa điểm du lịch tỉnh An Giang, đa phần  
du khách biết đến thông qua bạn bè/đồng nghiệp/  
người thân, bởi vì, nơi đây nổi tiếng về du lịch  
12  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
đó, địa điểm du lịch là tỉnh Ninh Thuận, Bình  
Thuận lại được du khách biết đến thông qua các  
phương tiện truyền thông, Internet thu hút được  
những du khách tiềm năng khác muốn đến tham  
quan du lịch, điểm trung bình của yếu tố này cũng  
đạt mức tương đối cao, 4.19 điểm. Nhìn chung, về  
cách quảng bá hình ảnh điểm đến qua các kênh  
truyền thông Marketing các tỉnh miền Trung tốt  
hơn An Giang (bảng 12).  
Bảng 12. Thông tin điểm đến  
STT  
Động lực du lịch  
An Giang  
(n=300)  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
1
2
3
4
Anh/chị biết đến nơi này là dựa vào kinh nghiệm  
Thông qua bạn bè/đồng nghiệp/người thân  
Thông qua các phương tiện truyền thông, Internet  
Thông qua đại lí du lịch/công ty du lịch  
Trung bình  
3.77  
3.35  
4.1  
2.9  
3.76  
4.19  
3.70  
3.75  
1.91  
3.17  
3.2.9  
3.2.10 Quyết định lựa chọn điểm đến của du  
những người khác là rất cao, họ cảm thấy đúng  
đắn khi quyết định chọn nơi đây là nơi du lịch và  
họ đều đánh giá tương đối cao và rất cao đối với  
các quyết định trên (bảng 13).  
khách  
Ở cả Ninh Thuận, Bình Thuận và An Giang du  
khách đều đánh giá mức độ hài lòng với quyết  
định của mình và sẽ giới thiệu địa điểm này cho  
Bảng 13. Quyết định lựa chọn điểm đến  
STT  
Động lực du lịch  
An Giang  
(n=300)  
4.43  
Ninh Thuận, Bình  
Thuận (n=95)  
1
2
3
Anh/chị hài lòng với quyết định chọn điểm đến du lịch  
4.34  
này  
Anh/chị cho rằng quyết định lựa chọn nơi này để đi du  
lịch của mình là hoàn toàn đúng đắn  
4.27  
3.92  
4.34  
4.22  
Anh/chị giữ nguyên quyết định đến nơi này ngay cả khi  
có cơ hội được thay đổi  
4
5
Anh/chị sẽ giới thiệu địa điểm này cho những người khác  
Anh/chị đã cân nhắc kĩ lưỡng trước khi lựa chọn nơi này  
Trung bình  
4.43  
3.85  
4.18  
4.43  
4.30  
4.32  
Kết quả phân tích quyết định lựa chọn điểm đến  
du lịch ở An Giang và miền Trung (hình 3) chỉ ra  
rằng, du khách ở địa điểm du lịch tỉnh An Giang  
và tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận đều nhận định  
yếu tố môi trường, cảnh quan là quan trọng nhất,  
với điểm số trung bình lần lượt là 3.97 điểm và  
4.33 điểm. Bên cạnh đó, điểm đến là tỉnh Ninh  
Thuận, Bình Thuận và tỉnh An Giang, du khách  
cũng không được đánh giá cao yếu tố về thông tin  
điểm đến so với các yếu tố còn lại. Điểm trung  
13  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
bình đạt thấp nhất trong các yếu tố lần lượt là 3.75  
điểm và 3.17 điểm. Các yếu tố còn lại của các tỉnh  
cũng được đánh giá tốt từ mức cao trở lên. Nhìn  
chung, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa  
chọn điểm đến của du khách ở miền Trung được  
đánh giá cao hơn ở An Giang. Động cơ du lịch  
đến An Giang ở yếu tố tâm linh huyền bí là chủ  
yếu với nhiều chùa chiền và các công trình kiến  
trúc văn hóa độc đáo.  
3.750  
3.170  
Thông tin điểm đến  
Động lực du lịch  
4.019  
3.300  
4.328  
3.974  
Môi trường cảnh quan  
4.131  
3.674  
Ẩm thực và mua sắm  
4.238  
3.630  
Môi trường chính trị và kinh tế  
Điều kiện giải trí và thư giãn  
Lịch sử và văn hóa  
4.254  
3.845  
4.259  
3.901  
4.108  
3.534  
Cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận điểm đến  
1
2
3
4
5
An Giang  
Miền Trung  
Hình 3. So sánh quyết định lựa chọn điểm đến du lịch ở An Giang và miền Trung  
3.3 Nhu cầu trải nghiệm văn hóa dân tộc  
Chăm của du khách  
những giá trị văn hóa đặc trưng của dân tộc Chăm  
theo Islam giáo.  
Kết quả khảo sát ở hình 4 cho thấy, phần lớn du  
khách khi đến Ninh Thuận, Bình Thuận đều thích  
trải nghiệm các giá trị văn hóa dân tộc Chăm ở  
làng Chăm mô hình và từng làng Chăm cụ thể. Du  
khách thường được đưa đến tham quan làng Chăm  
mô hình, nơi tập trung các giá trị văn hóa dân tộc  
Chăm nơi đây. Sau đó, nếu du khách nhận thấy bị  
cuốn hút bởi một giá trị văn hóa cụ thể nào đó, ví  
dụ như sản phẩm dệt, du khách có thể đến tham  
quan, trải nghiệm và mua sắm tại một làng Chăm  
cụ thể chuyên về nghề dệt. Ngược lại, 67% du  
khách đến An Giang lại cho rằng, họ thích trải  
nghiệm giá trị văn hóa dân tộc Chăm Islam tại  
những địa danh/làng Chăm cụ thể vì các làng  
Chăm nơi đây tương đối giống nhau, đều mang  
Ngoài ra, gần 20% du khách mong muốn trải  
nghiệm giá trị văn hóa Chăm trong một mô hình  
thu nhỏ, đây có thể là một nhà trưng bày lưu giữ  
các giá trị văn hóa Chăm kết hợp với khu vực bán  
đồ lưu niệm truyền thống, khu vực phục vụ các  
món ẩm thực dân tộc và khu vực biểu diễn các  
điệu múa, âm nhạc đặc trưng của dân tộc Chăm  
Islam. Nhóm du khách này cho biết, đến An  
Giang chủ yếu vì yếu tố tâm linh, nên ít có thời  
gian để ghé thăm nhiều nơi, nhưng nếu có một nơi  
tập trung các giá trị văn hóa đặc sắc thuận tiện  
tuyến đường di chuyển, họ sẽ ưu tiên trải nghiệm  
hơn là di chuyển xa đến nhiều địa danh khác  
nhau.  
14  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
48.900%  
Bình Thuận  
Ninh Thuận  
An Giang  
37.800%  
13.300%  
64.00%  
Cả hai  
24.00%  
12.00%  
Đến từng địa danh cụ thể  
Làng Chăm mô hình  
19.700%  
19.00%  
20.00%  
67.300%  
.00%  
40.00%  
60.00%  
80.00%  
Hình 4. Lựa chọn trải nghiệm văn hóa Chăm  
Hình 5 trình bày thông tin về dự định quay lại trải  
nghiệm các giá trị văn hóa dân tộc Chăm của du  
khách và hình 8 thể hiện sự sẵn sàng của du khách  
trong việc giới thiệu các giá trị văn hóa Chăm cho  
những người mà họ quen biết. Hầu hết du khách  
đã trải nghiệm các giá trị văn hóa Chăm tại hai  
tỉnh miền Trung trong cuộc khảo sát này cho biết,  
họ có dự định quay lại để trải nghiệm, tìm hiểu  
nhiều hơn về văn hóa Chăm nơi đây. Chỉ khoảng  
72% du khách đến An Giang dự kiến sẽ quay lại  
để trải nghiệm văn hóa Chăm Islam và 75% dự  
định sẽ giới thiệu các giá trị văn hóa này cho bạn  
bè người thân nếu sự trải nghiệm của họ có nhiều  
điều thú vị. Nhiều du khách còn tỏ ra bất ngờ khi  
được hỏi về văn hóa Chăm Islam, vì họ nghĩ rằng,  
ngoài người Kinh và người Hoa, ở khu vực này  
chỉ có người Khmer sinh sống.  
.000%  
Bình Thuận .000%  
100.000%  
Không biết  
.000%  
Ninh Thuận  
6.000%  
Không  
Có  
94.000%  
7.000%  
An Giang  
20.300%  
72.700%  
.000% 20.000% 40.000% 60.000% 80.000% 100.000% 120.000%  
Hình 5. Dự định quay lại trải nghiệm văn hóa Chăm  
Hầu hết du khách đã trải nghiệm các giá trị văn  
hóa Chăm tại hai tỉnh miền Trung trong cuộc khảo  
sát này cho biết, họ sẽ giới thiệu cho bạn bè, đồng  
nghiệp, người thân về các giá trị văn hóa nơi đây;  
hơn 20% du khách cho rằng, họ sẽ không trở lại  
trải nghiệm văn hóa Chăm Islam và sẽ không giới  
thiệu văn hóa Chăm cho những người họ quen  
biết, bởi vì họ không nhận thấy điều gì đặc sắc  
ngoài một vài thánh đường họ đã gặp tại khu vực  
này (hình 6).  
15  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
2.200%  
Bình Thuận .000%  
97.800%  
Không biết  
Không  
Có  
.000%  
Ninh Thuận .000%  
100.000%  
6.300%  
An Giang  
18.700%  
75.000%  
.000% 20.000% 40.000% 60.000% 80.000%100.000%120.000%  
Hình 6. Dự định giới thiệu văn hóa Chăm cho bạn bè, đồng nghiệp, người thân  
4. KẾT LUẬN  
giá trị văn hóa Chăm Islam tại một làng Chăm cụ  
thể, nơi có tất cả các giá trị văn hóa đặc trưng của  
dân tộc Chăm như kiến trúc thánh đường, nét đặc  
trưng tôn giáo, lễ hội, ẩm thực, trang phục và các  
sản phẩm truyền thống,… vì đa phần du khách  
đến An Giang chủ yếu vì yếu tố tâm linh, nên ít có  
thời gian để ghé thăm nhiều nơi, nhưng nếu có  
một nơi tập trung các giá trị văn hóa đặc sắc thuận  
tiện tuyến đường di chuyển, họ sẽ ưu tiên trải  
nghiệm hơn là di chuyển xa đến nhiều địa danh  
khác nhau.  
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, du khách đi du  
lịch trung bình 3 lần/năm; thời gian mỗi chuyến đi  
kéo dài khoảng 03 ngày. Một điều đáng lưu ý là,  
thời gian du khách lưu trú tại An Giang trung bình  
là 02 ngày/chuyến đi. Trong khi đó, thời gian lưu  
trú trung bình của du khách đến Ninh Thuận, Bình  
Thuận là 5,4 ngày. Tuy nhiên, tần suất du khách  
quay lại An Giang cao hơn so với tần suất du  
khách quay lại 02 tỉnh miền Trung. Du khách đến  
An Giang chủ yếu bị thu hút bởi khía cạnh tâm  
linh và cảnh quan thiên nhiên, trong khi du khách  
đến Ninh Thuận Bình Thuận là nhờ yếu tố du lịch  
nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái. Du khách quyết  
định đến An Giang chủ yếu tham khảo thông tin  
từ bạn bè, đồng nghiệp, người thân; trong khi đó,  
nguồn thông tin tham khảo quan trọng đối với du  
khách đến 2 tỉnh miền Trung là nhờ các phương  
tiện truyền thông, internet và các công ty du lịch.  
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn điểm  
đến du lịch cho thấy, du khách ở địa điểm du lịch  
tỉnh An Giang và tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận  
đều nhận định yếu tố môi trường cảnh quan là  
quan trọng nhất. Tuy nhiên, điểm đến là tỉnh Ninh  
Thuận, Bình Thuận và tỉnh An Giang, du khách  
cũng không được đánh giá cao yếu tố về thông tin  
điểm đến so với các yếu tố còn lại. Các yếu tố còn  
lại của các tỉnh cũng được đánh giá tốt từ mức cao  
trở lên. Nhìn chung, các yếu tố ảnh hưởng đến  
quyết định lựa chọn điểm đến của du khách ở  
miền Trung được đánh giá cao hơn ở An Giang.  
Động cơ du lịch đến An Giang ở yếu tố tâm linh  
huyền bí là chủ yếu với nhiều chùa chiền và các  
công trình kiến trúc văn hóa độc đáo.  
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tỉ lệ du khách  
đã trải nghiệm các giá trị văn hóa dân tộc Chăm  
Islam tại An Giang khá thấp, nhiều du khách tỏ ra  
bất ngờ khi biết ở An Giang còn có một nhánh  
văn hóa Chăm Islam. Những du khách đã trải  
nghiệm văn hóa Chăm Islam đánh giá các giá trị  
văn hóa này là đặc sắc, hấp dẫn và dự kiến sẽ trải  
nghiệm và tìm hiểu sâu hơn về nó. Những du  
khách chưa biết về văn hóa Chăm Islam An Giang  
cũng tỏ ra hào hứng và dự kiến sẽ trải nghiệm các  
giá trị văn hóa này khi quay lại An Giang lần sau.  
Phần lớn du khách (67%) muốn trải nghiệm các  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bozbay, Z., & Ozen, H. (2008). Measuring the  
Destinarionlmages of European Cities. The 4th  
World Conference for Graduate Researchin  
Tourism. Hospitality and Leisure, 725-738.  
16  
AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 1 – 17  
Báo Du lịch Việt Nam. (2019). Xu hướng phát  
triển của du lịch thế giới trong giai đoạn tới.  
Nguyễn Tuấn. (2020). Khai thác các lễ hội truyền  
thống phục vụ phát triển du lịch ở Thanh Hóa.  
Chi, C. G. Q., & Qu, H. Examining structural  
relationship of destination image, tourist  
satisfaction, and destination loyalty: An  
integrated approach. Tourism management, 29,  
624-632.  
Nguyễn Xuân Hiệp. (2016). Các yếu tố ảnh hưởng  
đến quyết định lựa chọn điểm đến của khách  
du lịch: Trường hợp điểm đến Thành phố Hồ  
Chí Minh. Tạp chí phát triển kinh tế, 27(9),  
53-72.  
Cổng thông tin điện tử An Giang (2018). Ngành  
du lịch An Giang: liên kết để phát triển bền  
Phạm Trọng Nghĩa. (2019). Du lịch văn hoá  
(Cultural tourism) là gì? Thực trạng phát triển.  
vững.Truy  
cập  
từ:  
Phương Liên. (2018). Du lịch Việt Nam 2017:  
nhiều dấu ấn đặc biệt. Truy cập từ:  
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch An Giang.  
(2014). Phân tích, đánh giá thực trạng ngành  
Du lịch An Giang giai đoạn 2001 – 2012.  
Du lịch Việt Nam. (2019). Làng Chăm thay đổi  
cuộc sống từ du lịch văn hóa cộng đồng. Truy  
Thông tấn xã Việt Nam. (2019). Những xu hướng  
du lịch mới của thế giới và Việt Nam. Truy  
Keating, B. W., & Kriz, A. (2008). Outbound  
tourism from China: Literature review and  
researd agenda. Journal of Hospitality and  
Tourism Management, 15(2), 32-41.  
Trần Viết Lưu. (2005). Thực trạng và giải pháp  
phát triển giáo dục ở vùng có đông đồng bào  
Chăm.  
Truy  
cập  
từ:  
Mutinda, R., & Mayaka, M. (2012). Application  
of destination choice model: Factors  
influencing domestic tourist destination choice  
among residents of Nairobi, Kenya. Tourism  
Management, 33(6), 1593-1597.  
Um, S., & Crompton, J. L. (1990). The Roles of  
Perceived Inhibitors and Facillitators in  
Pleasure Travel Destination Decisions.  
Journal of Travel Research, 30(3),18-25.  
Nhật Nam (2019). Du lịch Việt Nam tăng trưởng  
thần kỳ, đón 18 triệu lượt khách quốc tế. Truy  
Woodside, A. G., & Lysonski, S. (1989).A  
general model of traveler destination choice.  
Journal of Travel Research, 27(4), 8-14.  
Wu, W. C. (2009). Factors affecting destination  
choice for inbound tourist to Taiwan.  
(Unpublished master's thesis).National Cheng  
Kung University, Taiwan.  
Nguyễn Thành Nhân. (2016). Văn hóa quản lý xã  
hội truyền thống của người Chăm An Giang.  
Truy  
cập  
từ:  
17  
pdf 17 trang yennguyen 22080 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá của du khách đối với các điểm đến du lịch văn hóa Chăm: So sánh giữa An Giang và miền Trung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_cua_du_khach_doi_voi_cac_diem_den_du_lich_van_hoa_c.pdf