Hội nhập của công giáo với văn hóa Việt Nam (Qua nghiên cứu một số biểu tượng tại Nhà thờ Công giáo ở giáo phận Hà Nội và Giáo phận Bùi Chu)

Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 – 2019  
75  
ĐỖ TRẦN PHƯƠNG*  
BÙI VĂN HÀI**  
HỘI NHẬP CỦA CÔNG GIÁO VỚI VĂN HÓA VIỆT NAM  
(QUA NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG TẠI NHÀ THỜ  
CÔNG GIÁO Ở GIÁO PHẬN HÀ NỘI VÀ GIÁO PHẬN BÙI CHU)  
Tóm tắt: Theo giáo sử, Công giáo được truyền bá vào Việt Nam  
từ năm 1533 tại Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ, Nam Định. Kể  
từ đó, hạt giống Phúc Âm được gieo mầm, sinh sôi trên đất nước  
Việt Nam. Quá trình truyền giáo tại Việt Nam cũng đầy khó  
khăn và thử thách. Vượt qua được sự khác biệt về văn hóa, ngôn  
ngữ, tư tưởng là một quá trình hội nhập văn hóa sâu rộng của  
văn hóa Công giáo với văn hóa Việt Nam. Văn hóa Công giáo  
làm phong phú cho văn hóa dân tộc và văn hóa dân tộc cũng  
tiếp nhận văn hóa Công giáo, tạo ra sự đa dạng văn hóa. Trong  
bài viết này, chúng tôi phân tích sự hội nhập văn hóa của Công  
giáo tại mảnh đất mà Công giáo gieo mầm đầu tiên trên đất  
nước Việt Nam để thấy được sự hội nhập văn hóa Công giáo  
phong phú và đa dạng tại nơi đây.  
Từ khóa: Công giáo; hội nhập; văn hóa; Việt Nam.  
1. Hội nhập văn hóa Công giáo  
Mỗi tôn giáo khi hình thành đều mong muốn truyền bá tôn giáo của  
mình đến được với nhiều tín đồ bởi đó là vấn đề sống còn cho sự phát  
triển của một tôn giáo. Trong lịch sử tôn giáo thế giới, về cơ bản có 2  
xu hướng truyền giáo: một là truyền giáo một cách cứng nhắc, giữ  
nguyên căn tính của tôn giáo đó; hai là truyền giáo một cách linh hoạt,  
thích ứng, hay nói cách khác có sự hội nhập vào văn hóa nơi truyền  
* Đại học Văn hóa Hà Nội.  
** Tu sinh Giáo phận Bùi Chu.  
Ngày nhận bài: 24/02/2019; Ngày biên tập: 06/3/2019; Duyệt đăng: 14/3/2019.  
76  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
đến để kết tinh được cả giá trị văn hóa của tôn giáo đó với tôn giáo địa  
phương.  
Với Công giáo, vấn đề hội nhập văn hóa là cả một vấn đề phức tạp,  
trải qua một quá trình nhận thức lâu dài. Ngay từ thời Chúa Giêsu,  
Ngài đã có định hướng cho các tông đồ: “Mọi quyền năng trên trời,  
dưới đất đã được trao cho Thày. Vậy anh em hãy đi thâu nạp môn đồ  
khắp muôn dân, thanh tảy cho họ” (Mt. 18 - 19). Nhưng mở rộng  
nước Chúa như thế nào, theo con đường hội nhập văn hóa hay giữ  
nguyên truyền thống văn hóa, tôn giáo Công giáo thì Ngài chưa đề cập  
đến. Thực hiện lời Chúa, các tông đồ ngay từ buổi đầu tiên đã ra sức  
mở mang nước Chúa. Trong quá trình Phúc Âm hóa, truyền bá đức  
tin, Giáo hội Công giáo đã gặp rất nhiều khó khăn bởi xung đột giá trị  
văn hóa Công giáo với nền văn hóa địa phương. Nếu không giải quyết  
được vấn đề này một cách khôn khéo, quá trình Phúc Âm hóa sẽ gặp  
vô vàn khó khăn và khó mà phát triển được dân Chúa.  
Nhận thức về hội nhập văn hóa ở cấp Giáo hội có thể ra đời muộn,  
nhưng những người truyền giáo (những linh mục Dòng Tên truyền giáo  
tại Trung Quốc) đã nhận thức ra vấn đề này từ khá sớm: “Chư huynh  
đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa  
đổi những phép tắc xã giao, tập tục, phong hóa của họ trừ khi nó hiển  
nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luân lý. Có gì vô lý và bỉ ổi hơn  
mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, Italia hay bất kỳ nước nào khác  
bên trời Âu sang cho dân Á Đông chăng? Không phải mang đến thứ ấy  
cho họ mà là mang chân lý đức tin, một chân lý không loại trừ nghi lễ  
và tập tục của bất cứ một dân tộc nào, cũng không xúc phạm đến lễ  
nghi, tập tục ấy, miễn là chúng không xấu; ngược lại, chân lý ấy muốn  
cho người ta bảo tồn và đang trì nó là đằng khác”1.  
Nhận thấy sự khủng hoảng trong truyền giáo, mô hình khuôn mẫu  
châu Âu thất bại nên Công đồng Vatican II được triệu tập và tư tưởng  
hội nhập văn hóa ra đời: “Giáo hội có thể hòa mình với nhiều hình  
thức văn hóa khác nhau. Nhờ đó, chính Giáo hội cũng như chính nền  
văn hóa ấy đều được phong phú hơn”. Như vậy, Giáo hội Công giáo  
đã chính thức công nhận hội nhập văn hóa là một đường hướng để  
gieo hạt giống Tin Mừng đi muôn nơi.  
Đỗ Trần Phương, Bùi Văn Hài. Hội nhập của Công giáo  
…
77  
Hội nhập văn hóa (Inculturation) theo Thuật ngữ Thần học được  
hiểu là “Việc tiếp nhận những giá trị của một nền văn hóa. Thần học  
sử dụng thuật ngữ này ám chỉ việc đem Tin Mừng vào các nền văn  
hóa, hoặc diễn tả tiến trình đức tin Kitô giáo theo những hình dạng  
văn hóa của các dân tộc”2.  
Sau Hòa ước 1884, nhà thờ được xây dựng với một số lượng lớn ở  
Giáo phận Bùi Chu và Hà Nội. Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng,  
ngoài việc áp dụng những khuôn mẫu về biểu tượng của nền văn hóa  
châu Âu (theo chuẩn của một nhà thờ châu Âu), hệ biểu tượng trong  
nhà thờ Công giáo tại Giáo phận Bùi Chu và Hà Nội cũng có một sự  
hội nhập rất lớn, hội nhập văn hóa địa phương vào văn hóa Công giáo,  
làm cho đời sống văn hóa Công giáo mang thêm màu sắc văn hóa  
truyền thống Việt Nam.  
2. Hệ biểu tượng cơ bản trong nhà thờ Công giáo tại Giáo phận  
Bùi Chu và Hà Nội  
Giáo phận Bùi Chu là nơi đón nhận Tin Mừng đầu tiên tại Việt  
Nam vào năm 1533 khi giáo sĩ Inikhu đến Ninh Cường, Quần Anh  
thuộc huyện Nam Chấn và Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy để truyền  
giáo. Sau gần 500 năm hình thành và phát triển, trải qua những biến  
cố, thăng trầm của lịch sử, Giáo phận Bùi Chu vẫn vươn mình phát  
triển, trở thành một giáo phận điển hình của Giáo hội Công giáo Việt  
Nam trên các lĩnh vực khác nhau trong sinh hoạt văn hóa Công giáo.  
Hiện nay, Giáo phận Bùi Chu bao gồm 176 giáo xứ, số giáo dân là  
398.084, gần 200 linh mục. Điểm đặc biệt nhất khi nói tới Giáo phận  
Bùi Chu là gần 500 nhà thờ Công giáo với đủ các phong cách kiến  
trúc khác nhau, như: Gotich, Roman, kiến trúc Á - Âu kết hợp, kiến  
trúc nhà thờ hiện đại, v.v… tạo nên điểm đặc biệt cho giáo phận này3.  
Đối với Giáo phận Hà Nội, trải qua gần 400 năm hình thành và  
phát triển, đến nay Giáo phận Hà Nội có 145 giáo xứ, hơn 346.000  
giáo dân, 177 linh mục4. Trên địa bàn Thành phố Hà Nội có ba giáo  
hạt: Giáo hạt Chính Tòa, Giáo hạt Phú Xuyên, Giáo hạt Thanh Oai.  
Trong đó, Giáo hạt Chính Tòa có 21 giáo xứ, Giáo hạt Phú Xuyên có  
16 giáo xứ và Giáo hạt Thanh Oai - Hòa Bình có 38 giáo xứ, trừ đi  
10 giáo xứ thuộc địa giới hành chính tỉnh Hòa Bình thì tổng số giáo  
78  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
xứ trên địa bàn Tp. Hà Nội là 65 giáo xứ phân bố tại các quận  
huyện5.  
Trong quá trình khảo sát các nhà thờ Công giáo tại Hà Nội và tại  
Giáo phận Bùi Chu, chúng tôi đã cơ bản thống kê được hệ thống  
những biểu tượng đặc trưng nhất của từng nhà thờ, như: biểu tượng  
Chúa Ba ngôi, Đức Mẹ, các thánh. Đồng thời, thống kê được những  
biểu tượng của người Công giáo và những biểu tượng hội nhập với  
văn hóa truyền thống Việt Nam. Dưới đây là bảng thống kê về những  
biểu tượng văn hóa truyền thống Việt Nam trong các nhà thờ Công  
giáo tại Hà Nội và tại Giáo phận Bùi Chu.  
Bảng 1: Biểu tượng văn hóa truyền thống tại các nhà thờ Công  
giáo ở Hà Nội6  
Phong  
Năm  
xây  
dựng  
cách  
kiến  
trúc  
Biểu tượng văn hóa  
truyền thống  
STT  
Nhà thờ  
Đỉnh hương bằng  
đồng, đúc các hoa  
văn rồng.  
Đỉnh hương bằng  
đồng, đúc các hoa  
văn rồng.  
Ghế linh mục có  
biểu tượng mặt hổ  
phù.  
1
2
3
Nhà thờ Lớn  
1884  
1934  
1908  
Gothic  
Gothic  
Á-Âu  
Nhà thờ Hàm  
Long  
Nhà thờ Vạn  
Phúc  
Phương đình nơi đặt  
tượng đài, trên mỗi  
đầu đao đều có phù  
điêu chim phượng;  
Mỗi bên của phương  
đình đều có biểu  
tượng tứ quý.  
Nhà thờ Thạch  
Bích  
4
1904  
Roman  
Đỉnh hương bằng  
đồng có hoa văn tứ  
linh, hoành phi câu  
đối chữ Hán.  
Nhà thờ Đàn  
Giản  
Phục  
Hưng  
5
6
1920  
Nhà thờ Phương 1905  
Gothic  
Đỉnh hương bằng  
Đỗ Trần Phương, Bùi Văn Hài. Hội nhập của Công giáo  
…
79  
Trung  
đồng có hoa văn tứ  
linh.  
Cuối tháp chuông  
nhà thờ có hai văn  
bia chữ Hán.  
Đỉnh hương bằng  
đồng có hoa văn tứ  
linh, hạc và rùa làm  
chân nến, tứ quý  
trên tháp của đền  
Thánh Tùy.  
7
8
Nhà thờ Đại Ơn  
1918  
Gothic  
Gothic  
Nhà thờ Bằng Sở 2014  
Các bức chạm khắc  
bằng gỗ treo trên các  
cột của nhà thờ  
9
Nhà thờ Sở Hạ  
1917  
1903  
Á-Âu  
Á-Âu  
Các câu đối chữ Hán  
treo trên các cột nhà  
thờ, các bức chạm  
khắc tứ quý treo trên  
các cột nhà thờ.  
10 Nhà thờ Hà Hồi  
Đỉnh hương bằng  
đồng có đúc hoa văn  
tứ linh, câu đối chữ  
Hán.  
Trên tháp chuông  
nhà thờ có các bức  
phù điêu biểu tượng  
rồng.  
11 Nhà thờ Phú Mỹ 1908  
Gothic  
Roman  
Nhà thờ Chuyên  
12  
Mỹ  
Bảng 2: Biểu tượng văn hóa truyền thống Việt Nam trong các nhà  
thờ Công giáo tại Giáo phận Bùi Chu7  
Phong  
Năm  
xây  
dựng  
cách  
kiến  
trúc  
Biểu tượng văn  
hóa truyền thống  
STT  
Nhà thờ  
Cờ ngũ sắc, kiệu  
võng đầu rồng Đức  
Mẹ Maria ngồi, kỳ  
lân (ly) khắc trên  
kiệu võng, chuông  
1
Nhà thờ Bùi Chu 1858  
Á-Âu  
80  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
nam khắc biểu  
tượng rồng, hạc đội  
rùa đầu rồng, đỉnh  
hương  
có  
biểu  
tượng với tượng lân  
hý cầu đúc liền với  
nắp và biểu tượng  
rồng, hoành phi.  
Giá chiêng đầu  
rồng, thánh giá và  
nến cao, đỉnh hương  
bằng đồng, với  
tượng lân hý cầu  
đúc liền với nắp,  
đúc biểu tượng  
rồng, thánh giá nến  
cao có sự cải biên từ  
bộ bát bửu, biểu  
tượng quý dưới  
chân bàn thờ.  
2
Nhà thờ Kiên Lao 1994  
Gothic  
Cờ ngũ sắc, đỉnh  
hương khắc biểu  
tượng rồng, câu văn  
chữ hán nói về tước  
hiệu của nhà thờ,  
kiệu đầu rồng.  
3
Nhà thờ Phú Nhai 1923  
Gothic  
Đỉnh hương bằng  
đồng khắc hoa văn  
rồng, tứ quý trên  
bàn thờ, rồng chầu  
mặt nhật cuối nhà  
thờ, hoa sen, kiệu  
đầu rồng, giá chiêng  
, chống đầu rồng,  
hạc đội rùa để chân  
nến, cờ ngũ sắc.  
Nhà thờ Quần  
1932  
4
5
Roman  
Á-Âu  
Phương  
Đỉnh hương khắc  
hoa văn rồng, giá  
chiêng đầu rồng,  
kiệu đầu rồng.  
Nhà thờ Hưng  
2000  
Nghĩa  
Đỗ Trần Phương, Bùi Văn Hài. Hội nhập của Công giáo  
…
81  
Hoành phi, câu đối,  
chuông nam, khánh,  
biểu tượng tứ quý  
cửa chính cuối nhà  
thờ, đỉnh hương  
bằng đồng.  
Hạc và rùa dùng để  
chân nến, rồng khắc  
trên những cửa gỗ,  
rồng - cây cỏ hoa.  
Đỉnh hương khắc  
Nhà thờ Giáp  
Nam  
6
7
2006  
Á đông  
Á đông  
Nhà thờ Hai Giáp 1906  
hoa  
văn  
rồng,  
chuông nam, giá  
chuông khắc đầu  
rồng, hoành phi  
khắc rồng cuốn, câu  
đối trên gian cung  
thánh, thánh giá nến  
cao có sự cải biên từ  
bộ bát bửu.  
Biểu tượng trúc  
được khắc trên gian  
cung thánh, đỉnh  
hương khắc rồng,  
kiệu đầu rồng.  
Nhà thờ Ninh  
Cường  
8
9
Á-Âu  
Nhà thờ Lạc Đạo 1870  
Á-Âu  
Á-Âu  
Ghế linh mục khắc  
biểu tượng rồng,  
đỉnh hương khắc  
mặt hổ phù, cờ ngũ  
sắc.  
10 Nhà thờ Tân Bơn 2004  
Đỉnh hương khắc  
hoa văn tứ linh;  
chuông nam, thánh  
giá nến cao có sự  
cải biên từ bộ bát  
bửu.  
Thánh giá nến cao  
có sự cải biên từ bộ  
bát bửu, tứ quý khắc  
11 Nhà thờ Sa Châu 1942  
Nhà thờ Thức  
Gothic  
Gothic  
12  
1917  
Hóa  
82  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
trên cửa cuối nhà  
thờ.  
3. Hội nhập văn hóa thông qua biểu tượng tại Giáo phận Bùi  
Chu và Hà Nội  
3.1. Hội nhập biểu tượng văn hóa truyền thống  
Trong suốt tiến trình phát triển của Giáo hội Công giáo Việt Nam,  
một trong những vấn đề được quan tâm giải quyết trong quá trình  
truyền giáo đó là vấn đề hội nhập văn hóa. Sự dung hòa giữa văn hóa  
phương Tây và những yếu tố văn hóa phương Đông bản địa nhiều khi  
còn gặp rất nhiều những khó khăn, dẫn đến những mâu thuẫn gay gắt  
trong quá trình truyền giáo.  
Tuy nhiên, một giáo hội muốn tồn tại trong một quốc gia và truyền  
giáo cần phải hiểu được nét đặc trưng văn hóa của quốc gia đó. Nhiều  
khi phải tiếp nhận và dung hòa nét văn hóa của quốc gia đó. Đối với  
Công giáo Việt Nam, tiến trình hội nhập văn hóa gắn với lịch sử  
truyền giáo của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Từ những nhu cầu cấp  
thiết của giáo dân và những đòi hỏi tích cực trong đời sống tâm linh  
của họ buộc Giáo hội cần có những nhìn nhận mới mẻ về vấn đề hội  
nhập văn hóa. Hội nhập văn hóa trong Công giáo tại Việt Nam được  
thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau, như: hội nhập về tín ngưỡng,  
phong tục tập quán, hội nhập về biểu tượng văn hóa truyền thống,  
v.v… Không chỉ dừng lại ở những biểu tượng văn hóa truyền thống,  
sự hội nhập này còn biểu hiện ở những đối tượng được tôn kính, được  
tạc thành những biểu tượng để đưa vào trong những thánh đường  
Công giáo.  
Trên phương diện hội nhập những biểu tượng văn hóa truyền thống,  
chúng tôi đã thấy rất nhiều biểu tượng về tứ linh, tứ quý xuất hiện trong  
những ngôi thánh đường để phục vụ các mục đích của giáo xứ. Tứ linh  
xuất hiện trong văn hóa của nhiều nước phương Đông. Trong văn hóa  
Việt Nam, tứ linh, tứ quý xuất hiện rất nhiều trong những công trình  
kiến trúc, điêu khắc, hội họa của những ngôi đình, chùa, đền miếu. Đó  
là những biểu tượng đặc trưng nhất cho văn hóa của Việt Nam, và  
mang trong mình những ý nghĩa rất đặc sắc. Tuy nhiên, lại xét đến một  
trong những nguyên tắc bất di bất dịch của Giáo hội, đó là Giáo hội duy  
Đỗ Trần Phương, Bùi Văn Hài. Hội nhập của Công giáo  
…
83  
nhất. Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo, câu 816 có nêu: “Hội  
Thánh duy nhất của Đức Ki-tô... là Hội Thánh mà Đấng Cứu Chuộc  
chúng ta, sau khi Phục sinh, đã trao phó cho Phê-rô chăn dắt. Người  
phó thác cho Phê-rô cũng như cho các tông đồ khác truyền bá, cai  
quản... Như là một xã hội được thiết lập quy củ trên thế gian, Hội  
Thánh ấy được thể hiện nơi Hội Thánh Công giáo do vị kế nhiệm Phê-  
rô và các giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển”8.  
Hội thánh duy nhất là sự thống nhất không có sự phân tách, không  
có sự phân chia. Vì vậy, trong ngôi thánh đường cũng như thế, không  
được phép đưa những biểu tượng không liên quan đến những vấn đề  
thần học và giáo lý vào, bởi Giáo hội e rằng sẽ dẫn đến những sai lầm  
nghiêm trọng, đưa họ vào việc tôn thờ “ngẫu tượng” mà dân Do Thái  
đã mắc phải trong thời Cựu ước.  
Nhưng sự thống nhất của Giáo hội cũng hết sức đa dạng, điều này  
được khẳng định một cách chắc chắn trong giáo lý của Giáo hội Công  
giáo, câu 814: “Ngay từ khởi đầu, Hội Thánh duy nhất này cũng rất đa  
dạng. Tính đa dạng này phát xuất từ những ân huệ khác nhau của  
Thiên Chúa cũng như từ số đông người lĩnh nhận các ân huệ ấy. Dân  
Thiên Chúa duy nhất quy tụ nhiều dân tộc và nhiều văn hóa khác  
nhau. Giữa các thành phần của Hội Thánh vẫn có những ân huệ,  
những chức vụ, những hoàn cảnh và những lối sống khác nhau; “ngay  
trong sự hiệp thông của Hội Thánh, cũng có sự hiện diện chính đáng  
của những Hội Thánh địa phương, thừa hưởng những truyền thống  
riêng” (LG 13). Sự đa dạng làm cho Hội Thánh thêm phong phú và  
không nghịch lại sự hiệp nhất. Tuy nhiên tội lỗi và hệ quả nặng nề của  
nó không ngừng đe dọa ơn hiệp nhất. Vì thế thánh Phao-lô đã khuyên:  
“Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thánh Thần đem lại,  
bằng cách ăn ở thuận hòa gắn bó với nhau” (Ep 4,3)”9.  
Trong rất nhiều nhà thờ tại Hà Nội và tại Giáo phận Bùi Chu, có sự  
xuất hiện của các biểu tượng văn hóa truyền thống như sau:  
Tại Hà Nội, một số nhà thờ có có sử dụng hình tượng rồng.  
Nhà thờ Chuyên Mỹ trên tháp chuông có rất nhiều những biểu  
tượng rồng chầu được tạc trên các mặt của tháp chuông và ở giữa là  
biểu tượng vòng tròn hay Thánh Giuse để tôn vinh uy quyền của  
84  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
Thiên Chúa vượt trên những loài vật này. Hay tại nhà thờ Hà Hồi, hệ  
thống biểu tượng tứ quý xuất hiện rất nhiều trên những câu đối được  
treo trên các cây cột của nhà thờ. Tại nhà thờ Thạch Bích, trên những  
đầu đao cong vút của phương đình trước nhà thờ là nơi đặt tượng Đức  
Mẹ La Vang có 4 con chim phượng hoàng (một trong 4 biểu tượng  
của tứ linh) ở mái dưới của phương đình nhằm tôn vinh vẻ đẹp, sự  
trinh trắng của Đức Mẹ Maria. Tại nhà thờ Sở Hạ, có hệ thống biểu  
tượng tứ quý, được chạm khắc và được treo trên những hàng cột gỗ  
trong nhà thờ, với ý nhắc nhở rằng Thiên Chúa chính là chủ của thời  
gian. Ngoài ra, một số ngôi thánh đường còn sử dụng các đỉnh hương  
bằng đồng trên nắp có hình tượng lân, các mặt của đỉnh hương đúc  
biểu tượng tứ linh tại nhà thờ Đàn Giản, Bằng Sở, Hàm Long, Phương  
Trung, v.v… Bên cạnh đó, trong nhà thờ của một số giáo xứ có sử  
dụng những bức hoành phi câu đối của văn hóa truyền thống Việt  
Nam để diễn tả những tư tưởng thần học cũng như ca ngợi Thiên  
Chúa như hệ thống câu đối tại nhà thờ Hà Hồi, các bức hoành phi tại  
nhà thờ Đàn Giản.  
Tại Giáo phận Bùi Chu, hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống  
Việt Nam trong các nhà thờ tại Bùi Chu có phần đa dạng hơn, nhưng  
cũng tập trung chủ yếu trong các biểu tượng tứ linh, tứ quý. Trong  
một số nhà thờ, như: nhà thờ Quần Phương, nhà thờ Kiên Lao, nhà thờ  
Lạc Đạo, trên gian cung thánh đều có sử dụng biểu tượng tứ quý trong  
trang trí tòa, bàn thờ nơi cử hành các nghi thức phục vụ của người  
Công giáo. Đa phần trong tất cả những nhà thờ mà chúng tôi khảo sát  
đều có sự xuất hiện của đỉnh hương bằng đồng, được đúc các hoa văn  
họa tiết tứ linh. Đặc biệt nhất trong các cỗ kiệu của các giáo xứ tại  
Giáo phận Bùi Chu mà chúng tôi khảo sát, trên đầu mỗi đòn kiệu đều  
được chạm khắc hoa văn đầu rồng, hay những giá để chiêng, trống của  
nhà thờ cũng được chạm khắc hoa văn đầu rồng, giống như trong các  
ngôi đình, đền.  
Tại các nhà thờ Giáp Nam, Quần Phương, Phú Nhai,… có sử dụng  
các bức hoành phi câu đối chữ Hán trong trang trí nhà thờ, với những  
nội dung nhằm hướng tới việc tôn vinh Thiên Chúa và phản ánh  
những tư tưởng thần học và đức tin Công giáo. Ngoài ra, tại các nhà  
Đỗ Trần Phương, Bùi Văn Hài. Hội nhập của Công giáo  
…
85  
thờ trong Giáo phận Bùi Chu có sử dụng những lá cờ ngũ sắc trong  
trang trí nhà thờ mỗi dịp lễ lớn. Tuy nhiên, những lá cờ ngũ sắc này có  
sự biến đổi là trung tâm của lá cờ có biểu tượng của thánh giá, ý muốn  
nhắc nhở rằng thánh giá Chúa Kitô chính là trung tâm và là nguồn  
mạch ơn cứu độ của con người.  
Vì vậy, việc đưa những biểu tượng tứ linh, tứ quý,… vào trong  
những ngôi thánh đường Công giáo thể hiện sự hội nhập với những  
đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Những biểu tượng đó khi được hội  
nhập vào không có sự thay đổi nhiều về cấu tạo, hình dáng nhưng có  
sự biến đổi về bản chất, bởi sự khác nhau về góc độ niềm tin khi đối  
tượng đó tiếp nhận. Sự tiếp nhận của người Công giáo phải được dựa  
trên nhiều nền tảng khác nhau về thần học, giáo lý, giáo luật và kinh  
thánh. Nếu không được dựa trên những nền tảng này thì sự hội nhập  
này không được chấp nhận và dẫn tới những sai lầm trong niềm tin  
của người giáo dân.  
3.2. Hội nhập đối tượng thờ phượng  
Trong quá trình phát triển của Giáo hội Công giáo Việt Nam, đã có  
những thay đổi và tiếp nhận những yếu tố văn hóa cũng như tâm lý  
của người Công giáo bản xứ. Từ những cơ sở về những nhân vật là  
những vị thánh trong Giáo hội cũng như việc tổ chức ngày lễ cho các  
vị thánh đó, người Công giáo Việt Nam đã có những biến đổi phù hợp  
với đặc trưng văn hóa Việt. Đồng thời, không đi sai lệch với những tư  
tưởng của Giáo hội.  
3.2.1. Hội nhập biểu tượng Đức Mẹ  
Trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, người mẹ đóng một  
vai trò quan trọng, được thể hiện rõ nhất trong tín ngưỡng thờ Mẫu  
(nhiều người còn gọi là đạo Mẫu). Với sự yêu thương che chở con cái,  
hình ảnh người mẹ là một chỗ dựa tinh thần trong lòng những người  
con đất Việt. Trong Công giáo, hình ảnh người mẹ tôn quý nhất chính  
là Đức Mẹ Maria - người mẹ được người giáo dân yêu mến như một  
điểm tựa để cầu xin khi gặp những khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy,  
hệ thống biểu tượng về Đức Mẹ trong các nhà thờ Công giáo cũng rất  
đa dạng, chủ yếu với 4 đặc ân mà Đức Mẹ được nhận từ Thiên Chúa  
86  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
và luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các ngôi thánh đường, chỉ  
sau Chúa Ba ngôi.  
Xuất phát từ một sự kiện năm 1798, dưới thời vua Cảnh Thịnh nhà  
Tây Sơn, với chiếu chỉ cấm đạo ngày 17 tháng 8 năm 1798, một số tín  
hữu ở gần đồi Dinh Cát (nay là thị xã Quảng Trị) phải tìm nơi trốn ẩn.  
Họ đã đến lánh nạn tại núi rừng La Vang. Nơi rừng thiêng nước độc,  
hoàn cảnh ngặt nghèo, thiếu ăn, bệnh tật, sợ hãi quan quân, sợ thú dữ,  
các tín hữu chỉ biết một lòng tin cậy phó thác vào Thiên Chúa và Đức  
Mẹ. Họ thường tụ tập dưới gốc cây đa cổ thụ, cùng nhau cầu nguyện,  
an ủi và giúp đỡ nhau. Đức Mẹ hiện ra cùng với Chúa Hài Đồng với  
trang phục truyền thống của người Việt Nam, mặc áo dài, đầu đội  
khăn xếp. Từ đó, với mục đích bày tỏ sự yêu mến Đức Mẹ La Vang,  
cũng như cầu xin Đức Mẹ cứu giúp, hầu như các nhà thờ trên đất nước  
Việt Nam đều đưa biểu tượng Đức Mẹ La Vang vào để tôn kính.  
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một điều rằng, thực chất việc đưa  
biểu tượng Đức Mẹ La Vang vào trong các ngôi thánh đường để tôn  
kính đều có mục đích nhằm tạo cho người giáo dân một sự gần gũi,  
không xa lạ. Mẹ và Chúa Hài Đồng như một người Việt Nam, một  
phụ nữ mặc áo dài Việt Nam bế con cũng mặc trang phục truyền  
thống Việt Nam. Mẹ đến với những người giáo dân Việt Nam trong sự  
gần gũi và đầy yêu thương. Vốn đã ẩn chứa một tình yêu dành cho  
người Mẹ, mà nay tình yêu đó lại được biểu hiện một cách cụ thể nhất  
thông qua hình ảnh một người Mẹ của người dân Công giáo Việt  
Nam, một người Mẹ đại diện cho hình ảnh người Công giáo Việt  
Nam, thì sự yêu mến đó càng được củng cố và ngày càng vững vàng  
hơn trong đời sống đức tin của mình.  
Hầu hết trong 30 nhà thờ mà chúng tôi khảo sát trên địa bàn Hà  
Nội đều có biểu tượng Đức Mẹ La Vang trong và ngoài các ngôi  
thánh đường. Chúng tôi xin nêu một số nhà thờ có tượng Đức Mẹ La  
Vang với quy mô lớn cũng như mang giá trị nghệ thuật, đó là tượng  
Đức Mẹ La Vang được đặt trang trọng trong phương đình cuối nhà  
thờ Thạch Bích, tượng Đức Mẹ La Vang đặt ở đầu nhà thờ Bằng Sở,  
tượng Đức Mẹ La Vang cuối nhà thờ Sở Hạ,… Đây chính là một biểu  
hiện khẳng định sự hội nhập văn hóa bản xứ của Công giáo khi truyền  
Đỗ Trần Phương, Bùi Văn Hài. Hội nhập của Công giáo  
…
87  
giáo vào Việt Nam. Sự dung hòa giữa tín ngưỡng thờ Mẫu kết hợp với  
sự yêu mến, tôn kính Đức Mẹ Maria, những nền tảng đức tin Công  
giáo. Kế thừa những giá trị văn hóa tốt đẹp trong tín ngưỡng thờ Mẫu,  
qua đó người Công giáo Việt Nam đã xây dựng nên biểu tượng Đức  
Mẹ La Vang - một người Mẹ của tất cả những người Công giáo Việt  
Nam để yêu mến và cầu xin trong cuộc sống của họ.  
3.2.2. Hội nhập thành hoàng làng với thánh quan thầy  
Trong đời sống của những người giáo dân Công giáo không thể  
thiếu hình ảnh của những biểu tượng thánh quan thầy tại các giáo xứ,  
giáo họ. Đây vốn là một truyền thống vốn có của Giáo hội Công giáo,  
gắn bó mật thiết với đời sống của người giáo dân. Tuy nhiên, khi  
Công giáo được du nhập vào Việt Nam đã có sự giao lưu với tín  
ngưỡng thờ Thành hoàng làng, làm cho những biểu tượng thánh quan  
thầy trở nên đặc sắc hơn. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng bắt đầu  
phát triển ở thế kỷ thứ XVI, với đặc điểm là tôn thờ một vị thần bảo  
vệ, che chở cho cộng đồng làng xã, vượt qua những khó khăn trong  
cuộc sống hàng ngày. Hằng năm, nhân dân trong cộng đồng làng xã  
đều tổ chức lễ hội để thể hiện lòng tôn kính đối với vị thần của làng  
mình, cũng như thể hiện tinh thần cố kết trong cộng đồng làng xã.  
Cũng vào thời điểm đó, Công giáo cũng được du nhập vào Việt Nam,  
ban đầu cũng có những hoạt động tôn kính các vị thánh quan thầy của  
giáo xứ, giáo họ mình. Tuy nhiên, việc tôn kính các vị thánh quan  
thầy hết sức đơn giản. Các vị thánh đó chủ yếu là những vị xa lạ với  
những người giáo dân, được các giáo sĩ phương Tây đưa đến.  
Tuy nhiên, với những chính sách cấm đạo gắt gao của các vị vua  
triều Nguyễn, đã xuất hiện những vị thánh tử đạo sinh ra và chết đi  
trên mảnh đất Việt Nam. Họ có thể là những người giáo dân, linh  
mục, giám mục, tu sĩ nam, nữ, v.v… đã can trường lấy tính mạng của  
chính mình để bảo vệ đức tin, không chối bỏ những niềm tin mà mình  
đã lĩnh nhận. Chính vì vậy, các vị ấy đã được Giáo hội Roma tôn  
phong hiển thánh. Tổng Giáo phận Hà Nội có 19 vị thánh tử đạo, Giáo  
phận Bùi Chu có 26 vị trong tổng số 117 vị của Việt Nam. Trong đó,  
có rất nhiều vị sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hà Nội và Bùi Chu  
ngày nay. Hiện nay, các giáo xứ, giáo họ mà chúng tôi khảo sát trên  
88  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
địa bàn Hà Nội và Bùi Chu đều chọn những vị thánh tử đạo của quê  
hương làm thánh quan thầy của mình, tổ chức các hoạt động nhằm tôn  
kính các ngài. Các ngài được xem như những vị thánh bảo trợ của  
giáo xứ đó, để cầu bầu cùng Chúa cho họ vượt qua những khó khăn  
trong cuộc sống. Điểm đặc sắc nhất ở đây được thể hiện rõ nét sự giao  
lưu với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là việc tổ chức ngày lễ vị  
thánh quan thầy của giáo xứ đó.  
Như tại Hà Nội, giáo xứ Kẻ Sét có thánh quan thầy Martinô Tạ  
Đức Thịnh. Hàng năm, vào ngày 8/11, mọi người trong giáo xứ đều tổ  
chức rước kiệu với đủ các đoàn hội, cờ hoa để tôn vinh ngài. Hay  
thánh tử đạo Phêrô Lê Tùy sinh ra và lớn lên tại làng Bằng Sở, nên  
nhà thờ Bằng Sở đã chọn ngài làm thánh quan thầy, và cứ vào ngày  
11/10 hàng năm đều tổ chức mừng lễ rất lớn, với những cuộc rước  
kiệu long trọng, các hoạt động kèm theo nhằm tôn vinh ngài.  
Còn tại Bùi Chu, hàng năm cứ vào ngày 24/11, tất cả mọi người  
trong Giáo phận đều hành hương và mừng lễ các thánh tử đạo Việt  
Nam, ngày này là một trong 3 ngày đại lễ của Giáo phận. Ngoài ra,  
theo chu kỳ hàng năm, các giáo xứ đều tổ chức các ngày lễ để tôn  
kính các vị, như tại nhà thờ Phú Nhai, ngày 05/11 tổ chức lễ Thánh  
Đaminh Hà Trọng Mậu, ngày 18/7 lễ Thánh Đaminh Đinh Đạt; tại nhà  
thờ Ninh Cường cứ vào ngày 04/7 và 09/5 hàng năm đều tổ chức lễ  
kính thánh tử đạo Giuse Nguyễn Đình Uyên và Phêrô Nguyễn Văn  
Tự. Tất cả các vị đều sinh ra và lớn lên ở chính các giáo xứ đó. Vì  
vậy, các vị được coi là những thánh tổ của quê hương, phù hộ, chuyển  
cầu cùng Chúa cho mọi người trong giáo xứ. Các vị thánh tử đạo Việt  
Nam trở thành một biểu tượng không thể thiếu trong đời sống của  
người giáo dân Công giáo Việt Nam.  
Kết luận  
Hội nhập văn hóa chính là sự nhập thể của sứ điệp Kitô giáo vào  
những nền văn hóa đặc thù, trong đó có nền văn hóa Việt Nam. Việc  
hội nhập văn hóa này diễn ra trên nhiều phương diện khác nhau, mà  
cụ thể là sự hội nhập về biểu tượng văn hóa truyền thống Việt Nam.  
Việc hội nhập này không phải là sự thay đổi những vấn đề về đức tin,  
nhưng là sự dung hòa đức tin với văn hóa bản xứ, làm cho đức tin ấy  
Đỗ Trần Phương, Bùi Văn Hài. Hội nhập của Công giáo  
…
89  
thêm phần sinh động, với những nét đặc sắc mà chỉ Giáo hội địa  
phương mới có. Từ đó góp chung lại tạo nên sự đa dạng nhưng thống  
nhất trong một “vườn hoa” với đủ mọi loài hoa khác nhau của Giáo  
hội, trong cùng một đức tin vững vàng. Hội nhập văn hóa còn làm cho  
Tin Mừng được nhập thể vào trong văn hóa dân tộc, đồng hành cùng  
với sự phát triển của dân tộc quốc gia đó, đó mới chính là cái cốt yếu,  
cái mục đích hướng tới của hội nhập văn hóa. /.  
CHÚ THÍCH:  
1
Phạm Huy Thông (2012), Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa  
Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 132.  
2
3
4
Học Viện Đa Minh (2014), Thuật ngữ Thần học, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 171.  
http://gpbuichu.org/ truy cập ngày 17/12/2018.  
n_trong_giao_tinh_ha_noi, truy cập ngày17/12/2018.  
5
17/12/2018.  
6
7
8
Số liệu điền dã của tác giả.  
Số liệu điền dã của tác giả.  
Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010), Sách giáo lý của Giáo hội Công giáo,  
Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 316.  
9
Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010), Sách giáo lý của Giáo hội Công giáo,  
Sđd, tr. 815-816.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Mai Diệu Anh (2011), “Một số vấn đề về hội nhập nghi lễ Công giáo với tín  
ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Việt hiện nay”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 12.  
2. Nguyễn Hồng Dương (1999), “Bước đường hội nhập văn hóa dân tộc của Công  
giáo Việt Nam”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 1, 2.  
3. Nguyễn Hồng Dương (2004), Tôn giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển  
ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
4. Học viện Đa Minh (2014), Thuật ngữ Thần học, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.  
5. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010), Sách giáo lý của Giáo hội Công giáo,  
Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.  
6. Đặng Luận (2013), “Bước đầu hội nhập và thích nghi văn hóa các dân tộc trong  
quá trình truyền bá Công giáo lên Tây Nguyên”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 2.  
7. Đinh Kiều Nga, Ảnh hưởng của Công giáo với nền văn hóa Việt Nam,  
truy cập 18/12/2018.  
8. Trần Thị Kim Oanh (2013, “Một số suy nghĩ về văn hóa Công giáo Việt Nam và  
việc bảo tồn, phát triển giá trị văn hóa đó”, Khoa học xã hội Việt Nam, số 5.  
90  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
9. Tòa Tổng Giám mục Thành phố Hồ Chí Minh (1999), Kinh Thánh trọn bộ Cựu  
Ước và Tân Ước, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.  
10. Phạm Huy Thông (2012), Ảnh hưởng qua lại giữa đạo Công giáo và văn hóa  
Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.  
11. Phạm Huy Thông, Đạo Công giáo tiến trình hội nhập văn hóa dân tộc ở Việt  
Nam trước và sau Công đồng chung Vaticanô II,  
nh_hoi_nhap_van_hoa_dan_toc_o_Viet_Nam_truoc_va_sau_Cong_dong_chung  
_Vatiano_2, truy cập 31/01/2019.  
Abstract  
INTEGRATION OF CATHOLICISM WITH THE  
VIETNAMESE CULTURE  
(THROUGH RESEARCH ON SYMBOLS OF CATHOLIC  
CHURCHES OF HÀ NỘI AND BÙI CHU DIOCESES)  
Do Tran Phuong  
Hanoi University of Culture  
Bui Van Hai  
A Seminarian at Bui Chu Diocese  
According to the history of the church, Catholicism was introduced  
into Vietnam in 1533 at Ninh Cường, Quần Anh, Trà Lũ, Nam Định.  
Since then, the seed of the Gospel has been sown, grown in the  
country of Vietnam. The missionary process in Vietnam had  
difficulties and challenges. Overcoming the cultural, linguistic and  
ideological differences, a cultural integration of Catholic culture with  
Vietnamese culture has been occurred. The Catholic culture has  
enriched the national culture to create the cultural diversity. In this  
article, the author analyzes the integration of Catholic culture in the  
land where Catholicism was first propagated to show the rich and  
diverse Catholic culture there.  
Keywords: Catholicism; integration; culture; Vietnam.  
pdf 16 trang yennguyen 18040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hội nhập của công giáo với văn hóa Việt Nam (Qua nghiên cứu một số biểu tượng tại Nhà thờ Công giáo ở giáo phận Hà Nội và Giáo phận Bùi Chu)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoi_nhap_cua_cong_giao_voi_van_hoa_viet_nam_qua_nghien_cuu_m.pdf