Mối quan hệ và ảnh hưởng của Mông - Nguyên ở Đông Á và Đông Nam Á nửa cuối thế kỷ XIII

48  
CHUYÊN MỤC  
KHOA HỌC XÃ HỘI THẾ GIỚI  
MỐI QUAN HỆ VÀ ẢNH HƯỞNG  
CỦA MÔNG - NGUYÊN Ở ĐÔNG Á  
VÀ ĐÔNG NAM Á NỬA CUỐI THẾ KỶ XIII  
NGUYỄN NHẬT LINH*  
Khi triều Nguyên hình thành và thống trị ở Trung Hoa cuối thế kỷ XIII cũng là lúc  
người Mông Cổ rất hùng mạnh và kiểm soát vùng không gian lãnh thổ liên Á -  
Âu rộng lớn. Thời kỳ này, việc triều Nguyên thôn tính Nam Tống, ép Cao Ly thần  
phục, xâm lược Nhật Bản và Đông Nam Á đã cho thấy những thay đổi trong  
cách cai trị, ngoại giao và sự bành trướng của người Mông Cổ hướng đến phía  
đông, vươn ra biển để bổ khuyết cho những thiếu hụt và hạn chế trong nền kinh  
tế, chính trị và quân sự của họ.  
Từ khóa: triều Nguyên, Mông Cổ, Đông Á, Đông Nam Á, thế kỷ XIII  
Nhận bài ngày: 15/12/2020; đưa vào biên tập: 18/12/2020; phản biện: 8/2/2021;  
duyệt đăng: 3/4/2021  
1. DẪN NHẬP  
này, mối quan hệ và các cuộc chiến  
tranh xâm lược của Mông - Nguyên  
với các nước Đông Á không chỉ cho  
thấy sự bành trướng, ảnh hưởng  
mạnh mẽ của họ, mà còn phản ánh  
những thay đổi trong cách thức Mông -  
Nguyên tiến hành chiến tranh và thiết  
lập cai trị hoặc quan hệ ngoại giao với  
các nước, đồng thời tận dụng các  
nguồn lực từ đế quốc rộng lớn nhằm  
vươn đến vùng biển ở khu vực Đông  
Bắc Á và Đông Nam Á. Trong thế kỷ  
XIII, quan hệ và ảnh hưởng của Mông -  
Nguyên với Đông Á biểu hiện rõ nhất  
Bước sang nửa sau thế kỷ XIII, Mông  
Cổ hùng mạnh đã chiếm đóng và kiểm  
soát được cả vùng lãnh thổ rộng lớn  
trải dài trên lục địa Á - Âu. Cùng lúc đó  
triều Nguyên thành lập, sự bành  
trướng và việc thiết lập, duy trì ảnh  
hưởng cũng như sự thống trị của họ  
đối với vùng bị kiểm soát có nhiều  
thay đổi lớn. Trong khoảng thời gian  
* Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân  
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
NGUYỄN NHẬT LINH – MỐI QUAN HỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA…  
49  
qua các cuộc tấn công tiêu diệt Nam bị hoãn. Sau khi thành lập triều  
Tống, việc buộc Cao Ly phải thần Nguyên, Khả Hãn tiếp tục chinh phạt  
phục, tiến hành xâm lược Nhật Bản và  
việc bành trướng quân sự, ngoại giao  
ở Đông Nam Á.  
Nam Tống (Morris Rossabi, 1988: 76-  
115).  
Mục tiêu của cuộc tấn công tiêu diệt  
Nam Tống vì Nam Tống là nguồn tài  
nguyên giàu có của phương nam. Dù  
mất hoàn toàn quyền kiểm soát lưu  
vực Hoàng Hà và vùng đất phía bắc,  
lại chịu tổn thất nặng nề từ chiến tranh,  
nhưng Nam Tống vẫn còn chỗ dựa là  
vùng đất màu mỡ phía nam sông  
Dương Tử với cư dân đông đúc,  
chiếm hơn một nửa dân số Trung  
Quốc bấy giờ (Patricia Buckley Ebrey,  
Anne Walthall, James B. Palais, 2006:  
176)4. So sánh với phía bắc, nơi bị  
chiến tranh tàn phá, dân số đông đúc,  
lực lượng quân đội nhiều, thường  
xuyên chịu sức ép về lương thực, thì  
vùng đất phía nam có tiềm năng lớn  
trong việc đáp ứng nhu cầu thường  
xuyên cho quân đội nhà Nguyên. Hơn  
thế nữa, sau khi triều Nguyên kiến lập,  
Nguyên Thế Tổ thực sự muốn cai trị  
lâu dài ở Trung Hoa (Denis Twitchett  
& John K. Fairbank. 2008: 418-419);  
với tham vọng dưới sự cai trị của  
mình, triều Nguyên sẽ trở nên giàu có,  
thịnh vượng.  
2. CUỘC CHIẾN TRANH THÔN TÍNH  
NAM TỐNG VÀ VIỆC KIẾN LẬP  
TRIỀU NGUYÊN  
Sau khi Nguyên Thế Tổ (Hốt Tất Liệt,  
1215-1294) lên ngôi hoàng đế kiến lập  
triều Nguyên ở Trung Quốc và đổi  
quốc hiệu thành Đại Nguyên (1271-  
1368) thì mối quan tâm hàng đầu của  
triều Nguyên là việc thôn tính Nam  
Tống (1127-129), hoàn thành quá  
trình bình định ở vùng phía nam Trung  
Hoa(1). Mặc dù nhà Nam Tống lúc này  
không còn là mối đe dọa lớn đối với  
nhà Nguyên, nhưng với mục đích  
thống trị toàn lãnh thổ và dập tắt mọi  
kháng cự của người Trung Hoa,  
Nguyên Thế Tổ đã mở các chiến dịch  
quyết tâm tiêu diệt Nam Tống. Trước  
đó, vào năm 1234 người Mông Cổ  
sau khi chinh phạt nhà Kim đã làm  
chủ hoàn toàn vùng phía bắc Trung  
Hoa và gây sức ép với Nam Tống(2).  
Nhưng vào thời điểm này người  
Mông Cổ đang cần dồn lực lượng để  
tấn công sang phía tây nên tạm thời  
phải hòa hoãn với Nam Tống. Cuộc  
chinh phạt vùng phía nam Trung Hoa  
được người Mông Cổ thúc đẩy mạnh  
mẽ từ những năm 1250 với vai trò  
của Đại Hãn Mông Kha (trị vì 1251-  
1259). Sau khi Mông Kha tử trận, Hốt  
Tất Liệt quay trở về Mông Cổ tranh  
ngôi vị và được tôn làm Khả Hãn,  
cuộc chiến chinh phạt Nam Tống lại  
Việc chinh phạt và tiêu diệt Nam Tống  
còn đem lại khả năng thông thương  
với phía nam. Cuộc chiến tranh chinh  
phạt của Mông - Nguyên khắp các  
hướng trên lục địa Á - Âu đã tạo ra  
một đại đế quốc liên lục địa. Trong  
nửa cuối thế kỷ XIII, nỗ lực của Mông -  
Nguyên trong các cuộc chiến tranh với  
Nam Tống, Cao Ly, Nhật Bản và Đông  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (272) 2021  
50  
Nam Á đã kết nối thế giới phương đánh Nam Á, người Mông Cổ bị tổn  
Đông với phương Tây, tạo ra sự gắn thất nghiêm trọng trước sự kháng cự  
mãnh liệt của vương triều Hồi giáo  
Delhi. Nguyên nhân quân Mông Cổ  
phải rút khỏi Châu Âu và Ấn Độ là do  
kỵ binh không quen tác chiến ở các  
vùng đầm lầy (Đông Âu), khó thích  
nghi với khí hậu khô và nóng của Ấn  
Độ (Jackson, 2003; May, 1996;  
Chambers, 1979).  
kết giữa các trung tâm thương mại  
bằng con đường buôn bán trên bộ.  
Thống trị và kiểm soát được vùng  
trung tâm Châu Á và Trung Hoa, triều  
Nguyên thuận lợi áp đặt sự thống trị  
và các quy định trên các lãnh thổ cả ở  
Châu Á cũng như Châu Âu.  
Tham vọng chinh phạt Nam Tống sẽ  
tạo điều kiện cho người Mông Cổ  
vươn xa đến vùng hải đảo và bán đảo  
của Đông Nam Á. Lúc này, Nam Tống  
mặc dù đã để mất vùng đất phía bắc  
Trung Hoa nhưng vẫn nắm giữ số  
lượng lớn dân cư và phần lớn tài  
nguyên kinh tế, thương mại so với  
vùng đất mà Mông - Nguyên đã chiếm  
được. Nam Tống vẫn duy trì được  
nguồn cung lớn hàng hóa và lương  
thực cho bản thân và nền hải thương  
với các nước Đông Nam Á, Ấn Độ,  
thậm chí là Tây Á. Điều đó đã giúp  
các cảng và thành thị duyên hải tiếp  
tục phồn vinh. Chính điều này đã hấp  
dẫn Mông - Nguyên (Twitchett &  
Fairbank, 2008: 429-430).  
Việc chinh phạt Nam Tống đã giúp  
tăng cường sức mạnh của quân  
Mông - Nguyên, bổ sung cho những  
điểm yếu và sự khuyết thiếu của họ,  
đặc biệt là về hải quân, để phục vụ  
cho các cuộc tấn công Nhật Bản,  
Triều Tiên và Đông Nam Á.  
3. QUAN HỆ CỦA TRIỀU NGUYÊN  
VỚI CAO LY  
Các mối liên hệ và xung đột giữa  
Mông Cổ với Cao Ly xuất hiện đầu  
tiên dưới thời Khả Hãn Oa Khoát Đài  
(1229-1241). Sau khi vua Cao Ly Cao  
Tông (1213-1259) giết sứ giả Mông  
Cổ và khước từ yêu cầu cống nạp của  
Thành Cát Tư Hãn (1206-1227) vào  
năm 1225, đến năm 1231 Oa Khoát  
Đài đã hạ lệnh tấn công xâm lược  
Cao Ly và gặp phải sự kháng cự  
quyết liệt của Cao Ly. Trong mấy chục  
năm sau đó, quân Mông Cổ đã nhiều  
lần tấn công Cao Ly, buộc triều đình  
Cao Ly phải dời đô về Ganghwa,  
khiến nền kinh tế, chính trị Cao Ly lâm  
vào khủng hoảng. Từ năm 1231 đến  
1234, sau nhiều chiến dịch và các  
cuộc tấn công quyết liệt, quân Mông  
Cổ chiếm được nhiều lợi thế dựa trên  
sức mạnh kỵ binh và nhiều vũ khí  
Sau nhiều cuộc chiến tranh, năm 1240  
quân Mông Cổ chiếm được Kiev  
(Ukraina) và hàng loạt các thành phố  
khác ở Châu Âu, Ba Tư, Caucasus và  
Trung Á. Sang năm 1241, quân Mông  
Cổ tiếp tục đánh chiếm Hungary. Các  
chiến dịch chinh phục Châu Âu kết  
thúc vào năm 1242. Cho tới giữa thế  
kỷ XIII, sau các cuộc tấn công Tây Á  
và Đông Âu, người Mông Cổ phải bỏ  
dở nhiều cuộc tấn công xâm chiếm  
một vài quốc gia Châu Âu. Khi tiến  
NGUYỄN NHẬT LINH – MỐI QUAN HỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA…  
51  
công thành lợi hại. Mặc dù Cao Ly đã Từ năm 1259, triều đình Cao Ly tiếp  
chấp nhận nhiều điều khoản nghị hòa,  
để người Mông Cổ cai trị ở nhiều  
vùng phía Tây Bắc và cống nạp của  
cải, nô lệ cho người Mông Cổ, nhưng  
sau khi triều đình Cao Ly di dời tới  
đảo Ganghwa để xây dựng các tuyến  
phòng thủ chuẩn bị đối phó với Mông  
Cổ, quân Mông Cổ đã đáp lại bằng  
việc tiếp tục phát động các cuộc tấn  
công. Từ năm 1235 đến 1238, quân  
Mông Cổ tiếp tục đẩy mạnh xâm lược  
và tàn phá Cao Ly và buộc Cao Ly  
phải nghị hòa. Người Mông Cổ đòi  
Cao Ly phải giao người trong vương  
tộc làm con tin, cấm thuyền bè triều  
đình Cao Ly hoạt động. Năm 1253,  
triều đình Cao Ly đã không còn có thể  
ẩn trốn và kháng cự ở các quan ải  
ngoài hải đảo hoặc ở rừng núi mà bị  
buộc phải dời đô trở lại đất liền, và  
buộc phải cử người làm con tin. Thời  
điểm này cho tới năm 1258, quân  
Mông Cổ tiếp tục bắt bớ, giết hại, vơ  
vét và tàn phá Cao Ly, thậm chí buộc  
các tù binh phải đóng thuyền để họ  
tấn công tiêu diệt các lực lượng người  
Cao Ly chống Mông Cổ ở các hải đảo  
(William, 1963).  
tục đề nghị thiết lập hòa bình với  
Mông Cổ. Theo đó, người Mông Cổ  
không đô hộ trực tiếp Cao Ly, nhưng  
buộc Cao Ly phải thần phục và chấp  
nhận dưới quyền của Khả Hãn Mông  
Cổ. Vua Cao Ly buộc phải cưới công  
chúa Mông Cổ làm hoàng hậu và  
chấp nhận làm con rể của Khả Hãn  
(Nguyễn Văn Ánh - Đỗ Đình Hãng - Lê  
Đình Chỉnh, 2008: 145-146). Cao Ly  
trở thành nước phụ thuộc, chịu ảnh  
hưởng và phục tùng Mông Cổ.  
Sau khi triều Nguyên thành lập, Cao  
Ly phải xưng thần, trở thành chư hầu  
của nhà Nguyên, chịu sự can thiệp và  
chi phối nặng nề của nhà Nguyên  
(Nguyễn Văn Ánh - Đỗ Đình Hãng - Lê  
Đình Chỉnh, 1996: 156-159, 169-172).  
Hốt Tất Liệt sau khi lên ngôi đã cho  
người hộ tống thái tử của Cao Ly về  
nước, lập làm vua Cao Ly Nguyên  
Tông. Theo yêu cầu của Hốt Tất Liệt,  
từ thời kỳ của Cao Ly Nguyên Tông,  
các vua Cao Ly phải sử dụng tước  
hiệu “Trung” để bày tỏ sự “trung  
thành”. Năm 1269, võ quan Lâm Diễn  
phế Cao Ly Nguyên Tông, báo với Hốt  
Tất Liệt là vua Cao Ly vì bệnh nên  
thoái vị. Chỉ một tháng sau, Hốt Tất  
Liệt đã phái 3.000 quân sang Cao Ly,  
tiêu diệt lực lượng của Lâm Diễn, tái  
lập vua Cao Ly Nguyên Tông. Từ đó,  
vua Cao Ly chấp nhận xưng thần,  
cống nạp cho Hốt Tất Liệt, cung cấp  
lương thực, thực phẩm cho quân  
Nguyên và cho thương nhân Cao Ly  
hoạt động ở Trung Hoa và thậm chí  
biến một phần lãnh thổ Cao Ly (đảo  
Trong các cuộc tấn công, quân Mông  
Cổ đã tàn phá nền kinh tế của Cao Ly,  
bắt giữ, tàn sát các lực lượng kháng  
cự, thiêu hủy nhiều công trình kiến  
trúc, văn hóa của người Cao Ly  
(Nguyễn Văn Ánh - Đỗ Đình Hãng - Lê  
Đình Chỉnh, 2008: 158). Sức kháng  
chiến của Cao Ly suy giảm; chính trị,  
kinh tế, xã hội ngày càng lâm vào  
khủng hoảng.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (272) 2021  
52  
Jeju) thành đồng cỏ để thả nuôi ngựa thất bại càng làm suy giảm thực lực  
cho người Mông Cổ (William, 1963: của Cao Ly khiến họ càng phụ thuộc  
nặng nề vào triều Nguyên.  
158).  
Những điều ấy đã cho thấy Cao Ly  
gần như mất đi quyền tự chủ. Các  
hoàng tử của Cao Ly phải làm con tin  
ở Đại Đô cho tới khi kế vị, thậm chí  
ngay cả khi họ lên ngôi, vẫn bị giữ lại  
ở triều Nguyên làm con tin. Các vua  
Cuộc chiến tranh xâm lược Cao Ly từ  
thời của Khả Hãn Oa Khoát Đài là một  
phần của cuộc chinh phạt Đông Á của  
người Mông Cổ. Sau khi Mông Cổ tiêu  
diệt nước Kim, sự xâm lược Cao Ly  
càng trở nên khả thi. Ưu thế của kỵ  
Cao Ly buộc phải kết hôn với con gái binh, vũ khí và các cuộc tấn công, tàn  
phá của Mông Cổ đã buộc Cao Ly  
phải hàng phục. Dựa trên những tiền  
đề đó, sau khi triều Nguyên hình  
thành, Cao Ly trở thành một quốc gia  
bị chi phối, can thiệp và phụ thuộc  
nặng nề về kinh tế, chính trị, quân  
sự…, trở thành “chỗ dựa” và “đồng  
minh” cho sự hùng mạnh và quá trình  
bành trướng của triều Nguyên ở Đông  
Á.  
của vua Nguyên. Triều Nguyên thậm  
chí còn có quyền phế truất vua Cao Ly  
hay chỉ định người kế vị hoặc lập vua  
Cao Ly. Một bức thư gửi từ Mông Cổ  
vào tháng 8 năm 1266, tới Nhật Bản  
vào tháng 1 năm 1268 đã tuyên bố về  
cách đế quốc Mông Cổ duy trì quan  
hệ với Cao Ly, nói rõ quan hệ chủ -  
thần giữa Mông Cổ với Cao Ly giống  
như quan hệ “cha-con” và Cao Ly là  
“chư hầu phía đông” của Mông Cổ  
4. CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC  
(Nguyễn Văn Ánh - Đỗ Đình Hãng - Lê NHẬT BẢN  
Đình Chỉnh, 1996: 156-159, 169-172).  
Sau những biến cố chính trị, quân sự  
Mông Cổ buộc Cao Ly phải phụ thuộc khiến Cao Ly trở thành nước chư hầu  
trong quan hệ ngoại giao. Cao Ly bị phụ thuộc, Hốt Tất Liệt tiếp tục thực  
buộc phải làm trung gian trong quan hiện các cuộc chiến tranh hướng về  
hệ giữa Mông Cổ với Nhật Bản. Từ phía đông với mục đích buộc Nhật  
năm 1266, Hốt Tất Liệt đã thông qua Bản phải khuất phục. Những hành  
các phái đoàn sứ giả Cao Ly gửi thư động ban đầu của đế quốc Mông Cổ  
đến Mạc phủ Kamakura và sau đó tới với Nhật Bản được thể hiện trong thư  
triều đình Kyoto đòi Nhật Bản thần gửi thông qua sứ đoàn của Cao Ly.  
phục (Hall; Jansen; Kanai; Twitchett, Bức thư của Hốt Tất Liệt đề cập đến  
2008 131-132; 135-138). Triều Nguyên việc triều Mông Cổ giúp Cao Ly  
đã buộc Cao Ly (cùng với tù binh nhà Nguyên Tông lên ngôi, lập lại hòa  
Nguyên bắt được từ Nam Tống) phải bình, và trả lại sự tự trị cho đất Cao  
tham gia vào hai cuộc tấn công xâm Ly, để Cao Ly xưng thần, về quan hệ  
lược Nhật Bản (năm 1274 và 1281) “cha - con” giữa hai nước và Cao Ly  
(Hall; Jansen; Kanai; Twitchett, 2008: triều cống. Bức thư đề cập tới quan  
138-1140). Hai cuộc chiến tranh này hệ hữu hảo giữa Cao Ly với Nhật  
NGUYỄN NHẬT LINH – MỐI QUAN HỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA…  
53  
Bản, thông báo việc Hốt Tất Liệt lên đánh Nhật Bản. Người Nhật từ cuối  
ngôi và chiêu dụ Nhật Bản thần phục, năm 1280 đã nhận được tin về cuộc  
nhưng Nhật Bản đã không đáp lễ xâm lược và ban bố việc tập hợp lực  
(Hall; Jansen; Kanai; Twitchett, 2008: lượng chuẩn bị kháng chiến. Cuộc  
131-132).  
giao chiến kéo dài hơn 50 ngày, do  
gặp phải một trận bão lớn, nên các  
chiến thuyền của quân Nguyên đâm  
vào nhau hoặc bị đắm, khiến họ thiệt  
hại nặng nề. Thêm vào đó, những  
thương vong lớn do quân đội Nhật  
Bản gây nên đã buộc triều Nguyên  
một lần nữa phải rút quân (Sanson,  
1989: 47-50).  
Năm 1268, Hốt Tất Liệt tiếp tục gửi  
thư từ “Hoàng đế Đại Mông” đến “vua  
Nhật Bản” (Sanson, 1989: 47), thuyết  
phục Nhật Bản trao đổi buôn bán hòa  
bình với Trung Hoa và đe dọa nếu  
không nhất định sẽ có chiến tranh.  
Chính quyền Kamakura đã đuổi các  
sứ giả về và từ chối trả lời thư. Các  
sứ đoàn tới Nhật Bản vào những năm Hai cuộc tấn công xâm lược Nhật Bản  
1271, 1272 thậm chí còn báo với triều trong những năm 1274 và năm 1281  
của nhà Nguyên thất bại đã khiến  
quan hệ giữa Nhật Bản với triều  
Nguyên và Cao Ly vẫn căng thẳng  
cho tới tận nửa sau thế kỷ XIV.  
Nguyên về thái độ “hỗn xược” của  
Nhật Bản (Hall; Jansen; Kanai;  
Twitchett, 2008: 135-138).  
Năm 1274, quân Nguyên lần đầu tiên  
tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược  
Nhật Bản(3). Quân đội của người  
Mông Cổ có 15.000, Trung Hoa có  
8.000 quân và 7.000 thủy thủ của Cao  
Ly, khởi hành từ Cao Ly trên 900  
chiến thuyền tiến sang Nhật Bản tấn  
công các đảo Iki và Tsushima (dẫn lại  
theo Turnbull, 2003: 41). Ban đầu, với  
ưu thế binh lực và vũ khí, quân  
Nguyên đánh bại các lực lượng phòng  
thủ của Nhật Bản, nhưng do trận bão  
lớn ở vịnh Hakata đảo Kyushu và sự  
5. XÂM LƯỢC ĐÔNG NAM Á  
Cùng các cuộc chiến tranh diệt Nam  
Tống, khuất phục Cao Ly và xâm lược  
Nhật Bản, triều Nguyên còn nỗ lực  
bành trướng xuống Đông Nam Á. Ba  
lần xâm lược Đại Việt và các cuộc tấn  
công ồ ạt xuống Đông Nam Á cho  
thấy rõ tham vọng của triều Nguyên  
đối với khu vực phía nam này. Những  
cuộc chiến tranh xâm lược Đông Nam  
Á của triều Mông - Nguyên đã tạo ra  
nhiều chuyển biến trong lịch sử khu  
phản công của người Nhật Bản, quân vực và quan hệ ngoại giao giữa các  
Nguyên buộc phải lui quân(4). Sau trận nước.  
chiến này, các sứ giả của triều  
Nguyên được cử tới đe dọa, yêu cầu  
Nhật Bản thần phục đều bị chính  
quyền Nhật Bản bắt giết.  
Các cuộc xâm lược Đại Việt của  
Mông - Nguyên diễn ra trong khoảng  
1258-1288. Vào năm 1254, người  
Mông Cổ tấn công và chiếm được  
Mùa xuân năm 1281, lực lượng lớn nước Đại Lý, âm mưu muốn dùng  
quân Nguyên chia hai đường tiến  
đường của nước Đại Lý (nay là tỉnh  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (272) 2021  
54  
Vân Nam, Quý Châu và một phần Tứ sang thay. Triều Nguyên sách phong  
Trần Di Ái làm “An Nam quốc vương”,  
và cho người thông báo về Đại Việt,  
đồng thời cử người đưa Trần Di Ái về  
nước làm vua. Sự việc không thành  
(Ngô Sĩ Liên, 1998: 46-47). Những  
ứng xử của triều Nguyên đối với Đại  
Việt giống như những gì đã diễn ra ở  
Cao Ly. Tiềm lực mạnh mẽ và sự tự  
chủ của Đại Việt khiến cho những  
hành động của triều Nguyên hầu như  
không thu được kết quả; song, lúc này  
Nam Tống đã hoàn toàn bị thôn tính  
nên Đại Việt phải đối mặt trực tiếp với  
triều Nguyên, đế quốc hùng mạnh  
nhất bấy giờ.  
Xuyên) và nước Đại Việt để tấn công  
Nam Tống từ phía nam. Các sứ đoàn  
Mông Cổ được cử tới nhà Trần đề lôi  
kéo Đại Việt, mượn đường cho quân  
đội Mông Cổ đi qua để vòng lên phía  
bắc đánh Nam Tống. Vua Trần Thái  
Tông (1225-1258) khước từ yêu cầu  
và bắt giam sứ giả của người Mông  
Cổ. Đến năm 1258, Đại Việt vẫn nằm  
trong sách lược của người Mông Cổ  
trong việc vây hãm và tấn công Nam  
Tống từ các phía. Tháng 1 năm 1258,  
trên cơ sở chiến thắng Đại Lý, Ngột  
Lương Hợp Thai, người giữ nhiệm vụ  
tiếp tục đánh các nước chưa hàng  
phục ở phía nam Trung Hoa, mang  
theo 3 vạn quân Mông Cổ và 2 vạn  
quân từ Đại Lý tấn công Đại Việt (Hà  
Văn Tấn và Phạm Thị Tâm, 2003: 61-  
69) . Vua Trần Thái Tông đích thân  
dẫn quân kháng chiến. Khi quân Mông  
Cổ chiếm được Thăng Long bị Đại  
Việt phản công tại trận Đông Bộ Đầu  
(dốc Hàng Than, Hà Nội ngày nay)  
làm cho đại bại, buộc phải rút về nước.  
Sau cuộc chiến tranh này, triều Trần  
cử sứ giả sang thông hiếu với nhà  
Tống và lập quan hệ với Mông Cổ,  
tiến hành cống nạp để duy trì nền độc  
lập (Ngô Sĩ Liên, 1998: 27-289).  
Đầu năm 1285, Hốt Tất Liệt xâm lược  
Đại Việt lần thứ hai. Quân Nguyên  
chia làm 3 đạo quân tiến vào Đại Việt.  
Qua nhiều trận đánh ở Sơn Động,  
Vạn Kiếp, Thăng Long… quân  
Nguyên chiếm ưu thế nhờ lực lượng  
thiện chiến, chiếm được Thăng Long,  
đánh bại các cuộc phản kích của triều  
Trần. Quân Đại Việt rút về phòng thủ  
ở Thanh Hóa. Người Nguyên trước kế  
sách phòng thủ của quân Đại Việt,  
hơn nữa thời gian ở Đại Việt lâu,  
không hợp thủy thổ, thời tiết nên bị  
nhiều bệnh tật, lại thiếu thốn lương  
thực nên ngày càng khó khăn. Đến  
giữa năm 1285, quân triều Trần phản  
công dồn dập qua các trận Hàm Tử -  
Tây Kết, Chương Dương Độ, Thăng  
Long, Thiên Mạc, khiến quân Nguyên  
thương vong vô số, buộc phải rút lui  
(Ngô Sĩ Liên, 1998: 52-57).  
Trước khi cuộc xâm lược lần thứ hai  
diễn ra, Hốt Tất Liệt đã có ý thử dùng  
biện pháp ngoại giao và quân sự để  
biến Đại Việt từ một nước chư hầu trở  
thành phụ thuộc như Cao Ly. Năm  
1281, Hốt Tất Liệt yêu cầu vua Trần  
Nhân Tông sang chầu. Vua Trần  
Sau thất bại trong cuộc chiến tranh  
Nhân Tông cáo bệnh và cử Trần Di Ái xâm lược Đại Việt lần thứ hai, Hốt Tất  
NGUYỄN NHẬT LINH – MỐI QUAN HỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA…  
55  
Liệt ngay lập tức xây dựng lại kế gia Đông Nam Á với Mông - Nguyên  
hoạch cho cuộc chiến tranh xâm lược  
Đại Việt lần thứ 3 vào cuối năm 1286.  
Lần thứ ba này, quân Nguyên với số  
lượng lên đến 30 vạn chia làm 3 ngả  
với quân bộ, quân thủy tiến đánh Đại  
Việt. Sau nhiều trận chiến cả ở biên  
giới hai nước, trên bộ, trên sông và  
trên biển, đến cuối năm 1288, quân  
Nguyên đại bại, nhiều tướng lĩnh tử  
trận, quân nhân bị bắt giữ (Ngô Sĩ  
Liên, 1998: 58-65). Chiến thắng của  
Đại Việt đã chấm dứt chiến tranh và  
các cuộc chinh phạt của triều Nguyên  
ở Đại Việt, tạo điều kiện cho Đại Việt  
thiết lập quan hệ ngoại giao một cách  
tương đối hòa bình để duy trì nền độc  
lập.  
vẫn là khuynh hướng chủ yếu trong  
các mối quan hệ ở khu vực trong thời  
gian này.  
6. KẾT LUẬN  
Nửa cuối thế kỷ XIII là thời kỳ thế lực  
của Mông - Nguyên hùng mạnh với  
diện tích đánh chiếm rộng lớn. Đây  
cũng đồng thời là lúc lịch sử của đế  
quốc Mông - Nguyên có những  
chuyển biến đáng chú ý. Hốt Tất Liệt  
và người Mông Cổ đã kiến lập một  
vương triều hùng mạnh ở Trung Hoa,  
tiếp thu mô hình chính trị và cách thức  
người Trung Hoa để duy trì và đặt cơ  
sở thống trị trong gần 100 năm ở  
Trung Hoa.  
Không chỉ tập trung vào các mối quan  
hệ trao đổi và thương mại liên lục địa  
Á - Âu, triều Nguyên đã nỗ lực thiết  
lập những mối giao dịch với Cao Ly,  
Nhật Bản và Đông Nam Á thông qua  
những sức ép về quân sự và chính trị,  
đồng thời lợi dụng những thành tựu  
của Nam Tống và Cao Ly, Mông -  
Nguyên đã xây dựng lực lượng hải  
Ngoài ba lần xâm lược Đại Việt, năm  
1283 và năm 1287, triều Nguyên cũng  
đưa quân tiến đánh và tiêu diệt Pagan,  
mở rộng ảnh hưởng ở Đông Nam Á  
lục địa và mở đường đánh xuống  
vùng hải đảo. Những cuộc xâm lược  
của triều Nguyên vào các vương quốc  
của người Thái (1292-1293 và 1301-  
1302) và vương quốc Singosari (năm quân, bổ sung cho quân đội.  
1292-1293) cũng dẫn đến những xáo  
Thêm vào đó, Mông - Nguyên cũng  
trộn trong kinh tế, chính trị Đông Nam  
Á. Sau khi Pagan bị diệt vong, một số  
quốc gia của người Thái hình thành  
để đối địch với quân Nguyên, tiêu biểu  
nhất là quốc gia Sukhothai hùng mạnh  
ở Đông Nam Á lục địa. Sự bành  
trướng của triều Nguyên cũng là một  
tác nhân dẫn tới sự sụp đổ của  
xây dựng hệ thống quan hệ của mình  
với Đông Á dựa trên các thủ đoạn  
chính trị, kết hợp cả ngoại giao và  
quân sự nhằm gây sức ép, buộc các  
nước phải thần phục hoặc chi phối  
mạnh mẽ các nước này. Ý thức được  
những khó khăn và thách thức trong  
việc bành trướng về phương Đông,  
Singosari và sự ra đời của Majapahit. thay vì trực tiếp cai trị Cao Ly, triều  
Nguyên đã thông qua quan hệ quân  
sự, ngoại giao, con tin, hôn nhân và  
Dù vậy, trong suốt nửa sau thế kỷ XIII,  
sự đề phòng và đối đầu của các quốc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 4 (272) 2021  
56  
những sức ép về kinh tế, văn hóa để sung lớn cho quân đội Mông - Nguyên,  
gián tiếp chi phối và can thiệp Cao Ly.  
đặc biệt trong điều kiện các cuộc  
chiến tranh diễn ra ở sông, biển, vùng  
đầm lầy và nhiệt đới Đông Nam Á.  
Tuy vậy, không phải cuộc bành  
trướng nào của quân Nguyên cũng  
thành công, đặc biệt là ba lần thất bại  
trước mưu dũng, trí lược của quân  
Đại Việt, sự bành trướng của đế quốc  
Mông - Nguyên ở Đông Á và Đông  
Nam Á trong khoảng cuối thế kỷ XIII  
đã bị đẩy lùi.  
Sự thôn tính Nam Tống và điều khiển  
Cao Ly đã mang lại cho Mông -  
Nguyên những tiềm năng và thực lực  
kinh tế, nhân lực và quân đội lớn. Các  
cuộc xâm lược của Mông - Nguyên  
không phải chỉ còn dựa vào người  
Mông Cổ, mà phần lớn lực lượng  
quân đội mà nhà Nguyên sử dụng để  
xâm lược Nhật Bản, Đại Việt và Đông  
Nam Á là từ Nam Tống, Nữ Chân,  
Cao Ly, Đại Lý… Đây là nguồn bổ  
CHÚ THÍCH  
(1) Từ năm 1127, sau sự biến Tĩnh Khang, nhà Kim của người Nữ Chân kiểm soát vùng phía  
bắc, triều đình nhà Tống buộc phải rút lui về phòng thủ ở phía nam sông Dương Tử, đặt  
kinh đô ở Lâm An (Hàng Châu) để xây dựng quân đội nhằm đẩy lùi các cuộc xâm lược của  
người Nữ Chân và người Mông Cổ (Ebrey; Walthall; Palais, 2006: 176).  
(2) Từ năm 1205, Thành Cát Tư Hãn bắt đầu tấn công Tây Hạ, từ năm 1210 lại đánh nước  
Kim. Đến năm 1227, người Mông Cổ tiêu diệt được Tây Hạ, rồi theo ý tưởng của Thành Cát  
Tư Hãn “Liên Tống phạt Kim”, lập mối liên minh với Nam Tống để đánh nước Kim. Đến năm  
1234, liên quân Mông - Tống vây hãm rồi hợp quân công phá, diệt nhà Kim. Lúc này, theo  
hiệp ước, Nam Tống được lấy lại 3 kinh là Lạc Dương, Khai Phong, Quy Đức, nhưng khi  
quân Tống đến Khai Phong đã bị người Mông Cổ tháo nước Hoàng Hà dìm chết mấy vạn  
quân. Mông Cổ quay lại tấn công Nam Tống.  
(3) Nhiều nhận định cho rằng ngay từ khi bị khước từ cống nạp, triều Nguyên muốn tiến hành  
xâm lược Nhật Bản, nhưng vì cuộc chiến với quân Nam Tống đang rất quyết liệt nên  
Nguyên Thế Tổ chỉ có thể tiến hành cuộc chiến tranh vào năm 1274, sau khi đã chiếm được  
thành Tương Dương, cứ điểm chiến lược để chiến thắng Nam Tống.  
(4)  
Nhiều quan điểm còn cho rằng một trong những nguyên nhân thất bại của cuộc chiến  
tranh xâm lược lần thứ nhất là vì quân Nguyên còn phải dành sự chú ý cho cuộc chiến tranh  
thôn tính Nam Tống nên không thể tập trung toàn lực tiến đánh Nhật Bản (Turnbull, 2013;  
Tsunoda - Goodrich, 1951: 74-76).  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Chambers, James. 1979. The Devil's Horsemen: The Mongol Invasion of Europe.  
Weidenfeld and Nicolson.  
2. Curtin, Jeremiah. 1972. The Mongols - A History. Greenwood Press.  
3. Ebrey, Patricia Buckley; Walthall, Anne; B. Palais, James. 2006. East Asia: A Cultural,  
Social, and Political History. Boston.  
NGUYỄN NHẬT LINH – MỐI QUAN HỆ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA…  
57  
4. Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm. 2003. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên  
Mông thế kỷ XIII. Hà Nội: Nxb. Quân đội Nhân dân.  
5. Hall, John W. - Jansen, Marius B. - Kanai, Madoka - Twitchett, Denis. 2008. The  
Cambridge History of Japan, Volume 3: Medieval Japan, Cambridge University Press.  
6. Jackson, Peter. 2003. The Delhi Sultanate: A Political and Military History. Cambridge  
University Press.  
7. May, Timothy. 1996. Chormaqan Noyan: “The First Mongol Military Governor in the  
Middle East”. Master Degree Thesis, Indiana University.  
8. Ngô Sĩ Liên. 1998. Đại Việt sử ký toàn thư. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.  
9. Nguyễn Văn Ánh - Đỗ Đình Hãng - Lê Đình Chỉnh. 1996. Hàn Quốc, lịch sử - văn hóa.  
Hà Nội: Nxb. Văn hóa.  
10. Prawdin, Michael 2006. The Mongol Empire: Its Rise and Legacy. Transaction, New  
Brunswick.  
11. Rossabi, Morris. 1988. Khubilai Khan: His Life and Times. Berkeley: University of  
California Press.  
12. Sanson, G.B. 1989. Lược sử văn hóa Nhật Bản - tập II. Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã  
hội.  
13. Shagdar, Bira. 2000. “The Mongol Empire in the Thirteenth and Fourteenth  
Centuries: East-West Relations”, in: Vadime Elisseeff. The Silk Roads: Highways of  
Culture and Commerce. Berghahn.  
14. Tarling, Nicolas. 1992. The Cambridge History of Southeast Asia. Volume 1.  
Cambridge University press.  
15. Tsunoda, Ryusaku and Goodrich, L.C. 1951. Japan in the Chinese Dynastichistories.  
South Pasadena.  
16. Turnbull, Stephen. 2003. Genghis Khan and the Mongol Conquests 1190-1400.  
Taylor & Francis.  
17. Turnbull, Stephen. 2013. The Mongol Invasions of Japan 1274 and 1281. Osprey  
Publishing.  
18. Twitchett, Denis and Fairbank, John K. 2008. The Cambridge History of China,  
Volume 6: Alien Regimes and Border Stages, 907-1368. Cambridge University Press.  
19. Weatherford, Jack. 2004. Genghis Khan and the Making of the Modern World. Three  
Rivers Press.  
20. William, E. Henthorn. 1963. Korea: The Mongol Invasions. E.J. Brill Publisher.  
pdf 10 trang yennguyen 19820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ và ảnh hưởng của Mông - Nguyên ở Đông Á và Đông Nam Á nửa cuối thế kỷ XIII", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_va_anh_huong_cua_mong_nguyen_o_dong_a_va_dong_na.pdf