Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng với dịch vụ du lịch lữ hành nội địa

CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG  
VỚI DỊCH VỤ DU LỊCH LỮ HÀNH NỘI ĐỊA  
Nguyễn Bình Minh*  
Nguyễn Đức Tiến**  
Đào Trọng Tấn***  
Nguyễn Bảo Ngọc****  
Nguyễn Việt Dũng*****  
TÓM TẮT - Dựa trên mô hình chất lượng dịch vụ của Parasuraman(1988), nghiên cứu này nhằm xây  
dựng và kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố gồm: giá cảm nhận, cơ sở vật chất, nhân viên lữ hành;  
chương trình tham quan và sự tin cậy của công ty với sự thỏa mãn của khách hàng sử dụng dịch vụ du  
lịch lữ hành. Kết quả phân tích mô hình hồi qui bội (MRA - Multiple Regression Analysis) sử dụng dữ liệu  
khảo sát khách hàng sử dụng dịch vụ du lịch lữ hành tại Hà Nội (n = 472) cho thấy các giả thuyết nhóm  
nghiên cứu đưa ra đều được chấp nhận. Cụ thể, hai yếu tố có tác động mạnh nhất đến sự thỏa mãn của  
khách hàng là nhân viên và giá cảm nhận; ba yếu tố: tin cậy; chương trình; cơ sở vật có tác động mạnh  
gần như nhau.  
Từ khóa - Chất lượng dịch vụ; Sự thỏa mãn, Giá cảm nhận; Cơ sở vật chất; Du lịch lữ hành.  
ABSTRACT - Based on the service quality model of Parasuraman (1988), this study aims to test the  
relationship between perceived price, facilities, tourguides, tour programs, business’s reliability and  
travellers’ satisfaction. The data is collected from the population of travellers in Hanoi (n=472) and the  
results of the Multiple Regression Analysis (MRA) illustrates all supported hypothesises. Specifically,  
tourguides followed by percieved price are the most significant antecedents of customer’s satisfaction on  
tourism services. Business’s reliability; tourism program; facilities have affected at the same level.  
Key words - Service quality; Satisfaction; Perceived price Facilities; Tourism program;  
1. GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU  
Sự thỏa mãn của khách hàng, chất lượng dịch vụ, đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế  
giới và Việt Nam. Nhiều mô hình về sự thỏa mãn của khách hàng cũng đã được phát triển và đề  
* Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông. Tác giả nhận phản hồi: Email: [email protected]; Mobile: 0936355699  
** ĐH Kinh tế Đã Nẵng. Tác giả nhận phản hồi: Email: [email protected]; Mobile: 0914054329  
*** Công ty CP Tavi Interntaional. Tác giả nhận phản hồi: Email: [email protected]; Mobile: 0902106683  
**** Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông. Tác giả nhận phản hồi: Email: [email protected]; Mobile:  
0837898686  
***** Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn Thông. Tác giả nhận phản hồi: Email: [email protected]; Mobile: 0936319698  
12  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
xuất nhiều nhân tố tác động tới sự thỏa mãn. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về sự thỏa  
mãn của khách hàng ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính ngân hàng, viễn thông, thủy sản,  
siêu thị…(Phạm Đức Kỳ, Bùi Nguyên Hưng 2007; Nguyễn Thành Công, Phạm Ngọc Thúy 2007,  
Hồ Huy Tựu & cộng sự 2007, Nguyễn Thị Mai Trang 2006). Các nghiên cứu này đã có những  
tổng kết về mô hình cũng như tìm ra được các biến có tác động trực tiếp cũng như gián tiếp đến sự  
thỏa mãn của khách hàng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, những nghiên cứu về du lịch nói  
chung và du lịch lữ hành nói chung không còn nhiều. Các nhân tố tác động đến sự thỏa mãn của  
khách hàng trong ngành này có thể đã thay đổi nhiều so với những kết quả nghiên cứu trước đây.  
Chính vì vậy, nghiên cứu này có thể giúp cho các nhà hoạt động thực tiễn có những góc nhìn mới  
về từng loại đối tượng, từng phân khúc khách hàng trên thị trường.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Giá cảm nhận  
Đối với người tiêu dùng, giá là cái bị từ bỏ để đạt được một sản phẩm. Các bộ phận của giá  
bao gồm: giá của đối tượng, giá phi tiền tệ được cảm nhận, và cái từ bỏ. Nghiên cứu này định nghĩa  
và đo lường khái niệm giá dưới góc độ là giá cảm nhận của người tiêu dùng được giải thích theo  
cách mà có ý nghĩa với họ (Zeithaml, 1988).  
2.2. Chất lượng dịch vụ  
Có nhiều định nghĩa về chất lượng dịch vụ. Theo Edvardsson, Thomsson và Ovretveit (1994)  
thì chất lượng dịch vụ là sự đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng đối với dịch vụ và làm thỏa  
mãn nhu cầu của họ. Một nghiên cứu được nhiều người biết đến nhất, được nhiều người công nhận  
và sử dụng đến ngày nay là nghiên cứu của Parasuraman và các cộng sự (1988, 1991). Theo các  
tác giả này, chất lượng dịch vụ được định nghĩa là: “mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của  
người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”.  
Từ những định nghĩa trên ta có thể thấy một số đặc điểm về chất lượng dịch vụ.  
Thứ nhất, chất lượng dịch vụ khó đánh giá hơn chất lượng sản phẩm hữu hình.  
Thứ hai, nhận thức về chất lượng dịch vụ của khách hàng là kết quả của quá trình so sánh  
giữa sự mong đợi của khách hàng với những hoạt động cụ thể của tổ chức nhằm đáp ứng những  
mong đợi của họ.  
Thứ ba, những đánh giá về chất lượng dịch vụ không chỉ được tạo ra từ dịch vụ mà còn bao  
hàm những đánh giá về quá trình cung cấp dịch vụ của nhà cung ứng dịch vụ đối với khách hàng  
2.3. Sự thỏa mãn  
Sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm quan trọng trong lý thuyết cũng như hoạt động  
thực tiễn của marketing. Các lý thuyết marketing đều nhấn mạnh đến việc mang lại sự thỏa mãn  
cho khách hàng và từ đó đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, sự thỏa mãn của khách  
hàng là yếu tố hết sức quan trọng để các doanh nghiệp hướng tới và cố gắng bằng mọi cách nhằm  
thỏa mãn nhu cầu rất khác nhau của từng đối tượng khách hàng cá nhân cũng như tổ chức. Có rất  
nhiều định nghĩa về sự thỏa mãn của khách hàng từ các nghiên cứu khác nhau như: Westbrook  
(1980), Brown (1992), Bitner và Hubbert (1994), Bachelet (1995), Oliver (1997), Philip Kotler  
(2001), Zeithaml và Bitner (2003). Nghiên cứu này coi sự thỏa mãn của khách hàng là trạng thái  
cảm xúc mà ở đó nhu cầu, mong muốn và mong đợi của khách hàng về một sản phẩm hay dịch  
13  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
vụ được đáp ứng bằng hoặc trên mức mong đợi. Sự thỏa mãn của khách hàng có những điểm sau.  
Thứ nhất, sự thỏa mãn của khách hàng là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi cảm giác trước khi sử  
dụng, trong khi sử dụng và sau khi sử dụng dịch sản phẩm hoặc dịch vụ. Thứ hai, sự thỏa mãn của  
khách hàng mang tính cảm xúc sau những trải nghiệm của họ với sản phẩm hoặc dịch vụ. Thứ ba,  
sự thỏa mãn của khách hàng mang tính kì vọng.  
2.4. Các khái niệm chung về lữ hành  
Hiện nay tồn tại hai cách hiểu và tiếp cận về khái niệm lữ hành.  
Cách tiếp cận thứ nhất: Lữ hành (Travel) được hiểu là tất cả sự di chuyển, đi lại của con người  
và những hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó. Hiểu theo nghĩa rộng này thì lữ hành (travel) và  
du lịch (tourism) có nghĩa gần tương đương nhau, thuật ngữ “du lịch lữ hành” (travel and tourism)  
để chỉ chung cho các hoạt động di chuyển, đi lại của con người với mục đích du lịch [6].  
Cách tiếp cận thứ hai: Lữ hành, ở phạm vi hẹp hơn, được phân biệt với các hoạt động du  
lịch khác như khách sạn, nhà hàng, vui chơi giải trí… là tổ chức các chương trình du lịch (tour).  
Thuật ngữ “du lịch lữ hành” hoặc “lữ hành” được hiểu theo nghĩa hẹp, được ghi trong Luật du  
lịch Việt Nam (2005), “là hoạt động mà ở đó xây dựng, mua bán và tổ chức toàn bộ hoặc một  
phần chương trình du lịch được diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của du khách”.  
Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động gồm khảo sát,  
nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình du lịch, tiến hành bán các chương trình du lịch  
cho khách hàng, đại lý trung gian, tổ chức các chương trình du lịch và hướng dẫn du khách trong  
suốt quá trình diễn ra chương trình du lịch đó.  
Kinh doanh lữ hành gồm kinh doanh lữ hành nội địa, kinh doanh lữ hành quốc tế.  
Từ khái niệm kinh doanh lữ hành, có thể hiểu kinh doanh lữ hành nội địa là việc thực hiện  
một, một số hoặc tất cả các hoạt động gồm khảo sát, nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương  
trình du lịch nội địa, tiến hành bán các chương trình du lịch cho khách hàng, đại lý trung gian, tổ  
chức các chương trình du lịch nội địa và hướng dẫn du lịch cho khách nội địa đi du lịch trong nước.  
2.5. Mô hình nghiên cứu có liên quan  
Parasuraman và cộng sự (1988,1991) đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính  
và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần của chất lượng dịch vụ  
(gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL được điều chỉnh và kiểm định ở  
nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Cuối cùng thang đo SERVQUAL bao gồm 22 biến để  
đo lường 5 thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: độ tin cậy (reliability), tính đáp ứng  
(responsiveness), tính đảm bảo (assurance), phương tiện hữu hình (tangibles) và sự đồng cảm  
(empathy). Parasuraman và cộng sự (1991) khẳng định rằng SERVQUAL là thang đo hoàn  
chỉnh về chất lượng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, và có thể được ứng dụng cho mọi loại  
hình dịch vụ khác nhau.  
Một nghiên cứu nổi tiếng khác, đồng thời cũng được ứng dụng nhiều trên thế giới và Việt  
Nam là nghiên cứu của Gronroos (1984). Trong nghiên cứu này tác giả đã đề xuất hai thành phần  
của chất lượng dịch vụ là: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng kỹ thuật được  
hiểu là sự phản ánh kết quả của quá trình cung cấp dịch vụ hoặc là những gì mà khách hàng nhận  
14  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
được trong quá trình sử dụng dịch vụ. Chất lượng chức năng được hiểu là: dịch vụ được thực hiện  
như thế nào trong quá trình quá trình tương tác giữa nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng.  
2.6. Các nghiên cứ về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng  
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn là hai khái  
niệm phân biệt (Bitner, 1990; Boulding et al., 1993). Tuy vậy, chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn  
của khách hàng có liên hệ chặt chẽ với nhau (Parasuraman et al., 1988). Những nghiên cứu điển  
hình về sự tác động của chất lượng dịch vụ đến sự thỏa mãn của khách hàng bao gồm Peter và  
Olson (1990), Homburg và Giering (2001), Anderson và cộng sự (1994), Mc Quitty và cộng sự  
(2000), (Cronin & Taylor, 1992). Trong thực tế, cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu khác đã kiểm  
định thang đo của Parasuraman với nhiều loại hình dịch vụ cũng như tại nhiều quốc gia khác nhau.  
Kết quả cho thấy các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với nhau ở từng ngành  
dịch vụ và từng thị trường khác nhau như những nghiên cứu của các tác giả Bojanic (1991); Cronin  
và Taylor (1992); Dabholkar và cộng sự (1996); Lassar và cộng sự (2000); Mehta và cộng sự  
(2000); Nguyễn và cộng sự (2003). Ví dụ, nghiên cứu của Mehta và cộng sự (2000) tại Singapore  
cho thấy chất lượng dịch vụ siêu thị chỉ bao gồm hai thành phần: phương tiện hữu hình và nhân  
viên phục vụ. Nguyễn và cộng sự (2003) kiểm định SERVQUAL cho thị trường khu vui chơi giải  
trí ngoài trời tại TPHCM thì chất lượng dịch vụ bao gồm bốn thành phần: độ tin cậy, khả năng phục  
vụ của nhân viên, sự đồng cảm, và phương tiện hữu hình. Một nghiên cứu nữa cũng được nhiều  
người biết đến trong chất lượng dịch vụ bán lẻ đó là công trình của Dabholka và cộng sự (1996).  
Công trình này dựa trên kết quả của Parasuraman và kết luận chất lượng dịch vụ bán lẻ gồm năm  
thành phần chính: phương tiện hữu hình, độ tin cậy, nhân viên phục vụ, giải quyết khiếu nại và  
chính sách của cửa hàng.  
Bên cạnh các nghiên cứu trong và nước ngoài có liên quan đến chất lượng dịch vụ và sự thỏa  
mãn của khách hàng thì cũng có một số nghiên cứu trong nước về chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn  
của khách hàng về du lịch nội địa như: Đặng Hải Hà (2011); Nguyễn Khắc Minh Trường (2012);  
Trần Thị Thái (2012); Trương Thị Thùy Linh (2013); Đinh Quốc Hưng (2013); Lê Thị Tuyết và  
cộng sự (2014); Hồ Thị Ngọc Hiền (2015); Lê Thị Thu Hoài (2015)…  
2.7. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa giá và sự thỏa mãn  
Tác động của giá lên sự thỏa mãn nhận được sự quan tâm ít hơn nhiều so với vai trò của sự  
kỳ vọng và các cảm nhận thực hiện, nhưng các đề xuất dựa vào giá đối với sự thỏa mãn được đề  
nghị nghiên cứu và thực hành khá rộng rãi. Tuy nhiên, các ấn phẩm về sự thỏa mãn chỉ cung cấp  
một cái nhìn rất hạn chế liên quan đến tác động có thể có của các quyết định về giá lên sự thỏa mãn  
của người tiêu dùng. Từ đó, Voss et al. (1998) đã xác định vai trò của giá đối với sự thỏa mãn. Họ  
cho rằng các cảm nhận về giá sau khi mua có tác động dương lên sự thỏa mãn và bản thân nó chịu  
ảnh hưởng dương của các cảm nhận về giá trước khi mua, mặt khác cảm nhận giá trước khi mua  
cũng có tác động dương lên sự thỏa mãn.  
2.8. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết  
Từ các nghiên cứu và lý thuyết như đã trình bày ở trên, tác giả có những giả thuyết và mô  
hình nghiên cứu như sau:  
H1: Cơ sở vật chất tổ chức tham quan có tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng  
H2: Nhân viên phục vụ có tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng  
H3: Chương trình tham quan có tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng  
H4: Sự tin cậy có tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng  
15  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
H5: Giá cảm nhận có tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Trong nghiên cứu này, tác giả chủ yếu dùng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu  
định lượng nhằm kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề xuất. Việc xây dựng các thang đo dựa trên  
thang đo của các nghiên cứu trong và ngoài nước.  
Kích thước mẫu trong nghiên cứu n = 472 được thu thập bằng hai phương pháp phát bảng hỏi,  
điều tra qua mạng với thang đo Likert 5 (1 là rất không đồng ý; 2 không đồng ý; 3 bình thường; 4  
đồng ý; 5 rất đồng ý). Các đối tượng được hỏi là các khách hàng có tour du lịch lữ hành tại Hà Nội.  
Có 5 biến độc lập; 01 biến phụ thuộc. Cụ thể, Biến cơ sở vật chất tổ chức tham quan có: 04 quan  
sát; Biến nhân viên phục vụ có 07 quan sát; Biến chương trình tham quan có 03 quan sát; Biến  
sự tin cậy có 05 quan sát; Biến Giá cảm nhận có 03 quan sát; Biến sự thỏa mãn có 03 quan sát.  
Phiếu hỏi sau khi thu về sẽ được mã hóa và tiến hành trên phần mềm SPSS. Các kỹ thuật phân  
tích chính trong nghiên cứu gồm: kiểm tra hệ số tin cậy thang đo Alpha Cronbach; kiểm tra hệ số  
tương quan và kiểm tra kết quả hồi qui.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1. Kết quả độ tin cậy của các thang đo  
Sau khi kiểm tra độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha ta thấy đa phần các  
thang đo đều có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0.7 và hệ số tương quan với biến tổng lớn 0.3.  
Điều này đảm bảo độ tin cậy của thang đo. Cụ thể độ tin cậy của các thang đo như sau: Biến cơ sở  
vật chất tổ chức tham quan: 0.942; Biến nhân viên phục vụ: 0.928; Biến chương trình tham quan:  
0.801; Biến sự tin cậy: 0.847; Biến Giá cảm nhận: 0.939; Biến sự thỏa mãn: 0.775  
4.2. Ma trận hệ số tương quan  
Sau khi kiểm định độ tin cậy và giá trị của thang đo, các nhân tố được đưa vào kiểm định mô  
hình. Trước khi kiểm định mô hình, kiểm địn hệ số tương quan Person được sử dụng để kiểm tra  
mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và phụ thuộc. Dựa vào ma trận tương quan (Bảng 2),  
ta thấy đa số các biến độc lập đều có tương quan với biến phụ thuộc của mô hình, các giá trị hệ số  
tương quan đều nằm trong khoảng từ 0 đến 0,8. Do đó, có thể tạm kết luận rằng mối quan hệ giữa  
các biến là có ý nghĩa và có thể dùng phương pháp khác để kiểm định các mối quan hiện này.  
16  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
CO SO  
VAT  
CHAT  
CHUONG  
TRINH  
TIN  
CAY  
HAI  
LONG  
NHAN VIEN  
GIA  
NHANVIEN  
1
CHUONG TRINH  
.510**  
1
CO SO VAT  
CHAT  
.677**  
.440**  
1
.598**  
.796**  
.949**  
.736**  
.693**  
.487**  
.522**  
.741**  
.661**  
1
TIN CAY  
GIA  
.702**  
.573** .765**  
1
HAI LONG  
1
**. Correlation is  
significant at the  
0.01 level (2-tailed).  
Bảng 1. Ma trận hệ số tương quan  
4.3. Kết quả phân tích hồi qui các biến độc lập với sự thỏa mãn của khách hàng  
Trước hết, mô hình hồi quy được thực hiện để kiểm định mối quan hệ giữa sự thỏa mãn của  
khách hàng với các khía cạnh của chất lượng dịch vụ. Nhìn vào Bảng 2 ta nhận thấy mô hình có  
ý nghĩa thống kê kê (F=7,059, p<0,000) và giải thích được 76,6% sự biến thiên của sự thỏa mãn  
của khách hàng.  
Trong mô hình này, có các biến tác động đến sự thỏa mãn của khách hàng gồm: nhân viên  
(.0723, p ≤ 0.001); Chương trình (.056;**p ≤ 0.01); Cơ sở vật chất (.052; p ≤ 0.05); Tin cậy (.059;  
p ≤ 0.05); Giá (.214; p ≤ 0.01). Như vậy, các giả thuyết từ H1 đến H5 đều được chấp nhận. Kết quả  
được tóm tắt ở Bảng 2.  
Phương trình và sig  
Mô hình  
Biến  
Nhân viên  
Chương trình  
Cơ sở vật chất  
Tin cậy  
.723***  
.056**  
.052*  
059*  
Giá  
.214***  
R2 điều chỉnh  
F
.766  
7.059***  
N = 472; p ≤ 0.1; *p ≤ 0.05; **p ≤ 0.01; ***p ≤ 0.001  
Tất cả hệ số tương quan đã được chuẩn hóa  
Bảng 2. Kết quả hồi qui giữa các biến độc lập và sự thỏa mãn của khách hàng  
17  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
5. BÌNH LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Tất cả 5 yếu tố nhân viên, chương trình du lịch; cơ sở vật chất, tin cậy và giá đều có tác  
động thuận chiều đến sự thỏa mãn của khách hàng. Hai yếu tố có tác động mạnh nhất là nhân viên  
(.0723) và giá (.214). Tiếp theo là hai yếu tố tin cậy (.059) và chương trình du lịch lữ hành (.056).  
Yếu tố cơ sở vật chất (.052) có tác động yếu nhất trong năm yếu tố.  
Do tính chất đặc thù của ngành nghề, nên yếu tố nhân viên trong du lịch nói chung và du  
lịch lữ hành nói riêng chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Chất lượng của chuyến du lịch một  
phần phụ thuộc vào năng lực của nhân viên. Chính vì vậy, các công ty cần tạo điều kiện thuận lợi  
bồi dưỡng năng lực của nhân viên cũng như tuyển chọn, giữ chân được những nhân viên có kinh  
nghiệm, yêu nghề. Ngoài yếu tố nhân viên, các công ty du lịch lữ hành cũng cần chú ý đến mức  
giá và chương trình du lịch vì đây là một trong những điểm khách hàng quan tâm đồng thời giúp  
doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt và tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ  
cạnh tranh khác. Yếu tố cơ sở vật chất cũng là điều các doanh nghiệp lữ hành cần quan tâm vì nó  
cũng giúp tạo nên sự thỏa mãn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Apoorva Palkar (2004), Determinants of Customer Satisfaction for Cellular Service  
Providers, Vol. 28, No,1, Jan-March 2004.  
[2] Bitner, M.J. (1990), “Evaluatingserviceencounters:Theeffectsofphysicalsurroundings  
and employee responses”, Journal of Marketing, Vol. 54, April, pp. 69-82.  
[3] Boulding, W., Kalra, A., Staelin, R and Zeithaml, V.A. (1993), “A dynamic process  
model of service quality: from expectation to behavioral intentions”, Journal of Marketing  
Reasearch, Vol. 30, February, pp. 7-27.  
[4] Edvardsson,B.,Thomasson,B.,andOvretveit,J.(1994),Qualityinservice.Maidenhead,  
McGraw Hill.  
[5] Eli M.Noam, The Quality of regulation in Regulating Quality: A Proposal for an  
Intergrated Incentive Approach to Telephone Service Performance, in Price Caps and Incentive  
Regulation in Telecommunications, ed. Micheal Einhorn (Boston: Kluwer Academic Publishers,  
1991) 168-189  
[6] Gronroos, C. (1984), Strategic Management and Marketing in the Service Sector  
[7] Kim Moon-Koo., et al,. (2004), “The effects of customer satisfaction and switching  
barrier on customer loyalty in Korean Mobile Telecommunication services”, Telecommunication  
Policy, Vol. 28, pp. 145-159.  
[8] Parasuraman, A. V. A. Zeithaml, & L.L.Berry (1988), “SERQUAL: A multiple-Item  
scale for measuring consumer perceptions of service quality”, Jounal of Retailing.  
[9] Parasuraman,A., Zeithaml, V.A., and Berry, L.L.(1985), “Aconceptual model of service  
quality and its implications for future reseach”, Journal of Marketing, Vol. 49, Fall, pp.41-50.  
18  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG TRONG ĐIỀU KIỆN TOÀN CẦU HÓA  
[10] Phạm Đức Kỳ, Bùi Nguyên Hùng. (2007), Nghiên cứu sự trung thành của khách hàng  
đối với dịch vụ thông tin di động tại thị trường TP.HCM. Đọc từ http://www.mba-15.com/view_  
news.php?id=491 ngày 02/03/2010.  
[11] Wen-Hai Chih & Tzy-Wen Tang & I-Ju Chen (2002), The Service Quality Perceptional  
Analysis of Mobile Phone User in Mainland China, National Dong Hwa University.  
pdf 8 trang yennguyen 19920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng với dịch vụ du lịch lữ hành nội địa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_dich_vu_va_su_thoa_man_cua_khach_hang_voi_dich_vu.pdf