Di sản vật thể vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
DI SẢN VẬT THỂ VÙNG BIÊN GIỚI PHÍA TÂY TỈNH THANH HÓA  
ThS. Bùi Thị Hậu1  
Tóm tắt: Vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa từ xưa đến nay vốn là nơi sinh tụ của  
đồng bào các dân tộc thiểu số: Thái, Mường, Mông, Dao, Khơ mú. Trong quá trình sinh sống,  
đồng bào ở đây đã sáng tạo nên những giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể đồ sộ, mang  
đậm dấu ấn tộc người. Di sản văn hóa vật thể của vùng chủ yếu là di tích lịch sử và danh lam  
thắng cảnh - nguồn tài nguyên quan trọng giúp cho du lịch phát triển. Tuy nhiên, do nhiều  
nguyên nhân, việc khai thác và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể của vùng còn hạn  
chế, chưa thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển như nhiều vùng miền khác.  
Từ khóa: Biên giới phía Tây Thanh Hóa, di sản vật thể, bảo tồn và phát huy giá trị.  
1. Vài nét về vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa  
Khái niệm “Vùng biên giới” là chỉ khu vực hành chính cấp huyện của hai bên tiếp giáp  
đường biên giới2. Thanh Hóa có 192 km tiếp giáp tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân  
dân Lào. Do vậy, vùng biên giới phía Tây của tỉnh được xác định thuộc địa bàn 5 huyện miền  
núi (Mường Lát, Thường Xuân, Quan Hóa, Quan Sơn, Lang Chánh) gồm 16 xã biên giới với  
154 thôn, bản, có tổng diện tích tự nhiên là 4.012,72 km2, với 14.219 hộ/67.093 khẩu3.  
Với vị trí địa lý như trên, điều kiện tự nhiên vùng biên giới xứ Thanh khắc nghiệt, bị  
chia cắt bởi các dãy núi cao, sông sâu, xen giữa thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo hệ thống  
sông Mã, sông Luồng, sông Lò. Diện tích đồi núi chiếm 91%. Độ cao trung bình thấp nhất  
khoảng 500 m. Độ dốc lớn gây khó khăn cho việc đi lại giữa các bản làng đồng thời dễ bị lũ  
ống gây thiệt hại lớn về người và của.  
Về dân cư, đây là nơi sinh sống lâu đời của các tộc người: Thái, Mường, Mông, Dao,  
Khơ Mú và một ít người Kinh. Theo thống kê của Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Thanh Hóa  
(2017), người Thái chiếm 63%, Mông 24%, Mường 6%, người Kinh chiếm khoảng 4%, còn  
lại người Khơ Mú và Dao chiếm 3%. Với đặc điểm địa hình núi cao bị chia cắt nên mật độ  
dân cư ở đây thưa thớt. Trừ những bản, làng người Thái, Mường, Kinh có truyền thống định  
canh định cư còn các bản Mông, Dao thường du canh du cư, di cư tự do. Là khu vực biên giới  
nên quá trình định canh định cư tại khu vực này không thường xuyên, lâu dài giống vùng  
thung lũng và đồng bằng mà quá trình du canh du cư, di cư tự do lại thường xuyên hơn và  
diễn biến khá phức tạp. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đặc điểm của hệ thống di sản văn  
hóa của vùng.  
Vùng biên giới phía Tây là vùng sâu, vùng xa, hầu hết các xã đều thuộc diện 135, giao  
thông đi lại khó khăn. Đặc biệt, do địa hình chia cắt nên nhiều bản cách trung tâm khá xa  
khoảng 20 km, có bản lại nằm trên các đỉnh núi cao. Mặc dù, được sự quan tâm của Đảng và  
Nhà nước cùng với sự cố gắng của các lực lượng chức năng ở địa phương nhưng tỷ lệ nghèo  
1 Khoa Văn hóa - Thông tin, Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa  
2 Nghị định về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (Số: 34/2014/NĐ-CP).  
3 Số liệu năm 2019, do Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Thanh Hóa cung cấp.  
35  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
đói của vùng chiếm đến 50 - 60%, thuộc diện cao nhất trong tỉnh. Đây cũng là nơi có dân trí  
thấp, tỷ lệ mù chữ cao.  
Từ xưa đến nay, vùng biên giới luôn được xác định là “lá chắn” về an ninh quốc phòng  
của đất nước. Các yếu tố: kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa... luôn “nhạy cảm” hơn so với các  
vùng miền khác. Cho đến nay, vùng đất này còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa trên cả hai  
bình diện tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, do mặt bằng dân trí còn thấp, nên hiện nay nhiều  
giá trị văn hóa truyền thống đã bị biến đổi hoặc biến mất, trong khi đó, hủ tục lạc hậu lại tồn  
tại dai dẳng gây khó khăn cho công cuộc xây dựng Nông thôn mới.  
2. Hệ thống di sản văn hóa vật thể vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa  
2.1. Về số lượng và loại hình di sản văn hóa vật thể  
Luật Di sản văn hóa quy định, di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch  
sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật,  
bảo vật quốc gia. Vùng biên giới phía Tây thuộc vùng sâu vùng xa, giao thông đi lại khó khăn  
nên trong phạm vi bài viết này chỉ điều tra khảo sát tại 70 làng, bản/ 9 xã (đại diện). Kết quả  
cho thấy loại hình di sản văn hóa vật thể các huyện vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa  
khá phong phú, đa dạng. Trong đó, tiêu biểu, điển hình nhất còn lại hiện nay là loại hình nhà  
sàn cổ của dân tộc Thái, nhà trình tường của người Mông (chiếm 86%), danh lam thắng cảnh  
(93%) di tích lịch sử - văn hóa (28%), cổ vật (14%). [xem bảng 1].  
Bảng 1: Thống kê loại hình di sản văn hóa vật thể  
Loại hình di sản  
Danh lam thắng cảnh  
Tần suất trả lời  
Phần trăm (%)  
65/70  
60/70  
60/70  
2/70  
1/70  
0/70  
70  
93%  
Nhà sàn cổ dân tộc Thái  
Nhà trình tường của người Mông  
Di tích lịch sử - văn hóa  
Cổ vật  
86%  
86%  
28%  
14%  
Di tích khảo cổ  
0
Tổng  
100  
[Nguồn: Tác giả, 2019]  
Bảng 2: Thống kê số lượng di sản văn hóa vật thể  
Số lượng di sản vật thể thuộc các loại hình  
Nhà trình  
tường của  
STT  
Xã  
Danh lam  
Di tích lịch sử  
văn hóa  
Cổ vật  
thắng cảnh  
người Mông  
1
2
3
4
Tén Tằn  
Sơn Thủy  
Sơn Điện  
Na Mèo  
1
2
5
3
0
0
0
0
1
1
1
0
36  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
5
6
7
8
9
Tam Lư  
4
2
1
2
0
0
0
0
0
0
0
Tam Thanh  
Hiền Kiệt  
Bát Mọt  
1
0
1
0
Tam Chung  
Tổng  
1
75  
75  
20  
2
[Nguồn: Tác giả, 2019]  
Để thống kê được cụ thể, chính xác số lượng di sản văn hóa vật thể vùng biên giới phía  
Tây Thanh Hóa là một việc làm khó khăn. Trong phạm vi bài viết, tác giả mới chỉ điều tra  
được 9/16 xã thuộc các loại hình danh lam thắng cảnh, nhà trình tường của người Mông, di  
tích lịch sử - văn hóa, còn về di tích khảo cổ, nhà sàn cổ của người Thái chưa thẩm định chính  
xác con số cụ thể được. Trong đó, nhà trình tường của người Mông cả cũ và mới có 75 nhà  
chủ yếu tập trung tại Pom Khuông - Tam Chung - Mường Lát; di tích lịch sử văn hóa có 3 di  
tích; cổ vật có 2 trống đồng loại II, danh lam thắng cảnh thì khá nhiều chủ yếu là cảnh quan  
sông, suối, thác nước (khoảng 20).  
H.Lebreton đã nói về Thanh Hóa trong cuốn sách “Tỉnh Thanh Hóa/Thanh Hóa tươi  
đẹp” (La Province Thanh Hoa, xuất bản năm 1924) như sau: “Thanh Hóa không chỉ là một  
đơn vị hành chính bình thường: đấy là cả một xứ, cũng muôn hình muôn vẻ như xứ Bắc Kỳ  
mà còn là một hình ảnh của Bắc Kỳ thu nhỏ, có châu thổ trù phú và phì nhiêu, vùng Trung du  
cây cỏ bạt ngàn đồi lượn sóng, vùng cao với những khu rừng đại ngàn um tùm bao phủ4”. Tuy  
vậy, khi nghiên cứu về Thanh Hóa, các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu sâu về  
người Kinh, chưa có nhiều những nghiên cứu về các tộc người thiểu số một cách hệ thống đặc  
biệt là ở vùng biên cương. Đây là địa bàn có nhiều cảnh quan, danh lam thắng cảnh, thắng  
tích đẹp, nơi lưu giữ khối lượng di sản văn hóa tộc người đồ sộ.  
2.2. Giá trị của di sản văn hóa vật thể vùng biên giới phía Tây Thanh Hóa  
2.2.1. Di tích lịch sử - văn hóa và di tích cách mạng  
Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa ở Thanh Hóa được chứng minh là có mật độ phân bố  
dày đặc, đa dạng, có tính liên tục về thời gian. Không gian phân bố chủ yếu nằm dọc ven sông  
Mã và một số dòng sông khác trong tỉnh. Nhận định này cho thấy, vùng miền núi Thanh Hóa  
nói chung, các xã biên giới nói riêng, số lượng, loại hình di tích lịch sử - văn hóa là rất ít.  
Trong khi đó, được thiên nhiên ưu đãi nên vùng biên giới có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp  
nổi tiếng cùng với số lượng nhà cổ, bản cổ phong phú đa dạng. Theo kết quả điều tra, vùng  
đất này chỉ còn lại 1 di tích lịch sử - văn hóa và 1 di tích cách mạng.  
* Di tích lịch sử: Đền thờ Tư Mã Hai Đào  
Từ bao đời nay người dân vùng biên cương phía Tây luôn nhớ công ơn về người anh  
hùng Tư Mã Hai Đào đã đến đây xây dựng thủ phủ, đánh tan giặc ngoại xâm vùng biên giới.  
4 http://vanhoadoisong.vn/web/trang-chu/van-hoa/xu-thanh-mot-mien-di-san-van-hoa-dac-sac.html  
37  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Theo một số cuốn sách cổ và tài liệu của các cụ cao niên thuộc xã Mường Mìn - Sơn  
Thủy ghi lại được thì ông là người ở Mường Đào - Mường Khô xưa (nay thuộc huyện Bá  
Thước). Vốn thông minh nên từ nhỏ ông đã bộc lộ những phẩm chất hơn người và luyện kiếm  
rất giỏi. Khi lớn lên có dáng người cao lớn, tướng mạo phi phàm và võ luyện tinh tài. Khi  
nghe tin triều đình mở hội đấu võ chiêu mộ anh tài, phò vua diệt giặc ngoại xâm ông lập tức  
xuôi về kinh kỳ dâng sớ tấu trình, xin được tham gia hội đấu võ. Trong võ đài năm ấy, ông đã  
thắng tuyệt đối các đối thủ khác và được nhà vua tác thành gả công chúa là nàng Lá Nọi.  
Từ chàng trai nghèo, Hai Đào trở thành phò mã đúng vào thời điểm giặc ngoại xâm  
quấy nhiễu và xâm chiếm vùng biên ải của đất nước. Phò mã Hai Đào xin vua cho trở về quê  
hương lên vùng biên cương để trừ giặc. Với khí phách của người anh hùng, với mưu mẹo và  
võ nghệ tinh thông, lại được 2 anh em ruột là tướng Ót Đanh và Ót Dọ phò tá, quân của Hai  
Đào tiến đánh quân giặc dọc theo biên giới kéo dài cả trăm km từ Tén Tằn huyện Mường Lát  
qua huyện Quan Hóa đến Mường Xia huyện Quan Sơn. Quân sĩ của Phò mã Hai Đào tiến đến  
đâu, quân giặc bỏ chạy đến đó. Chỉ trong thời gian ngắn vùng biên cương rộng dài phía Tây  
tỉnh Thanh Hóa không còn bóng giặc, cư dân các mường lại được sống trong yên bình và trở  
lại thôn bản làm ăn.  
Biên cương bình yên, tướng quân Tư Mã Hai Đào chọn Mường Xia nơi “sơn thủy hữu  
tình” để xây dựng thủ phủ và sống trọn đời với vùng biên cương mà cuộc đời ông cùng với  
các binh mường đã từng nhiều năm chống giặc ngoại xâm giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng  
của Tổ quốc. Khi về già, ông mất tại mường Xia. Người dân mường Xia an táng ông tại một  
trong những hang động của núi Pha Dùa. Cũng từ đó, người dân mường Xia thường gọi ông  
là thần Tư Mã ở Pha Dùa. Tuy nhiên, hang động nào được an táng Hai Đào đến nay vẫn còn  
là điều bí ẩn. Nhớ ơn người đã có công gìn giữ biên cương, mang lại no ấm cho bản làng, làm  
nên sự phồn thịnh cho dải biên cương trở nên trù phú, xanh tươi. Sau khi ông mất, đồng bào  
Thái nói riêng và đồng bào các dân tộc nói chung đã lập đền, hương khói thờ phụng Tướng  
quân Hai Đào. Hiện nay, trên địa bàn hai di tích nằm trong không gian miền núi xứ Thanh, đó  
là di tích đền Tén Tằn (xã Tén Tằn, huyện Mường Lát) và di tích đền thờ Tư Mã ở bản Chung  
Sơn (xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn).  
Tại Tén Tằn, bà con cũng lập đền thờ để thờ vọng Hai Đào tại rừng cây Mát, bên bờ  
suối Sim và thượng nguồn sông Mã. Nơi đây được gọi là đền thờ Tén Tằn. Đền thờ xưa là  
ngôi nhà sàn bằng gỗ kiên cố, linh thiêng và rộng rãi, thu hút đông đảo dân chúng trong vùng  
và cả người Lào tới phụng thờ. Dưới gầm sàn có tượng một con lợn bằng đá. Việc cúng tế do  
đàn ông đảm nhiệm, còn đàn bà chỉ lo chuẩn bị nấu nướng dưới sân, bầy lễ để đàn ông đưa  
lên nhà làm lễ. Năm ấy, vào mùa đốt rẫy để trỉa hạt, tiết trời hanh heo, có người trai bản đã vô  
tình để lửa lan rộng lại gặp gió, đền thờ Phò mã Tén Tằn bắt lửa bốc cháy, ngôi đền cổ và khu  
rừng cây mát trở thành đống tro tàn. Đền thờ Tư Mã Hai Đào hiện nay cách Cửa khẩu quốc tế  
Tén Tằn không xa, dấu tích của ngôi đền còn lại là nền móng, tượng linh vật bằng đá xanh và  
bát hương chế tác bằng đồng. Do đền cũ bị cháy, đồng bào trong vùng dựng tạm miếu thờ  
dưới tán cây cổ thụ xanh um, bên dòng suối Sim để phụng thờ. Tương truyền, thần Tư Mã rất  
linh thiêng, mỗi khi ai có việc đi qua đền đều phải xuống kiệu hoặc ngựa xe - hạ mã, bái tạ.  
38  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Hàng năm, lễ hội Tén Tằn thờ Tư Mã Hai Đào được tổ chức vào ngày 29 tháng chạp  
(tức ngày 29 tết âm lịch). Đồ tế lễ là cơm gạo tẻ, thịt trâu đen và thịt lợn. Trâu dâng thần được  
mổ tại bến sông Mã ngay cạnh đền, 10 cô gái đội mâm lễ đến chân cầu thang, các ông Ậu trên  
nhà đón lễ rồi sắp đặt để lễ thần. Lễ vật dâng cúng Tư Mã Hai Đào gồm 10 mâm, trong đó có  
5 mâm lễ mặn, 5 mâm hoa quả, hai chĩnh rượu cần được bày tại hai gian thờ: Gian chính và  
gian phụ trong đền. Khi lễ vật đã bày biện xong, có 10 người hành lễ. Ậu mo có 10 người,  
trong đó có 2 ậu mo đảm nhiệm chính, 7 ông phụ việc, 1 ông đánh cồng. Mở đầu bài mo trong  
lễ hội Tén Tằn hướng tới các nhân vật được phụng thờ sau: Đức Tư Mã Hai Đào - Họa Quận  
Công/ Ông Luông Du chóp cần đớn/ Giá khặt ái đén keo đén/ Loò Khoằm khói Bớm thưa lời/  
Hót đức nhớ chà Nghè Nan/ Khoằm Vang - Nàng Khằm xáy/ Toọ boóc máy Nàng kéo uốn  
hướn/ Khoằm khoái thứa lời hót tày/ Liêng ma xã liêng ngùa pún khoài... Sau khi tế lễ, dân  
bản và khách thập phương múa hát trong 3 ngày. Tại sân đền, các trò chơi, trò diễn được tổ  
chức vui tươi, nhộn nhịp như: Mắc tó lẹ, tung còn, hát khặp...5.  
Di tích đền Tư Mã ở Quan Sơn: Hiện nay, ở bản Chung Sơn, xã Sơn Thủy, huyện Quan  
Sơn vẫn còn nền móng nhà ở của gia đình Tư Mã Hai Đào và thủ phủ - nơi ông làm việc thuở  
xưa (nay trên nền đất ấy là Trường THCS xã Sơn Thủy). Đền thờ Tư Mã Hai Đào tọa lạc ở  
gần cây đa cổ thụ phía bên trên đường đi từ km 66 qua Sơn Thủy đi Na Mèo (km 78). Đền thờ  
cũ cũng là ngôi nhà ông ở trước đây chính là vị trí sân của đền thờ bây giờ. Do thế ở hơi thấp  
và quá gần đường cái, nên khi đầu tư xây dựng đền thờ năm 2010 huyện Quan Sơn đã xây lên  
phía trên cách đó khoảng 15 m. Còn vị trí nền nhà cũng là đền thờ cũ của ông để làm sân cho  
đền thờ. Hiện nay, đền thờ Tư Mã Hai Đào ở cách đường cái về phía đồi, đường lên Na Mèo  
khoảng 50m. Vị trí mới này vừa cao ráo vừa có sân rộng cho thế hệ con cháu, dân bản, khách  
thập phương đến viếng thăm thắp hương cúng tế ông.  
Hòn đá vía (cột trụ của mường Xia, Chu Sàn) trước đây đặt ở bãi rộng, nơi làm sân vận  
động của bản Chung Sơn và lễ hội mường Xia bây giờ. Vị trí hòn đá vía (trụ mường) cách đền  
thờ Tư Mã Hai Đào khoảng 150 m về phía bắc, trước mặt đền thờ ngay trong bản Chung Sơn.  
Ngày khánh thành đền thờ cũng là ngày khôi phục lại lễ hội mường Xia lần thứ Nhất  
(năm 2010). Ban tổ chức lễ hội đã cúng trâu xin phép được chuyển hòn đá vía (lặc mường, trụ  
mường) về sân đền thờ Tư Mã Hai Đào. Ngày nay, đền thờ Tư Mã Hai Đào và lễ hội Mường  
Xia trở thành một hoạt động văn hóa thường niên của huyện Quan Sơn thu hút rất nhiều  
khách thập phương về dự lễ và du lịch.  
Di tích đền thờ Tư Mã Hai Đào là di sản lịch sử, văn hóa có giá trị, không chỉ đáp ứng  
nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của đồng bào các dân tộc mà còn là nguồn lực để phát triển du  
lịch miền biên cương. Đền Tén Tằn được bao quanh bởi ruộng lúa, nương ngô bát ngát một  
màu xanh tràn đầy sức sống. Vào mùa lúa chín, ruộng bậc thang tựa như những núi thóc chất  
ngất xếp cao lên tới đỉnh trời. Đền thờ tại Sơn Thủy linh thiêng lại nằm trong quần thể núi Lá  
Hoa - cảnh đẹp nên thơ; núi Pha Dùa - chuyện tình đẹp vấn vương lòng người; hệ thống hang  
động, mạch nước nóng của suối Xia... tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình đặc sắc.  
5 http://baothanhhoa.vn/bao-hang-thang/den-tho-tuong-quan-tu-ma-hai-dao-mien-bien-vien-phia-tay-thanh-  
39  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
* Pha Phanh - Căn cứ địa kháng chiến chống Pháp  
Pha Phanh là một dãy núi đá kéo dài từ bản Na Hồ, bản Sủa (xã Sơn Điện, huyện Quan  
Sơn) xuống xã Nam Động về xã Nam Tiến (huyện Quan Hóa) dài hơn 30 km, tạo thành bức  
tường đá bảo vệ quê hương, bảo vệ căn cứ kháng chiến của ta thời chống Pháp. Thời kỳ 1948  
- 1953 Ủy ban Hành chính kháng chiến xã Sơn Thủy xuống bản Sủa rồi bản Lở trong dãy Pha  
Phanh để tản cư tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến của địa phương.  
Pha Phanh có nong Uấn gắn liền với huyền thoại dân gian về chàng thuồng luồng ở  
vụng Hậu, sông Lò xã Tam Lư. Mặc dù, vị trí ở cách xa nhau vài chục cây số nhưng nong  
Uấn, nong Dạ, Pù Kùn, vụng Hậu có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành những huyền thoại  
ly kỳ xoay quanh mô típ kể về thuồng luồng.  
2.2.2. Nhà cổ  
* Nhà sàn cổ của người Thái  
Tại vùng núi biên giới phía Tây, có mặt sớm nhất là người Thái, Mường. Trải qua quá  
trình cộng cư lâu dài vừa xen cài vừa tập trung giữa các thành phần tộc người đã làm cho sự  
giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ và ngày càng sâu sắc. Đây là mối quan hệ diễn ra sớm nhất  
và cũng sâu đậm nhất, tạo nên nhiều nét tương đồng về văn hóa giữa hai tộc người này trên  
nhiều phương diện cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Người Thái có số dân đông,  
chiếm đa số, nên sắc thái văn hóa Thái được xem như sắc màu nổi trội trong bức tranh văn  
hóa tộc người ở nơi đây. Mặt khác, do sinh sống lâu dài vùng biên giới, có sự giao lưu thân  
tộc với cư dân Lào nên văn hóa của đồng bào Thái nơi đây lại có những nét độc đáo riêng  
biệt. Khi nhắc đến văn hóa người Thái tức là gắn liền với những nếp nhà sàn xinh xắn, nép  
mình trong những thung lũng giữa núi rừng.  
Theo điều tra, vùng biên giới có nhiều bản làng số lượng cư dân Thái chiếm 100% như:  
- Huyện Mường Lát: Bản Cang, Na Hin, Chai, Lách, Táo của Mường Lát. Riêng xã  
Trung Lý có 146 hộ, gần 1000 nhân khẩu với 100% là người Thái.  
- Huyện Quan Sơn: Bản Yên xã Mường Mìn; bản Ngàm, bản Pa, Cha Lung, Kham xã  
Tam Thanh, bản Sại xã Tam Lư (dân tộc Thái chiếm 100%).  
- Huyện Quan Hóa: Bản Ho, Cháo xã Hiền Kiệt dân tộc Thái (96%).  
- Huyện Lang Chánh: Bản Xắng Hằng xã Yên Khương (dân tộc Thái chiếm 90%).  
- Huyện Thường Xuân: bản Vịn, Khẹo, Đục xã Bát Mọt (dân tộc Thái chiếm trên 95%).  
Theo Charles Robequain trong trong sách "Le Thanh Hoa" ("Tỉnh Thanh Hóa", Nxb  
G.VAN, xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp năm 1929, ngôi nhà của người Thái ở Thanh Hóa là:  
“...nhà sàn hình chữ nhật. Mặt trên sàn dùng để ở, gầm sàn dùng để nuôi, nhốt gia súc có rào kín  
xung quanh. Sàn ở cao khoảng 2 m, sàn trước nhà để phơi phóng, rửa ráy. Tại đây có vại nước  
để rửa chân trước khi vào nhà. Bếp đặt ở giữa sàn ở, bàn thờ tổ tiên, ông táo ở góc nhà. Mặt  
bằng sinh hoạt trên sàn nhà chia làm hai phần: gian sát cầu thang chính là nơi tiếp khách, dành  
cho đàn ông; gian phía trong, giáp cầu thang phụ là nơi dành cho nữ ở và nấu nướng...”.  
Nhà sàn của người Thái ở vùng biên là loại hình nhà có đà. Dấu hiệu dễ nhận biết kiểu  
nhà này đó là cột chôn, sử dụng lạt buộc. “Ưu điểm của nhà này rất là vững chãi, cột to, có  
ngoãm tự nhiên hay tự tạo để luồn chốt làm ping để gác đà dưới. Hàng cột giữa chỉ cao đến  
40  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
gầm sàn có tác dụng nâng đỡ phần giữa nhà sàn. Cột giữa của vì đầu tiên có thể cao quá mặt  
sàn 40 - 50 cm để tiện kê lúc chặt đẽo các công cụ và đồ gia dụng trong gia đình. Các đỉnh cột  
nếu không có ngoãm tự nhiên thì dùng rìu vát tạo thành ngoãm để đặt đà trên, quá giang có  
thể xê dịch được. Kèo được gắn thêm một thanh gỗ con gọi là kim may để ngoắc vào đà  
trên...” 6 (người Thái Quan Sơn gọi kim may là cút kèo).  
Nhà sàn người Thái cổ ít khi làm hè (thưng ra ngoài cột cái). Trước đây chỉ có nhà tạo,  
nhà quan mới làm hè ở phía cầu thang lên. Đến nay, hầu như nhà nào cũng làm hè ở phía cầu  
thang lên. Có nhà còn làm hè đi lại xung quanh nhà.  
Ở các làng, bản thuộc huyện Quan Sơn, nhà sàn người Thái thì sẽ có ba gian trở lên, các  
gian đều nhau thì thường được bố trí: Gian trong cùng thưng vào sát cột, gian ngoài thưng ra  
ngoài cột khoảng 1,5 m tạo cho gian ngoài rộng hơn các gian trong. Cũng có khi gian ngoài  
rộng gấp rưỡi hai gian trong, chưa kể phần thưng ra hè ngoài cột. Gian ngoài (phía gốc dầm  
dọc) là gian của đàn ông ở và tiếp khách. Gian tiếp theo là của bố mẹ hoặc anh chị nếu bố mẹ  
đã qua đời. Ngay gốc cây cột thứ hai từ ngoài vào là chỗ đặt bàn thờ tổ tiên, tiếng Thái gọi là  
“khọ hóng”. Các vùng mường Xia, mường Mìn thì đặt bàn thờ lên trên tường nhà; các vùng  
mường Mò, mường Hạ, mường Chự, mường Sại thì đặt bàn thờ xuống sàn nhà ngay phía  
trong gốc cột thuộc gian thứ hai. Thường thường tại đôi cột này đồng bào thưng ngăn nhà gọi  
là “pha khắn” để ngăn cách gian ngoài tiếp khách với gian trong.  
Qua các cuộc điền dã ở các bản người Thái ở Thanh Hóa cho thấy, đối với ngôi nhà sàn  
truyền thống, cửa sổ và cầu thang được đặt trên các nguyên lý tín ngưỡng, thường là số lẻ.  
Người Thái có những cầu thang chẵn số bậc nhưng đó là thiết kế dành cho khi nhà có người  
chết đưa xác đi mồ. Tương tự, số cửa sổ trong ngôi nhà người Thái Thanh Hóa cũng phải là  
số lẻ.  
Đối với đa phần cư dân, nhà không chỉ là nơi cư trú của mỗi gia đình mà nó còn có  
những ý nghĩa tâm linh đặc biệt khác. Ngôi nhà đôi khi gắn liền với các vấn đề như sức khỏe,  
việc làm ăn, vận hạn của các thành viên trong gia đình, do đó tộc người nào cũng có những  
phong tục tập quán liên quan đến ngôi nhà khá rõ nét từ việc chọn đất, nguyên liệu cho đến  
khánh thành nhà, người Thái cũng không ngoại lệ.  
Hiện nay, nhiều bản cổ vùng biên vẫn còn lưu giữ được 80 - 90% nếp kiến trúc nhà sàn  
cổ của người Thái: bản Vịn, Khẹo, Đục xã Bát Mọt (huyện Thường Xuân), bản Ngàm, bản  
Pa, Cha Lung, Kham xã Tam Thanh, bản Sại xã Tam Lư (huyện Quan Sơn), bản Lát (Mường  
Lát). Trong xu thế du lịch dân tộc học - sinh thái bùng nổ hiện nay, những bản Thái cổ nơi  
bảo tồn văn hóa truyền thống mà trong đó tiêu biểu là những nếp nhà sàn đang trở thành điểm  
đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước - những người ham thích mạo hiểm và văn hóa  
tộc người.  
* Nhà trình tường của người Mông  
Người Mông di cư đến vùng biên muộn hơn so với cư dân Thái và Mường. Mặc dù chỉ  
chiếm 24% dân số nhưng văn hóa của người Mông luôn có sự độc đáo, khác biệt. Trải quaquá  
trình cộng cư lâu dài với cư dân Thái, mặt khác với tập quán du canh du cư, nhà của người  
6 http://huyenquanson.vn/tin-tuc/du-dia-chi-huyen-quan-son/chuong-6-van-hoa-cac-dan-toc-822.html  
41  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Mông đa phần là nhà sàn đơn giản, dễ tháo lắp khi di chuyển. Tuy nhiên, người Mông ở Pom  
Khuông xã Tam Chung huyện Mường Lát (Thanh Hóa) lại xây dựng nhà ở của mình theo  
kiểu nhà trình tường - kiến trúc nhà ở truyền thống của người Mông. Đây là những ngôi nhà  
làm hoàn toàn bằng đất nện dày mà không có bất cứ cột nào làm trụ, với ưu điểm giữ ấm về  
mùa đông, mát mẻ trong mùa hè và có thể chống được kẻ gian cũng như thú dữ.  
Để làm được ngôi nhà trình tường trước khi làm chủ nhà thường huy động nhiều người  
và tuyển chọn loại đất có độ kết dính cao, loại bỏ sạch rễ cây, cỏ rác, trộn thêm một ít sỏi nhỏ  
cho chắc. Sau đó người ta làm những chiếc khuôn dài khoảng 1,5 m - 2 m, rộng khoảng 0,5 m  
rồi cho đất đầy vào khuôn và tiếp đến lấy những chiếc chày nện thật chặt đất. Một ngôi nhà  
rộng 6m, dài 9m phải cần đến 8 - 9 người làm: Một người lấy xà beng thục đất, hai người đào  
đất, hai người vận chuyển, hai người bỏ đất vào khuôn và nện chặt đất, một người khéo tay kĩ  
thuật cao hơn lấy những chiếc vồ ngắn hơn để nện và miết hai bên, nếu đất khô quá lâu sẽ lấy  
bình xịt ít nước để miết cho tường mịn hơn. Họ cứ miệt mài như vậy ngày qua ngày.  
Về cơ bản, ngôi nhà trình tường của người Mông vẫn giữ nguyên lối kiến trúc cũ. Tuy  
nhiên, để thích hợp với cuộc sống hiện đại, mái rơm rạ được thay thế bằng tôn lạnh, sàn nhà  
được lát gạch hoa. Đây chính là xu thế chung hiện nay.  
Hiện nay, bản Pom Khuông, xã Tam Chung có khoảng 75 hộ thì số đông vẫn còn dùng  
nhà trình tường. Mặc dù cuộc sống hiện đại có nhiều sự đổi thay, thế nhưng người Mông ở  
Mường Lát, Thanh Hóa vẫn không ngừng sáng tạo hoán cải ngôi nhà của mình cho phù hợp  
với điều kiện tự nhiên, cũng như trong sinh hoạt, lao động sản xuất mà không mất đi nét kiến  
trúc đặc trưng nhà trình tường truyền thống.  
2.2.3. Cổ vật  
Năm 2008, tại xã Sơn Thủy phát hiện trong lòng đất một trống đồng có đường kính mặt  
50,1 cm, chiều cao 29,5 cm, đã bị vỡ một mảnh phần chân do khai quật. Còn tại Tam Lư  
trống được tìm thấy có đường kính mặt 40,5 m, chiều cao 24,4 cm. Cả hai mặt trống đều là  
hình mặt trời 8 tia mảnh. Xung quanh mặt trống là những băng hoa văn hình trám lồng, những  
dải mây cuộn sinh động. Mặt trống có 3 khối tượng cóc chạy ngược kim đồng hồ. Tang và  
lưng trống cũng được trang trí bằng những vòng hoa văn trám lồng, mây cuộn. Trống có 4 đôi  
quai gắn giữa phần tang và thân trống. Hai trống này được xác định thuộc trống đồng loại II -  
kết quả phát triển tiếp nối sau trống đồng Đông Sơn mà chủ nhân của nó là những người Việt  
cổ sống ở miền núi trong quá trình phân hóa Việt - Mường diễn ra suốt ngàn năm Bắc thuộc  
của dân tộc ta.  
2.2.4. Danh lam thắng cảnh  
Với địa hình chủ yếu là núi cao, sông sâu, thiên nhiên đã kiến tạo nên vùng núi biên giới  
phía Tây rất nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp, độc đáo. Có lẽ không ở đâu, hệ thống suối và thác  
lại nhiều như ở vùng biên. Cảnh quan này có thể bắt gặp ở hầu hết các bản làng, tuy nhiên nổi  
tiếng nhất là:  
+Suối Pa:bắt nguồn trên vùng giáp biên giới Việt - Lào chảy vào địa phận Việt Nam, đi  
qua các bản: Pa, Cha Lung, Phe, Piềng Pa rồi đổ ra sông Lò tại bản Piềng Pa (thuộc xã Tam  
Thanh) với chiều dài trên 25 km. Mùa khô, suối Pa đẹp tựa như mái tóc thiếu nữ uốn lượn qua  
42  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
các bản, với những thửa ruộng bậc thang, tạo thành một bức tranh hữu tình. Nhưng vào mùa  
mưa, nước trên thượng ngàn đổ về thung lũng suối Pa, tạo thành một dòng suối khổng lồ tuôn  
chảy, người dân các bản không thể đi lại và giao lưu với bên ngoài.  
+ Thác 20 sải: Hai mươi sải là từ dùng phổ biến, ước lượng dân gian cho chiều cao của  
thác nước này nên vùng biên có nhiều thác 20 sải ở: suối Pa, suối Khà, bản Ngàm, suối  
Sàng... Những thác nước này cao, nước tung trắng xóa rất đẹp. Ở bản Khà có 3 tầng, tầng  
dưới có vụng nước khá rộng  
+ Bản Hậu: nằm trên địa phận xã Tam Lư, huyện Quan Sơn (km 42) trên trục đường đi  
Tam Thanh đến Mường Pao (tỉnh Hủa Phăn, Lào). Trong bản Hậu có vụng Hậu được xem là  
bến của bản. Cảnh quan nơi đây rất đẹp gắn liền với những câu chuyện huyền thoại, nửa thực  
nửa hư rất lý thú.  
+ Bản Ngàm: Bản Ngàm7 thuộc xã Sơn Điện (huyện Quan Sơn), xa cách trung tâm  
huyện lỵ, người dân tộc Thái chiếm đến 98%, nằm bên bờ sông Luồng. Con sông bắt nguồn  
từ nước bạn Lào, qua cửa khẩu Na Mèo rồi đổ vào sông Mã ở địa phận Hồi Xuân huyện Quan  
Hóa. Bản nằm tận cùng biên giới phía Tây nên nó mộc mạc giản dị như bông hoa rừng mọc lẻ  
loi nơi sơn cước. Bản Ngàm có tuổi đời đã hơn 200 năm. Cái tên sơ khai gọi là bản Ta Nhăng.  
Có nhiều nhà dân tộc học cho rằng tên Ta Nhăng xuất hiện cách ngày nay khoảng 700 năm?.  
Bản Ngàm được lựa chọn xây dựng thành bản văn hóa đầu tiên của xã Sơn Điện, huyện  
Quan Sơn. Tại bản Ngàm có rất nhiều điểm sinh thái tiêu biểu: núi Pha Đón, thác bản Nhài.  
Không chỉ là địa phương có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, năm 2009, bản Ngàm được Chủ tịch  
UBND tỉnh công nhận là “khu dân cư hiếu học tiêu biểu cấp tỉnh”, được UBND huyện công  
nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2015.  
+ Bản Yên: từng là một bản lớn gồm 5 bản nhỏ hợp lại. Trước Cách mạng tháng Tám  
năm 1945 bản có tên là Pọng Yên, là bản duy nhất ở mường Mìn lập thành một Poọng8.  
+ Bản Chiềng: có nhiều cảnh đẹp: hát Tác Lét (thác nước); suối Bóng - Kanh Pá Ó  
+ Hang Trùng, bản Sa Ná, xã Na Mèo:nằm ở phía dưới của suối Son. Ngay cửa hang,  
trên cao 50m có một nửa tấm quan tài vắt trên mô đá có cây giữ lại từ bao đời nay.  
+ Động Bo Cúng: thuộc bản Chanh, xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn mang vẻ đẹp hoang  
sơ và kỹ vĩ với những “lâu đài” thạch nhũ và cảnh quan hùng vĩ làm say đắm lòng người…  
Động Bo Cúng được xếp hạng di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 3180/QĐ-UBND ngày  
18/09/2009 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. Động nằm ở độ cao trung bình từ 350 m đến  
600 m so với mực nước biển. Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi đá  
chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với nhiều hang động; nhiều khe suối đan xen tạo nên cảnh  
sắc thơ mộng. Hướng dốc của động từ hai hướng đông, tây tụ vào khu vực trung tâm tại suối  
Xia, có độ dốc cao, nhiều đoạn hình thành vực. Khu vực bằng phẳng ven suối có cao độ  
7 Truyền thuyết kể rằng có một ông đánh cá người bên Lào xuôi bè trên sông Luồng, bị mắc cạn rồi dạt vào một  
vùng ven sông. Ông bỗng thấy nơi đây núi non xanh tốt, ruộng đồng màu mỡ lại bên một dòng sông nước chảy  
êm đềm trong vắt, nên sinh tình muốn ở lại lập nghiệp, và ông đặt nơi đây là Ngàm. Tiếng Thái Ngàm là đẹp. Từ  
đó các tộc người Thái từ Mường Ca Da, từ Lào sang đến đây sinh cơ lập nghiệp tạo nên bản này.  
8 Đơn vị hành chính của người Thái ngày xưa lần lượt là: Bản, Poọng, Mường, Châu, Tỉnh.  
43  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
khoảng 380 m, khu vực triền núi có cao độ từ 400 - 500 m, khu vực núi cao có cao độ đỉnh từ  
600 đến 700 m.  
+ Quần thể Pha Dùa, Pha Hen vốn nằm giữa mường Mìn và mường Xia xưa (ngày nay  
là xã Mường Mìn và xã Sơn Thủy). Núi phía bắc sông Luồng là Pha Hen vì núi cao, đứng  
dưới đường vào Sơn Thủy và bờ sông Luồng nhìn lên phải ngửa mặt mới nhìn thấy đỉnh núi.  
Ngửa mặt tiếng Thái gọi là “hen ná” hoặc “hen khò” (ngửa cổ). Do vậy mà có tên Pha Hen.  
Núi phía nam sông Luồng đối diện với Pha Hen gọi là Pha Dùa (“Dùa” tiếng Thái có nghĩa là  
nhô ra, vươn ra). Dãy núi này vươn ra sông Luồng. Do hai dãy núi đối diện và sát gần nhau  
nên dân gian đã liên tưởng như chiếc cầu bắc qua sông Luồng nối liền 2 bờ từ Pha Hen và Pha  
Dùa. Núi Pha Dùa thơ mộng và linh thiêng, gắn với nhiều huyền thoại lưu truyền trong dân  
gian, trong đó đặc sắc nhất là chuyện Pha Dùa.  
Tóm lại, so với các vùng khác trong cả nước, mật độ di sản văn hóa vật thể tại vùng  
biên giới phía Tây có sự đa dạng, phát triển không đồng đều về loại hình. Hệ thống di tích lịch  
sử của Thanh Hóa phần lớn phân bố dọc các dòng sông mà đậm đặc nhất chính là sông Mã.  
Bởi đây chính là mạch nguồn sự sống của văn hóa người Việt cổ kéo dài từ thời nguyên thủy,  
qua Đông Sơn đến ngày nay. Còn tại vùng biên, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, rừng sâu, núi  
cao, độ dốc lớn nên dân cư thưa thớt. Mặc dù, sông Mã bắt nguồn từ khu vực này nhưng hầu  
như không có di tích lịch sử nào tồn tại ở đoạn sông này. Lịch sử cư trú của các tộc người  
cũng không lâu dài như ở vùng đồng bằng. Hơn nữa, đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây có  
tập quán du canh du cư thường xuyên hơn so với những nơi khác. Bởi vậy, mật độ của di tích  
lịch sử - văn hóa khá ít ỏi so với các vùng đồng bằng, duyên hải. Trong khi đó, do có sự đan  
xen giữa các tộc người nên loại hình nhà cổ còn lại rất nhiều, đặc sắc và phổ biến hơn cả.  
Cộng thêm với sự ưu đãi của thiên nhiên nên hệ thống danh lam thắng cảnh tại khu vực này  
cực kỳ phong phú, đa dạng gắn liền với các huyền thoại sự tích về lập làng, dựng bản của  
đồng bào. Ngoài ra, di sản văn hóa nơi đây còn là sự hội tụ, giao lưu giữa hai luồng văn hóa  
Việt - Lào. Đó là bóng dáng của câu chuyện tình yêu giữa giữa cô gái Việt và chàng trai Lào  
thuở xa xưa lãng mạn và bi ai gắn với núi Đá Trắng và Lá Hoa ở Mường Xia cũ. Là sự tương  
đồng trên những mô tip trang trí nhà ở và trang phục của đồng bào Thái.  
Vùng biên giới phía Tây Thanh Hóa một miền đất hội tụ nhiều lớp người, tộc người và  
chính họ đã tạo ra một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ và đặc sắc. Những giá trị văn hóa trên đã  
góp phần tạo nên diện mạo văn hóa xứ Thanh giàu giá trị lịch sử và mang đặc trưng sắc thái  
tộc người. Đây là nguồn lực đặc biệt phục vụ cho phát triển du lịch địa phương và đất nước.  
3. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể vùng biên giới Thanh Hóa  
Trong bối cảnh, cả nước đang tích cực xây dựng nông thôn mới, văn hóa trở thành động  
lực phát triển. Nhiều yếu tố văn hóa đặc sắc của địa phương được khai thác phục vụ có hiệu  
quả trong việc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nhiều nơi. Nhiều giá trị  
văn hóa tưởng chừng như bị quên lãng và thất truyền đang dần được phục dựng lại. Đặc biệt,  
hệ thống di sản văn hóa vật thể từ trước đến nay luôn là nguồn nguyên liệu tiềm tàng cho  
ngành du lịch phát triển. Nhiều quốc gia, vùng miền nhờ có hệ thống di sản văn hóa vật thể  
đặc sắc mà trở nên phát triển: Ai Cập, Thái Lan, Trung Quốc... Với những tiềm năng về di sản  
44  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
văn hóa vật thể đã nhận diện ở trên, nếu được quy hoạch, đầu tư đúng đắn, vùng biên cương  
sẽ có thêm nhiều cơ hội để thoát nghèo, phát triển kinh tế - xã hội góp phần đẩy nhanh tiến độ  
xây dựng nông thôn mới.  
Trước bối cảnh toàn cầu hóa, đặc biệt là từ khi người Kinh có mặt ngày càng nhiều đã  
thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa, đẩy mạnh xu thế “Kinh hóa” tại đây. Nhiều giá trị văn hóa  
do sự tác động của quá trình đổi mới đã biến đổi theo cả hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực.  
“Là những sản phẩm tinh thần” nên những giá trị văn hóa phi vật thể thường dễ dàng  
cho phép dung nạp thêm những yếu tố ngoài thời đại nó được sinh ra nên dễ bị biến đổi, “tổn  
thương”. Trong khi đó, di sản văn hóa vật thể thường ít khi chấp nhận, dung hòa được với  
những cải biến mang tính thời đại. Nhưng một di sản văn hóa vật thể có giá trị bao giờ cũng  
mang yếu tố phi vật thể đi kèm. Ngôi nhà là yếu tố vật thể nhưng những tập tục và ý nghĩa  
xung quanh ngôi nhà chính là yếu tố phi vật thể. Hai vấn đề này bổ trợ và làm tăng thêm giá  
trị cho di sản. Chính vì vậy, ngôi nhà thay đổi về yếu tố vật chất, các yếu tố kèm theo như yếu  
tố xã hội, phong tục tập quán liên quan đến ngôi nhà cũng đang dần biến đổi. Vẫn là ngôi nhà  
sàn nhưng vật liệu mới đã thay thế cho mái cọ, gỗ, luồng, tre, nứa. Ở bất kỳ một bản làng nào  
hiện nay, rất dễ nhận ra mái cọ truyền thống vẫn tồn tại bên cạnh những vật liệu mới như mái  
ngói, mái pro-xi măng, mái tôn hay nhựa. Khung nhiều căn nhà sàn mới hiện nay vẫn ưu tiên  
sử dụng gỗ, nhưng thay vì các dòng gỗ quý hiếm truyền thống, các loại gỗ tạp, gỗ từ rừng  
trồng có chất lượng kém hơn được thay thế hoặc người dân lựa chọn sử dụng khung cột bê  
tông chịu lực đối với nhà sàn. Nhiều trang thiết bị vệ sinh hiện đại cũng được lắp đặt. Có sự  
biến đổi trên là do quá trình giao lưu, hòa nhập của cộng đồng người Kinh diễn ra mạnh mẽ  
trên địa bàn. Ngoài ra, các hoạt động du lịch tự phát do nhu cầu của du khách muốn thám  
hiểm những vùng đất hoang sơ, mang bản sắc tộc người thiểu số tăng nhanh như hiện nay  
cũng đem tới khá nhiều thay đổi. Sự biến đổi của ngôi nhà truyền thống dường như là xu thế  
tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống hiện đại hiện nay. Tuy nhiên, nhiều bản làng vẫn còn  
giữ được dáng vẻ vốn có của mình như: bản Ngàm, bản Yên, bản Hậu...  
Di tích lịch sử có giá trị nhất của vùng chính là đền Tư Mã Hai Đào và lễ hội Mường  
Xia, sau nhiều năm bị lãng quên, đã được phục dựng lại. Năm 2010, huyện Quan Sơn tổ chức  
lễ hội mường Xia để tri ân Tướng quân Tư Mã Hai Đào, sau đó cứ 5 năm/1 lần lễ hội được tổ  
chức tại di sản thu hút nhiều khách du lịch thập phương và bà con vùng Mường Xia tham dự.  
Là khu vực được thiên nhiên ưu đãi, nên vùng biên giới có một hệ thống danh lam thắng  
cảnh phong phú và đa dạng bao gồm những hệ thống sông suối, hang động độc đáo, hòa cùng  
với những nét kiến trúc cổ của đồng bào các dân tộc nơi đây tạo nên một bức tranh phong cảnh  
hữu tình thu hút nhiều khách du lịch tham quan, khám phá. Hệ thống di sản văn hóa vật thể kết  
hợp với di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số chính là tiềm năng vô tận  
cho phát triển du lịch. Nhiều hình thức du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái dân tộc học đã và  
đang diễn ra tự phát ở các bản làng Thái cổ, bản Mông, bản Mường. Sự tự phát đôi khi còn làm  
biến chất văn hóa truyền thống bởi trình độ dân trí của người dân nơi đây còn thấp.  
Với quyết tâm xây dựng thành công nông thôn mới, đưa vùng biên cương thoát nghèo,  
góp phần đảm bảo vững chắc an ninh quốc phòng biên giới. Du lịch văn hóa trở thành ngành  
45  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển ở nhiều xã vùng biên Thanh Hóa. Nhiều giải  
pháp và mô hình khai thác tiềm năng di sản nhằm phát triển du lịch đã được thực hiện và  
bước đầu hiệu quả. Cửa khẩu quốc tế Na Mèo được đầu tư xây dựng đang trở thành một điểm  
hút khách du lịch.Theo quy hoạch, thị trấn Na Mèo bao gồm toàn bộ bản Na Mèo, bản 83,  
Cửa khẩu quốc tế Na Mèo kéo dài xuống đến km 83 (5km). Với lợi thế từ những hang động  
và các cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ đã tạo cho vùng biên giới phía Tây những thế mạnh  
riêng, và đang dần hình thành ở đây một tuyến du lịch bắt đầu từ Quốc lộ 217 cho đến Cửa  
khẩu Na Mèo để kết nối các cảnh đẹp như: thác bản Xày, thác Ma Hao, núi Pù Mằn, cầu Pha  
Lò, bản Khạn, động Nang Non (pha Su Lú), thác bản Nhài, Pha Dùa, đền thờ Tư Mã Hai Đào,  
động Bo Cúng. Phát huy được lợi thế này vùng biên sẽ là một điểm đến hấp dẫn.  
Với hệ thống di sản văn hóa vật thể phong phú mang đậm bản sắc văn hóa tộc người,  
vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa đang cố gắng tận dụng những ưu thế vốn có nhằm  
phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân, đảm bảo an ninh và  
quốc phòng. Đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Báo cáo tổng kết đề tài cấp tỉnh “Xây dựng mô hình làng, bản văn hóa gắn với đảm  
bảo vững chắc quốc phòng - an ninh ở các huyện vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa”.  
[2]. Charles Robequain, "Le Thanh Hoa" ("Tỉnh Thanh Hóa"), Nxb G.VAN, 1929.  
[3]. Nghị định về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa XHCN Việt Nam  
(Số: 34/2014/NĐ-CP).  
[4]. Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Quan Sơn (2016), Địa chí  
huyện Quan Sơn, Nxb Thanh Hóa.  
[5]. Huyện ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân huyện Lang Chánh (2017), Địa  
chí huyện Lang Chánh, Nxb Thanh Hóa.  
dan-toc-822.html.  
TANGIBLE HERITAGES IN THE WESTERN BORDER OF THANH HOA  
Bui Thi Hau, M.A  
Abstract: From past to present, the western border of Thanh Hoa province has been the  
home of ethnic minorities: Thai, Muong, Mong, Dao, and Kho mu. In the process of living, the  
people here have created valuable tangible and intangible cultural heritage values imbued  
with the national imprints. The tangible cultural heritages of the region mainly are historical  
46  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
sites and landscapes - an important resource for tourism development. However, due to many  
reasons, the exploitation and promotion of tangible cultural heritage values of the region are  
still limited to meet the requirements of local economic development nowadays.  
Keywords: Western border of Thanh Hoa, tangible heritages, preserve and promote  
values.  
Người phản biện: TS. Nguyễn Thị Thục (ngày nhận bài 25/3/2019; ngày gửi phản biện  
27/3/2019; ngày duyệt đăng 30/9/2019).  
47  
pdf 13 trang yennguyen 19880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Di sản vật thể vùng biên giới phía Tây tỉnh Thanh Hóa", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdi_san_vat_the_vung_bien_gioi_phia_tay_tinh_thanh_hoa.pdf