Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo

TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT  
VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI VIẾT THEO KHUYNH HƢỚNG  
HIỆN THỰC HUYỀN ẢO  
Trương Thị Kim Anh1  
TÓM TẮT  
Bài viết tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến nghệ thuật xây dựng nhân vật  
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại dưới ảnh hưởng của khuynh hướng hiện thực  
huyền ảo. Các kiểu nhân vật được phân tích, diễn giải trong bài viết gồm: nhân vật  
nghịch dị và biến dạng; nhân vật tâm linh và vô thức; nhân vật huyền ảo và ma quái.  
Các kiểu nhân vật này đã tạo nên một bước ngoặt mới về việc xây dựng nhân vật  
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, góp phần vào đổi mới văn học Việt Nam  
đương đại.  
Từ khóa: Tiểu thuyết, hiện thực, huyền ảo, đương đại, nhân vật, khuynh hướng  
1. Mở đầu  
kiểu nhân vật khác nhau. Khuynh  
hướng hiện thực huyền ảo có tác động  
lớn đến việc mở rộng phạm vi khám  
phá các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết  
đương đại. Trong bài viết này chúng tôi  
hướng đến phân tích ba kiểu nhân vật  
biểu hiện cho lối viết kể trên, đó là:  
nhân vật nghịch dị và biến dạng; nhân  
vật trong thế giới tâm linh, vô thức;  
nhân vật hư ảo, ma quái.  
2. Các kiểu nhân vật trong tiểu  
thuyết Việt Nam đƣơng đại viết theo  
khuynh hƣớng hiện thực huyền ảo  
2.1. Kiểu nhân vật nghịch dị và  
biến dạng  
Nghịch dị là “một kiểu tổ chức hình  
tượng nghệ thuật (hình tượng, phong  
cách, thể loại) dựa vào huyễn tưởng  
tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và  
tương phản một cách kỳ quặc cái huyễn  
hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu,  
cái bi với cái hài, cái giống như thực  
với cái biếm họa” [1]. Nhân vật nghịch  
dị là kiểu nhân vật có hình dạng, tâm  
hồn, tính cách bị biến thể khác thường  
so với người bình thường. Trong văn  
học thế giới cũng có nhiều tác phẩm  
xây dựng kiểu nhân vật nghịch dị như  
Nhân vật là một trong những yếu tố  
quan trọng không thể thiếu của nghệ  
thuật văn xuôi tự sự, đặc biệt là trong  
tiểu thuyết. Tiểu thuyết Việt Nam trước  
1986, do nhu cầu hướng về đại chúng,  
nên nhân vật chủ yếu là những con  
người quần chúng, với đặc điểm nổi bật  
là chủ nghĩa yêu nước, sự thống nhất  
cái riêng và cái chung, số phận cá nhân  
và số phận cộng đồng. Nhân vật được  
tập trung thể hiện ở bản chất và những  
đặc điểm xã hội, giai cấp, là đại diện  
cho một tầng lớp xã hội. Tiểu thuyết sau  
1986, với những đổi mới trong quan  
niệm về con người, đã mở ra những  
hướng khám phá, thể hiện con người ở  
nhiều bình diện, nhiều mối quan hệ  
phức tạp, từ đó đã mở ra sự đa dạng hóa  
nhân vật. Nhân vật được khắc họa như  
những cá nhân, cá thể, với tính cách và  
số phận riêng, đồng thời lại chứa đựng  
những giá trị mang tính phổ quát. Để  
sáng tạo một thế giới nhân vật đa dạng  
về tính cách, hình hài, nhiều sắc thái  
biểu cảm, nhiều kiểu nhân vật, các nhà  
tiểu thuyết đương đại đã không ngừng  
mở rộng việc xây dựng, khám phá nhiều  
1Trường Đại học Đồng Nai  
72  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
tiểu thuyết Garganchuya và  
ISSN 2354-1482  
giờ suy chuyển, là vĩnh cửu, chỉ có đời  
người là thoáng chốc, là tạm bợ, con  
người ta chưa kịp lớn đã vội già, vì vậy  
hạnh phúc con người không phải ở  
những khác vọng mà ở sự nhận thức”  
[1]. Tác phẩm mang đến người đọc  
một cảm thức về thời gian và thân phận  
con người.  
Pantagruyen của Rabelaise, Nhà thờ  
Đức Bà Paris của Victor Hugo, Vụ án,  
Lâu đài, Hóa thân của Franz Kafka,  
Trăm năm cô đơn của G. G. Marquez,  
Báu vật của đời của Mạc Ngôn… Đến  
Việt Nam, nhân vật nghịch dị có mặt  
trong tiểu thuyết đương đại của các tác  
giả như: Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn  
Danh Lam, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình  
Phương, Tạ Duy Anh, Phạm Thị  
Hoài… Các nhà tiểu thuyết đương đại  
đã kiến tạo nên một thế giới nghệ thuật  
mà ở đó hiện thực được tiếp cận thông  
qua lăng kính nghịch dị.  
Nhận vật nghịch dị có nhiều trong  
các sáng tác của Nguyễn Bình Phương  
và xuất hiện với những hình dạng, trạng  
thái, tâm lý khác nhau nhưng đều phản  
ánh một phần thực tại khiếm khuyết  
trong bản thể con người. Tính trong  
Thoạt kỳ thủy là một dạng nghịch dị ở  
trạng thái điên loạn, lúc nào Tính cũng  
nghĩ đến hành động giết người là “cắn  
cổ”, còn với con vật là “chọc tiết”. Tính  
luôn mang cảm giác của kẻ khát máu  
thích giết chóc, thích cảm giác chọc tiết  
và không ý thức được hành động của  
mình là man rợn. Ngay khi còn bé Tính  
có những biểu hiện khác người: “Tính  
thấy lửa, thích, nhảy nhót cuống cuồng”  
[3, tr. 19]; “Tính dành thời gian giết  
công cống… Công cống chết nát bét.  
Tính cười mỉm, mặt rực lên” [3, tr. 21].  
Đến khi lớn lên Tính ảm ảnh bởi nghề  
chọc tiết lợn của ông Điện, từ đó luôn  
có nhu cầu được gắn bó với con dao,  
với cảnh chọc tiết lợn và thường mơ  
những giấc mơ hãi hùng. Tính thích  
chơi với người điên, dường như đó mới  
là thế giới sống của anh. Khi có cơ hội  
là Tính chạy ra cột số, nơi tập trung  
những người điên, Tính nhập vào cánh  
điên và “véo tai mấy người điên, thi  
thoảng lại hú lên (…) nhìn sát vào mặt  
từng người, cười nói hỉ hả” [3, tr. 41].  
Tính mang trạng thái điên loạn nhưng  
cái điên loạn của anh vẫn còn nằm trong  
Khi đặt tên truyện Những đứa trẻ  
chết già, Nguyễn Bình Phương đã đem  
đến chất nghịch dị ngay từ tên truyện.  
Những đứa trẻ bị già trước tuổi ngay  
khi mới sinh ra, đó là những đứa con  
của bà giáo. Bà sinh đứa trẻ đầu tiên  
“nó là trai. Người ta phát hiện con bà  
giáo có râu. Không những thế, ba bốn  
ngày sau tóc nó còn bạc trắng” [2, tr.  
51], đứa trẻ thứ hai “nó ở độ già của  
người ba nhăm, bốn mươi gì đó” [2, tr.  
54], đứa trẻ thứ ba “bà sinh con gái.  
Nhưng đứa trẻ vẫn mang bộ mặt già  
trước tuổi. Lọt lòng được hai ngày, con  
bé có cơ thể như gái mười tám” [2, tr.  
55], tất cả đều chết và biến mất ngay  
sau đó trong một thời gian rất ngắn.  
Những đứa con bà giáo ra đời mang  
hình dạng khác thường, dị biệt làm cho  
yếu tố truyện trở nên huyền ảo, huyễn  
hoặc nhưng nó cũng là điểm quy tụ về  
mặt tư tưởng tác phẩm. Nó trở thành ý  
hướng xuyên suốt tác phẩm xoay  
quanh hàng loạt những nghịch lý, kết  
tụ trong chiều sâu huyền thoại và mang  
tính quan niệm: “thời gian không bao  
73  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
ý thức của người biết đi đập đá kiếm  
tiền, biết lấy vợ. Chất nghịch dị trong  
Tính là một kẻ điên loạn nửa tỉnh nửa u  
mê không kiểm soát được hành động.  
Còn lão Biền trong Những đứa trẻ chết  
già lại là kẻ “tỉnh”, tỉnh trong tham  
vọng, mưu toan, tính toán vì lợi ích cá  
nhân. Tác giả Huỳnh Thu Hậu nhận  
định: “Kiểu nhân vật nghịch dị trong  
tiểu thuyết Việt Nam chủ yếu để nói về  
sự tha hóa của con người trước sự lên  
ngôi của vật chất” [1]. Trước khi lão  
Biền chết, cơ thể lão bị biến dạng,  
người lão mọc toàn “lông”, “lão kinh  
hoàng chạy trốn mọi người, chạy trốn  
cả chính mình. Lông mọc khắp người  
lão. Rậm rì và đen mượt” [2, tr. 99].  
Một sự trừng phạt cho kẻ tham lam, lão  
đã ăn cắp một gói tiền của người chết  
để lại cho con cháu, lão luôn sống trong  
những giấc mơ bị ám ảnh bởi hình ảnh  
người đàn bà về đòi tiền với câu nói:  
“Cầm lấy đi, cầm lấy mà trả lại cho tôi”  
[2, tr. 98]. Lòng tham đã biến lão Biền  
từ người lương thiện trở thành kẻ ăn  
cắp, lại ăn cắp tiền của người chết, đây  
chính là sự tha hóa về mặt bản chất bên  
trong của con người. Sự biến dạng về  
nhân cách dẫn đến sự biến dạng về mặt  
hình dạng trước khi chết ở lão Biền là  
lời cảnh tỉnh của tác giả trước thực  
trạng tha hóa về mặt nhân cách ngày  
càng nhiều trong xã hội kim tiền hiện  
nay. Đồng tiền đã làm che mờ đi những  
giá trị mang tính nhân văn cao đẹp.  
Nhân vật Chung trong Người đi vắng lại  
là kiểu nghịch dị bị biến dạng về mặt  
tâm lý. Chung luôn bị ám ảnh bởi tiếng  
rao thiến lợn: “Ai thiến lợn đê… ê…  
ê… ê”. Trong suy nghĩ của Chung tất cả  
những đứa trẻ đều bị người thiến lợn  
thiến, anh luôn tưởng tượng: “Hồi ấy tôi  
có tám tuổi thôi… nó túm lấy, không  
dùng dây thong lọng… nó túm lấy chân  
vạch quần đùi ra, xoẹt… giời ơi! Chung  
nấc lên điên loạn, hai tay trượt xuống  
ôm lấy hạ bộ của mình, mặt xanh rớt  
méo mó trong cơn đau tưởng tượng” [4,  
tr. 98]. Thái độ của Chung ngày càng  
trở nên kỳ lạ đối với mọi người trong cơ  
quan, Chung hay nhận thư và đó là  
những lá thư bí ẩn không lời giải thích.  
Chung có những hành động rất lạ hay  
“ôm mặt đầu giật giật như đứa trẻ hờn  
dỗi, hai chân giẫm đạp vào không khí”  
[4, tr. 81]. Mặt anh ta ngày càng hốc  
hác duy chỉ có đôi mắt là sáng rực đến  
mức làm cả cơ quan nghi ngại. Lúc nào  
anh ta cũng lẩm bẩm với những dòng  
đối thoại: “Tôi khổ lắm… lúc nào nó  
cũng đòi thiến tôi… Chả biết gì cả…  
Đêm qua cô ấy lại đến tìm… sắp mùa  
đông rồi mà vẫn quanh quẩn ở bờ  
sông… giời ơi” [4, tr. 256].  
Thiên sứ của Phạm Thị Hoài xây  
dựng hình ảnh cô bé Hoài với quyết  
định ngừng phát triển, không muốn trở  
thành “đàn bà”, một quyết định biểu  
hiện sự phản kháng đầy phẫn nộ, một  
cuộc chiến âm thầm nhưng khốc liệt,  
đau đớn và tuyệt vọng trong nỗi cô đơn,  
muốn chống lại xã hội tẻ nhạt, xơ cứng  
của nhân loại. Sự phản kháng này bắt  
đầu “năm tôi mười bốn, một mét hai  
mươi nhăm, ba mươi kilô, đuôi sam” [5,  
tr. 28], mười lăm năm sau “tôi vẫn  
mười bốn, một mét hai mươi nhăm, ba  
mươi kilô, đuôi sam” [5, tr. 28]. Trong  
khí đó chị Hằng “hai mươi chín tuổi,  
trước tôi chưa đầy một phút” đã đẹp  
như nàng tiên cá. Hoài kiêu hãnh nói:  
“Tôi từ chối không đứng vào bất kỳ thế  
74  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
hệ nào. Tôi từ chối bất kỳ bộ đồng phục  
quá chật hoặc quá rộng nào. Hãy để tôi  
trần truồng với cơ thể còm nhom sớm  
đình tăng trưởng của tôi” [5, tr. 37]. Tác  
giả Nguyễn Thị Bình nhận định: “Khác  
với trò chơi của Oskar (Cái trống thiếc -  
Gunter Grass) với sự chủ động tính toán  
trước, trò chơi của Hoài là một phản  
ứng nổi loạn, tự vệ, chấp nhận cô đơn  
để giữ cái bản nguyên” [6, tr. 156].  
Ngược lại với Hoài, nhân vật Quang lùn  
không nổi loạn, không phản kháng lại  
sự tăng trưởng của cơ thể nhưng việc  
đình tăng trưởng trong anh là do “thiếu  
hoóc môn”, một chứng cứ khoa học  
khiến anh mãi phải đèo bòng một chữ  
“lùn” đi bên cạnh cuộc đời mình. Khi  
anh đến “mười lăm tuổi, mười bảy, rồi  
hai mươi, giờ đây ba mươi mốt tuổi,  
anh ta vẫn chỉ nhỉnh hơn cậu bé lên  
mười… Cả gương mặt cũng không chịu  
già theo tuổi, nhẵn, tròn, phinh phính,  
nhạo báng thời gian” [5, tr. 64]. Một  
kiểu nghịch dị mang yếu tố từ nội tại  
không xuất phát từ sự tác động của xã  
hội. Nhân vật Bé Hon, một thiên sứ ban  
phát tình yêu thương cho con người lại  
không chịu cất tiếng khóc khi chào đời  
mà “chỉ mỉm cười”, một cách lọt lòng  
khác thường. Thay vào đó mười ba nữ  
hộ sinh lại bật khóc ngay khi nhìn thấy  
Bé Hon cười, nụ cười của Bé Hon  
“không phải là nụ cười hài nhi. Bé Hon  
chưa bao giờ là một hài nhi” [5, tr. 20].  
Sự khác thường của cô bé “ăn ít, ngủ ít,  
chỉ cười. Tóc mượt, mắt nhung như thiếu  
nữ. Đôi má lúc nào cũng ba tuổi. Cái  
miệng lúc nào cũng mỉm cười thân thiện  
và bí ẩn với muôn vật” [5, tr. 20]. Thiên  
sứ Hon là một kiểu nghịch dị trong trò  
chơi ban phát tình yêu trong lành, thánh  
thiện đến với con người nhưng đáng tiếc  
thay trò chơi sớm phải kết thúc trước  
những cỗ máy cũ kĩ, rò rỉ, chỉ biết đến  
rủa, gắt của người lớn. Tập trung miêu tả  
một lớp nhân vật với nhiều kiểu nghịch  
dị khác nhau trong cùng tác phẩm, Phạm  
Thị Hoài đem đến một cảm quan thực tại  
thiên về mảnh vỡ hơn là tính toàn vẹn  
trong một tác phẩm so với tiểu thuyết  
truyền thống.  
Quềnh trong Mảnh đất lắm người  
nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường là  
một kiểu biến dạng không chỉ về hình  
hài, tính cách mà ngay cả tên gọi cũng  
bị biến dạng theo. Ngày trước khi còn là  
một thiếu niên, lão Quềnh tên là Quỳnh,  
một cái tên đẹp lại con một nhà khá giả,  
nhưng từ khi làm tình với con ma nơi  
gốc si trên núi Ông Bụt, tên Quỳnh bị  
biến dạng theo thần thức “cứ ngơ ngơ  
ngẩn ngẩn, lúc nhớ lúc quên của anh”.  
Từ đó cuộc đời lão Quềnh cũng biến  
dạng theo, không vợ con sống cô độc  
một túp lều rách nát, một cuộc đời khốn  
khổ đến khi chết cũng khốn khổ. Trong  
tiểu thuyết Giữa vòng vây trần gian của  
Nguyễn Danh Lam, hầu hết các nhân  
vật đều không có tên gọi cụ thể, nhân  
vật duy nhất có tên thì đó là một cái tên  
bị biến dạng: Thữc. Tên là Thức bị dấu  
ngã đè lên, khiến nó luôn rơi vào mê  
cung, rùng rợn, quái dị, không thoát ra  
được. Thữc lạc đến một ngôi làng và  
gặp những con người trong ngôi làng đó  
không biết là thế giới thực hay ảo,  
không biết mình còn sống hay đã chết,  
một vòng quây trần gian của kiếp nhân  
sinh. Xứ sở Thữc bước vào chập chờn  
hư thực, âm dương lẫn lộn. Nhân gian  
là cõi vắng nhuốm màu phi lý tàn bạo.  
Một vài con người không tên tuổi xuất  
75  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
hiện chập chờn trong cuộc trốn chạy ấy  
(người lái xe, ông già đen, ông già  
trắng, người phụ nữ) như kẻ đưa đường  
không tin cậy, làm cho Thữc càng cô  
độc hoang mang. Trước kiểu biến dạng  
của Quềnh và Thữc, nhà văn muốn  
phản ánh một thực tại khác trong con  
người đương đại. Đó là con người đang  
dần bị méo mó không chỉ tính cách, bản  
chất mà méo mó cả tên gọi trước sự tác  
động của nhiều thế lực vô hình trong  
cuộc sống. Sự biến dạng tên gọi ở ba  
chàng trai tên Công thành Cốc; Bắc  
thành Bóp; Phú thành Phũ trong Cõi  
người rung chuông tận thế của Hồ Anh  
Thái cũng là biểu hiện méo mó về tính  
cách ở một lớp thế hệ trẻ thích bạo lực,  
thích đua xe hơn những giá trị nhân văn  
khác. Kết cục cho tính háo thắng đó:  
“Cốc chết vì bị cảm hàn ở dưới biển,  
Bóp treo cổ tự tử không rõ lý do, Phũ bị  
ngã xe máy khi phóng hết tốc lực”. Tất  
cả đều trở về với cát bụi, chỉ có sự nuối  
tiếc cho một thế hệ trẻ còn “neo mãi”  
trong lòng bạn đọc.  
Việc kiến tạo nhân vật nghịch dị  
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại  
đã khắc họa được sự tha hóa của con  
người đương thời, những bi kịch mang  
tính chất thời đại. Sự đảo lộn của mọi  
giá trị truyền thống, con người đang  
chênh vênh trong trò chơi cùng cái hỗn  
loạn. Con người cô đơn, mặc cảm, khao  
khát được giải phóng toàn bộ cảm xúc  
bản năng, nổi loạn chống lại mọi cái giả  
dối, thấp hèn, nhàm chán trong xã hội.  
2.2. Kiểu nhân vật tâm linh và vô  
thức  
trong xây dựng nhân vật nhằm khám  
phá những bí ẩn, hoang đường, phi lý,  
khó lý giả trong bản thể con người. Thế  
giới tâm linh trong tiểu thuyết Việt Nam  
giai đoạn 1945 - 1975 ít được đề cập  
hoặc bị cho là duy tâm hay mê tín dị  
đoan thì nay đang được nhìn nhận một  
cách nghiêm túc. Con người hiện đại đã  
phải thừa nhận nó như một phần không  
thể tách rời của cuộc sống. Thế giới tâm  
linh được biểu hiện trước hết qua niềm  
tin vào sự tồn tại thế giới siêu nhiên  
ngoài con người. Thế giới ấy thường  
mang vẻ linh thiêng, huyền bí bởi nó  
gắn liền với tiềm thức, vô thức của con  
người. Việc kiến tạo một thế giới nghệ  
thuật hiện thực huyền ảo qua cách xây  
dựng nhân vật hướng đến chiều kích  
tâm linh cũng là một phương diện đổi  
mới nhân vật trong tiểu thuyết Việt  
Nam đương đại. Trong ý thức con  
người, tâm linh là một dạng thức của ý  
thức - ý thức hướng về cái thiêng liêng.  
Sự linh thiêng này được biểu hiện qua  
những hành động khác thường từ các  
nhân vật, đặc biệt là những nhân vật có  
tính “thần thánh” đại diện cho thế lực  
có thể trừ ma, bắt quỷ của một làng nào  
đó. Cô Thống Biệu trong Mảnh đất lắm  
người nhiều ma của Nguyễn Khắc  
Trường là nhân vật đại diện cho thế giới  
tâm linh, người có thể trừ ma, bắt quỷ  
cho dân làng Giếng Chùa. Biệu là tên  
cúng cơm, còn Cô Thống là một từ  
chung để chỉ những người làm nghề  
cúng bái, trừ yêu ma. Cô nhìn thấy được  
một Giếng Chùa lắm ma, có cả ma chết  
lẫn ma sống, một ngôi làng lắm thị phi,  
lắm câu chuyện ly kỳ, ma quái cũng từ  
đây. Nhân vật Thống Biệu đại diện cho  
cõi âm của dân Giếng Chùa, người có  
Để thể hiện cảm quan mới về hiện  
thực, các nhà văn đã khai thác những  
yếu tố tâm linh như một chiều kích mới  
76  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
thể làm cho dân sợ nhất và cũng tin  
nhất. Lời Cô Thống Biệu phán ra là lời  
của thánh, của thần nên người dân nhất  
mực nghe theo, đây là biểu hiện niềm  
tin vào sức mạnh linh thiêng của thần  
thánh, một sức mạnh vô hình nhưng lại  
có tác động lớn đến mọi tầng lớp, lứa  
tuổi trong làng.  
nhiên trở nên khác thường. Sau cơn sốt  
mê man Chấn bỗng nhiên trở thành  
Thánh Chấn đoán được mọi việc gia sự  
cho tất cả mọi người, làm cho làng Bái  
Hạ trở nên xôn xao và tin đồn về lời  
tiên tri của Thánh Chấn loang đi khắp  
mấy huyện. Người dân kéo đến đặt lễ,  
chữa bệnh ngày một đông, nhưng đến  
một ngày kia “nó chỉ là cái xác tuổi hai  
mươi, trần tục và trống rỗng”. Tất cả trở  
nên hư vô, giữa thần thánh và phàm tục  
chỉ là một ranh giới rất mong manh, vạn  
vật có thể biến đổi và con người cũng  
có thể biến đổi, không có gì là thực,  
cũng không có gì là ảo. Nếu tin vào một  
thế giới quyền năng, siêu nhiên nào đó  
đang tồn tại quanh ta, có thể ngay chính  
trong từng con người, những người có  
thể đoán trước được vận mệnh, nắm  
được vận mệnh của người khác nhưng  
không nắm được vận mệnh của chính  
mình. Nhân vật chứa đựng chiều kích  
tâm linh đáng quan tâm nhất là Mai  
Trừng trong Cõi người rung chuông tận  
thế của Hồ Anh Thái. Đây là một tác  
phẩm mang tính luận đề về vấn đề thiện -  
ác trong xã hội nhưng lại mang dấu ấn  
tâm linh khá rõ nét qua nhân vật có một  
sức mạnh siêu nhiên bí ẩn ngay từ khi  
cô mới sinh ra. Mai Trừng là một cái  
tên có nhiều ý nghĩa và chứa đựng  
nhiều nỗi hận thù khi cha mẹ đặt cho  
trong lúc sinh cô ở chiến trường. Ngay  
từ nhỏ Mai Trừng đã nhận ra một sức  
mạnh bí ẩn nào đó đang hiện hữu trong  
cô, những ai muốn hãm hại cô ngay lập  
tức họ sẽ bị trừng trị bằng chính hành  
động họ định làm tổn hại cô. Mai Trừng  
mang lời nguyền, sự thù hận của thế hệ  
trước để lại với một sứ mệnh là đi trừng  
trị cái ác, cô có một thế lực siêu nhiên  
Nông thôn, nơi nuôi dưỡng những  
giá trị tâm linh, nơi có những ông  
thánh, bà thánh làm điểm tựa về mặt  
tâm linh cho người dân nghèo khốn  
khó. Khoa học không thể giải thích  
được những hiện tượng kỳ lạ này, vì thế  
chấp nhận và khám phá cái huyễn hoặc,  
cái kỳ lạ này như một phần trong cuộc  
sống cũng là minh chứng cho nét văn  
hóa làng quê Việt. Nhân vật hộ Hiếu  
trong Mẫu thượng ngàn của Nguyễn  
Xuân Khánh sống trong ngôi chùa đổ  
nát, chỉ còn lại một pho tượng duy nhất  
lại có những thế lực siêu nhiên lạ  
thường. Sau khi bị sét đánh trong một  
đêm mưa gió lão hộ Hiếu trở thành  
“thầy phù thủy huyền thoại của làng Cổ  
Đình”. Người dân Cổ Đình sợ và tin  
ông, người ta cho rằng nhìn vào ông  
toát ra một cái gì đó rất ma quái, cộng  
thêm vào phương thuốc chữa bệnh  
không qua trường lớp nào nhưng mọi  
người đều khỏi bệnh lại càng ma quái  
hơn. Phương thuốc của ông là đốt  
những lá bùa sau khi được ông cúng tế,  
người bệnh uống vào đều khỏi bệnh.  
Mẫu thượng ngàn là một thế giới huyền  
thoại, tạo ra những câu chuyện huyền  
thoại, với những con người huyền thoại  
và trường hợp thầy hộ Hiếu cũng là một  
huyền thoại. Giống như thầy hộ Hiếu,  
thánh Chấn trong Thần thánh và bươm  
bướm của Đỗ Minh Tuấn cũng bỗng  
77  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
nhưng chính cô cũng là “nạn nhân” của  
thế lực đó. Hồ Anh Thái sử dụng lời  
nguyền để giải quyết vấn đề thiện - ác  
trong xã hội đương đại như một hồi  
chuông cảnh báo của nhà văn trước  
thực trạng con người bị bao vây, tha  
hóa từ nhiều phía, đồng thời như một  
liều thuốc đặc trị cho cái ác đang ngự trị  
trong con người.  
tình giữa anh và Phương trước thềm  
chiến tranh. Chuyến tàu định mệnh  
trong chiến tranh đã giết chết tình yêu  
của hai người, Phương đã bị hãm hiếp  
trên chuyến tàu đó, từ lúc đó anh có  
cuộc chiến của anh, Phương có cuộc đời  
riêng của cô. Điều còn lại trong anh bây  
giờ khi nghĩ về đoàn tàu định mệnh  
năm ấy chỉ “có nỗi buồn, mênh mang  
nỗi buồn - nỗi buồn chiến tranh” [7, tr.  
257]. Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng  
của Chu Lai cũng sống trong ám ảnh  
của chiến tranh, tình yêu trong chiến  
tranh với người con gái tên Ba Sương  
nay là Tư Lan. Hai người lính trên hai  
chuyến tàu tìm kiếm một quá khứ, một  
dĩ vãng, nhưng tựu trung chỉ là “trò đùa  
của quỷ”, không ai tìm thấy được hạnh  
phúc, chỉ có nỗi đau của chiến tranh, sự  
đổ vỡ trong tình yêu là dư âm còn mãi.  
Sau cái chết của chồng, An Mi  
trong Và khi tro bụi của Đoàn Minh  
Phượng chọn cuộc sống trên những  
chuyến tàu, lang thang khắp châu Âu để  
cố quên đi quá khứ đau buồn, cô mang  
tâm trạng của một người chạy trốn thực  
tại. Cô rơi vào cảm giác mất dần những  
đường viền ngăn chia và khoảng không,  
mất dần nỗi cô đơn, nỗi buồn và cảm  
xúc. An Mi luôn nghĩ đến cái chết, cô  
chủ động tìm hiểu về cái chết của người  
Tây Tạng, luôn đặc câu hỏi sau cái chết  
chuyến tàu của cô sẽ về thiên đường  
hay địa ngục. Phải chăng đây là tâm  
trạng của một người xa xứ, nỗi cô đơn,  
sự tuyệt vọng đã đẩy một người trước  
khi chết muốn ghi lại hình ảnh của  
mình, để định nghĩa chính xác mình là  
ai trước khi từ giã cuộc đời nhưng  
chẳng có gì để ghi lại ngoài hai điểm:  
“Tôi một đứa trẻ mồ côi… Tôi đến từ  
Một kiểu nhân vật khác trong thế  
giới huyền ảo đó là lớp nhân vật đi giữa  
tiềm thức và vô thức. Lớp nhân vật này  
không thiên về vai trò thần thánh, họ là  
những con người đời thường nhưng lại  
có những chuyến tàu vô định, những  
giấc mơ hư ảo, những chấn thương về  
mặt tâm lý. Kiên trong Nỗi buồn chiến  
tranh của Bảo Ninh là một kiểu nhân  
vật chấn thương về mặt tâm lý của thời  
hậu chiến. Cuộc sống của Kiên từ ngày  
trở về sau chiến tranh là chuỗi ngày với  
những ký ức đau buồn, với Kiên tương  
lai là một cái gì đó xa mờ và tăm tối,  
cuộc sống hiện tại của Kiên bây giờ chỉ  
còn lại những hồi ức đau thương của  
chiến tranh. Anh luôn nghĩ rằng: “Chút  
lòng tin và lòng ham sống còn lại trong  
tôi không phải do những ảo tưởng mà là  
nhờ sức mạnh của những hồi tưởng” [7,  
tr. 59]. Những đêm mộng mị hoảng loạn  
giữa tranh tối tranh sáng, giữa quá khứ  
và hiện tại cứ ùa về trong Kiên, nỗi  
khủng khiếp bởi những âm thanh của  
tiếng súng, tiếng máy bay, pháo đạn  
trong chiến tranh cứ bám riết lấy anh,  
“có đêm anh giật mình thức dậy nghe  
tiếng quạt trần hóa thành tiếng rú rít rợn  
gáy của trực thăng vũ trang” [7, tr. 59].  
Không chỉ ám ảnh bởi cảnh chém giết,  
chết chóc, bởi những âm thanh rùng rợn  
nơi chiến trận, Kiên còn bị ám ảnh mối  
78  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
một đất nước có chiến tranh”. Trong bài  
viết “Con người tự thú trong tiểu thuyết  
Và khi tro bụi của Đoàn Minh Phượng”,  
tác giả Dương Thị Thùy Nhung nhận  
định: “Toàn bộ câu chuyện luôn ẩn hiện  
trong một màn sương mờ ảo, hoang  
mang, đôi lúc khó nắm bắt. Một thân  
phận tha hương, phải chịu đựng những  
xung đột về xã hội, văn hóa, phân vân  
giữa quá khứ và hiện tại, hiện tại và  
tương lai” [8]. Kiểu nhân vật này cũng  
dễ bắt gặp nhiều trong các tiểu thuyết  
của Thuận như Phượng trong Made in  
Vietnam, Tôi trong Chinatown, Liên  
trong Paris 11 tháng 8. Họ là những  
phụ nữ xa xứ, mang nỗi buồn hiện tại cả  
nỗi buồn trong quá khứ. Trong  
Chinatown, Tôi là nhân vật chính, là  
người phụ nữ trên tàu điện ngầm trong  
hai tiếng đồng hồ miên man trong suy  
nghĩ hồi tưởng về chuyện tình trong quá  
khứ, về hiện tại, về tương lai. Trong hồi  
tưởng của Tôi luôn nhắc đến Thụy,  
người chồng cũ với mối tình đầy trắc  
trở của hai người. Nhưng Thụy là nỗi  
ám ảnh hơn là một con người thực, tồn  
tại thực trong lúc này với nhân vật Tôi.  
Đối với người đọc Thụy vẫn là một ẩn  
số. Thụy là người như thế nào, bây giờ  
ra sao… không ai trả lời được. Còn Tôi  
vẫn cứ trôi theo dòng hồi tưởng của  
mình trên chuyến tàu vô định trong sự  
hoang vắng và bơ vơ. Có thể nói nhân  
vật của Thuận thường được miêu tả  
trong trạng thái tồn tại bấp bênh, chông  
chênh giữa miền thực - ảo lẫn lộn với  
những mảng hồi ức, những tưởng tượng  
về quá khứ và hiện tại cứ đan xen.  
hiếm thấy. Mỗi cá nhân đều có những  
khuyết điểm, nỗi buồn, nỗi ám ảnh  
riêng trong đời sống thực tại. Đối với  
những con người xa xứ thì nỗi đau của  
quá khứ, nỗi mặc cảm thực tại luôn vây  
kín họ mọi nơi, mọi lúc ngay cả trong  
những giấc mơ. Việc đi tìm hiểu kiểu  
nhân vật trong thế giới tâm linh và vô  
thức như một bước khai thông cái thế  
giới bí ẩn ấy để thấy được bản chất thật  
bên trong một con người.  
2.3. Kiểu nhân vật huyền ảo và  
ma quái  
Trong thế giới hiện thực huyền ảo  
kiểu nhân vật hư ảo, ma quái cũng là  
kiểu nhân vật đặc tả khuynh hướng này,  
nó xuất hiện nhiều trong các tiểu thuyết  
Việt Nam đương đại. Kiểu nhân vật này  
cũng đã xuất hiện trong truyện truyền  
kỳ, trong dòng văn học kỳ ảo hiện đại  
giai đoạn 1930 - 1945. Đến thời kỳ văn  
học đương đại, đặc biệt là trong tiểu  
thuyết kiểu nhân vật này lại một lần nữa  
làm điểm tựa cho dòng tiểu thuyết hiện  
thực huyền ảo. Theo tác giả Bùi Thanh  
Truyền, có hai nguyên nhân chính để  
xuất hiện kiểu nhân vật ma quái, đó là:  
“Quan niệm vạn vật hữu linh thuần  
phác của dân gian và một quan niệm  
khá đặc trưng và rất phổ biến ở đa số  
các nước phương Đông tiền nông  
nghiệp - quan niệm phi nhị nguyên về  
thế giới” [9, tr. 75]. Ngoài những yếu tố  
mang tính tâm linh bản địa, thêm vào  
đó là sự tác động từ các luồng tư tưởng  
văn học nước ngoài, nhất là kiểu nhân  
vật ma quái trong văn học hiện thực  
huyền ảo của Mĩ Latin đã tạo nên một  
cú huých lớn cho sự xuất hiện kiểu nhân  
vật này.  
Để kiến tạo nên một thế giới hoàn  
mĩ thì khó có nhà văn nào làm được,  
ngay cả trong đời sống thực tại cũng  
79  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
Nhân vật trong Người sông Mê của  
Châu Diên đều là những hồn ma hoặc  
được hiện lên qua sự cảm nhận của hồn  
ma. Một thế giới nhân vật mang đậm  
tính siêu thực. Khánh trong Người sông  
Mê sau khi gặp tai nạn chết nhưng hồn  
ma của Khánh lại tiếp tục sống ở kiếp  
chết. Khánh chết nhưng vẫn nghe tiếng  
những người xung quanh khi mình vừa  
ngã xuống, vẫn yêu và cảm nhận được  
vẻ đẹp của cuộc đời này. Kiếp trước của  
Khánh là Lê nin, là Hoàn Cầu, là Chiền  
Chiện, là cậu bé với câu chuyện bà kể  
về sông Mê bến Lú… Khánh sợ qua  
sông Mê, sợ ăn cháo bến Lú vì như thế  
anh ta sẽ quên hết mọi thứ ở dương  
gian, Khánh bảo: “mình kiên quyết  
không chịu quên”. Khánh chết rồi  
nhưng vẫn sống trong trạng thái mơ hồ,  
luôn muốn xác định mình đã chết chưa.  
Tác giả Nguyễn Đức Toàn nhận định:  
“Bằng tư duy trò chơi, Châu Diên còn  
tạo nên yếu tố huyền ảo trong chính nội  
quan nhân vật, tức trạng thái huyền ảo  
được tạo nên bởi sự cảm nhận của các  
nhân vật chứ không chỉ ở những yếu tố  
mang tính siêu thực” [10, tr. 230].  
Khánh là một hồn ma nhưng lại muốn  
sống như con người thực, không muốn  
xa thế giới thực. Hồn ma Khánh đã  
nhập vào những con người ở kiếp trước  
để sống lại các kiếp mà linh hồn Khánh  
từng trải qua. Điều này chỉ có thể tồn tại  
trong trí tưởng tượng, trong tín ngưỡng  
chứ không thể tồn tại trong cuộc sống  
hiện thực. Nhân vật “tao” - kẻ ẩn mình  
trong bóng tối, đại diện cho bóng tối  
trong Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh -  
vốn là hồn ma của một lão ăn mày, đã  
từng làm chủ tịch xã trong cải cách  
ruộng đất và hãm hại nhiều người,  
nhưng về sau lại thân tàn ma dại, lang  
thang khắp nơi kiếm cơm thừa canh cặn  
đến một ngày hắn chết bị bó trong một  
cái chăn đầy rận, nhét đại xuống cái hố  
bảo là huyệt cho sang. Hắn chết trong  
lòng đầy thù hận, hồn ma hắn vất vưởng  
trong cái miếu của làng Thổ Ô. Sống  
dưới một hồn ma nhưng lòng thù hận  
trong hắn vẫn luôn âm ỉ đợi cơ hội để  
báo thù người dương thế. Hiếu trong  
Mình và họ của Nguyễn Bình Phương  
cũng là một hồn ma trong chuyến xe  
xuống. Tác phẩm mở đầu bằng cú gieo  
mình xuống vực của nhân vật Hiếu, sau  
đó mạch truyện diễn ra song song với  
chuyến xe lên và xe xuống. Chuyến lên  
là chuyến nhân vật Hiếu chạy trốn thực  
tại, tìm về miền ký ức qua cuốn nhật ký  
của người anh tên Thuận. Chuyến  
xuống là câu chuyện của hồn ma Hiếu  
những ám ảnh về cuộc đời đã trải qua  
của anh. Tác phẩm xây dựng nhân vật  
bằng hồn ma nhưng lại vẽ lên một bức  
tranh đầy ắp sự kiện: chuyện về cuộc  
chiến tranh biên giới phía Bắc, chuyện  
ăn cao bành trướng, chuyện ăn thịt  
người, chuyện khai thác tù binh… đan  
xen vào đó là câu chuyện về cuộc đời  
“mình”, chuyện về thổ phỉ… Tác giả  
Nguyễn A Say nhận định: “Thế giới  
huyền ảo không phải là một thực thể tồn  
tại bên ngoài nhân vật mà từ trong tâm  
thức biểu hiện ra. Chính thế giới ảo đó  
phản ánh tâm lý thật của Hiếu, hiện lên  
nội tâm của nhân vật: có chút sợ hãi,  
nghi hoặc, bất lực lẫn ăn năn, hối  
hận,…” [11]. Không chỉ riêng tiểu  
thuyết Mình và họ, rất nhiều tiểu thuyết  
khác của Nguyễn Bình Phương cũng  
xây dựng một thế giới ma tràn ngập.  
Những đứa trẻ chết già là một câu  
80  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
chuyện huyền thoại về ngôi làng Phan  
với kho báu bí ẩn, song song với mạch  
truyện huyền thoại này lại có một mạch  
truyện khác miêu tả cuộc hành trình  
không có điểm khởi đầu của bốn hồn  
ma trên một chiếc xe trâu. Họ hiện lên  
vừa thực vừa ảo, ở đó nhà văn như dẫn  
dắt người đọc vào một thế giới mê  
cung, kỳ bí và huyễn hoặc, có khi người  
đọc nghĩ họ đang sống, nhưng ở một lúc  
khác lại nghĩ họ không tồn tại thế giới  
này mà ở một thế giới khác, đó là thế  
giới của hồn ma. Mạch truyện nào cũng  
có phần ma quái xuất hiện, ma cụt đầu,  
ma không mũi, ma biến hình từ già sang  
trẻ, ma hóa thân thành cô gái xinh đẹp,  
ma chỉ là cái bóng lờ mờ… Chất huyền  
ảo được Nguyễn Bình Phương khai thác  
một cách triệt để xây dựng một thế giới  
đầy “ma quái” trong cuốn tiểu thuyết.  
Nỗi sợ hãi vây kín khắp nơi, bởi nơi đâu  
cũng có ma xuất hiện: ma báo oán, báo  
ân, ma yêu, ma đội lớp người biến ảo  
liên tục… Mỗi lần xuất hiện là mỗi con  
ma có hình dáng khác nhau: “Người  
đàn bà không có mặt. Mặt bà ta chỉ là  
một khoảng rỗng đen ngòm” [2, tr. 20];  
“Người con gái trắng mờ như khói,  
chẳng nhìn rõ mặt mũi gì cả. Người con  
gái biến mất, thay vào đó là một con rắn  
vừa lột da mềm nhũn” [2, tr. 25]; Một  
bà già tóc bạc phơ đi một quãng biến  
thành người đàn bà trạc bốn mươi tuổi,  
lại biến thành một cô gái trẻ, lại biến  
thành một đứa trẻ, sau đó thì không thấy  
đâu nữa” [2, tr. 60].  
qua tiếng bước chân lướt nhẹ: “Hình  
như có những âm thanh lạ vọng ra từ  
bãi tha ma, tiếng rì rầm hổn hển lúc  
dâng lên hạ xuống khi ùa đến gần rồi lùi  
xa chợp chờn mê hoặc... Bước chân rào  
rào đạp qua lá khô, tiến lại phía Kỷ  
nhưng không hề thấy người... Một vật  
mờ lướt giữa những vệt sáng tách ra từ  
bóng hàng xoan, nó lướt nhẹ, nhấp nhô  
nhưng vọng lên tiếng rào rào của lá” [4,  
tr. 94]. Ma không chỉ xuất hiện trong  
một chốc, một lát, một khoảng thời gian  
nhất định mà nó hiện hình ở mọi nơi,  
mọi chỗ, ở đâu có người, ở đó có ma.  
Nguyễn Bình Phương viết về ma với  
một thái độ không bình luận, tạo  
khoảng trống cho sự giải mã và tiếp  
nhận của độc giả. Tác giả Phùng Văn  
Khai nhận định về quan điểm viết văn  
về ma trong sáng tác Nguyễn Bình  
Phương: “Có những lúc viết văn là viết  
cho những linh hồn, những linh hồn  
không riêng là những linh hồn ở nơi cực  
lạc, viên mãn, đang háo hức với những  
vị trí tốt đẹp của mình, mà là những linh  
hồn bơ vơ, lạc lõng, vong thân, vong  
quốc, băn khoăn, oan khuất đang trú  
ngụ dật dờ nơi bờ cây, ngọn cỏ, sỏi đá,  
cát bụi, cống rãnh, rừng thiêng, nước  
độc...” [12]. Nếu viết về những linh hồn  
bơ vơ, lạc lõng, vong thân, vong quốc,  
băn khoăn, oan khuất đang trú ngụ dật  
dờ nơi bờ cây, ngọn cỏ, rừng thiêng,  
nước độc thì hẳn những tiểu thuyết viết  
về đề tài chiến tranh kiểu nhân vật ma  
quái này khá phổ biến. Các nhân vật  
trong Tàn đen đóm đỏ của Phạm Ngọc  
Tiến chủ yếu là những hồn ma chết trận  
dật dờ trong một cái hang u tối đầy dơi.  
Ở đó có một ông già “9 năm” đại diện  
cho thế hệ trước, thế hệ kháng chiến  
Trong Người đi vắng, hình ảnh ma  
xuất hiện nhiều lần dưới dạng vật mờ  
ảo. Người ta nhận ra ma qua bóng dáng  
một người đàn bà quái dị bên một cái  
xác của một người đàn ông bí ẩn hoặc  
81  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
chống Pháp. Một người đóng vai trò  
biết tuốt vì đủ độ lắng của đau khổ, hy  
sinh. Các nhân vật còn lại là một anh  
chiến sĩ tên Phương bị thương bị bỏ lại  
và mất ở trong hang, một anh lính ngụy  
bị đồng đội tiêu diệt và một cô chiến sĩ  
giải phóng không có tên. Những nhân  
vật trong đó đầy đủ các thế hệ, có cả ta,  
địch. Họ cũng có tình yêu, có thù hận,  
có hồi ức, có tất cả những thứ như một  
con người bình thường. Họ còn khao  
khát tương lai, trong cái thế giới ấy họ  
không thể chạm được vào nhau. Mọi cố  
gắng chạm vào đều khiến họ đau đớn.  
Họ cũng không thể đi thoát khỏi cái  
hang đó được. Tất cả ngồi đợi mỏi mòn  
đến ngày chiến thắng, từng sư đoàn lần  
lượt trở về quê hương, liệu có ai còn  
nhớ đến họ? Những linh hồn bơ vơ nơi  
chiến trận này mãi mãi là một nỗi đau  
lớn không chỉ đối với người thân họ mà  
của cả dân tộc. Một đất nước có hàng  
vạn người ra đi nhưng liệu mấy ai được  
trở về sau chiến tranh. Tác phẩm như  
một lời tri ân của Phạm Ngọc Tiến dành  
cho những người đã khuất. Nỗi buồn  
chiến tranh của Bảo Ninh cũng miêu tả  
vô vàn hình ảnh ma quái bên kia truông  
núi Gọi Hồn, nơi đây người ta có thể  
“trông thấy nhiều quái vật lông lá có cả  
cánh lẫn vú với cái đuôi kỳ nhông kéo  
lết và họ ngửi thấy mùi tanh máu từ  
chúng, nghe thấy chúng gào rú và ca hát  
trong các hang động tối om ở chân đèo  
Thăng Thiên bên kia truông núi Gọi  
Hồn. Nhiều người đã chính mắt nom  
thấy những toán lính da đen không đầu  
chơi trò rước đèn ở ven rừng. Song đặt  
biệt rùng rợn là những tiếng rú man dại  
thường cất lên vào những buổi tinh mơ  
mờ mịt mưa giăng làm tái sạm mặt mày  
những ai chẳng may mà nghe phải” [7,  
tr. 21]. Theo dần năm tháng chính  
những hồn ma chết trận tại truông núi  
Gọi Hồn năm xưa trở thành nỗi ám ảnh  
trong Kiên, một người lính trở về sau  
chiến tranh. Nó luôn dằng dặc trôi qua  
trong hồi ức của Kiên lẳng lặng âm  
thầm kéo lê mãi trong đời anh nỗi buồn  
đau về chiến tranh. Không buồn đau sao  
được bởi vì “chiến tranh… nó là cái gì  
nếu không phải là ngày nào cũng nhìn  
thấy người chết, ngày nào cũng chôn  
người chết mà vẫn chưa đến lượt mình”  
[7, tr. 42]. Việc xây dựng kiểu nhân vật  
là những hồn ma chết trận, Bảo Ninh  
như muốn hướng đến một cái nhìn trần  
trụi hơn về chiến tranh. Chiến tranh  
không chỉ có chiến thắng, không chỉ  
vinh quang mà còn có thất bại, còn có  
cả sự hy sinh. Chính những linh hồn tử  
trận bơ vơ nơi rừng núi này trở thành  
một nỗi đau lớn không bao giờ nguôi  
đối với một dân tộc trải qua nhiều cuộc  
chiến tranh như đất nước ta. Bảo Ninh  
viết: “Hình như có bao nhiêu nâm mồ  
vô danh và bộ xương đã mất lai lịch thì  
có bấy nhiêu huyền thoại cùng với hằng  
hà dị bản hợp lại thành kho tàng những  
truyện truyền kỳ về sự nghiệp thiêng  
liêng đau khổ của người lính chống Mỹ,  
một sự nghiệp vừa được ghi nhớ vĩnh  
hằng vừa không ngừng bị lãng quên”  
[7, tr. 111].  
Như vậy kiểu nhân vật ma quái  
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại  
có khi chỉ là những dấu chấm, những ký  
hiệu hình hài mờ nhạt cũng có khi hiện  
hình dáng rõ rệt cụ thể. Số lượng ma  
cũng hết sức đông đảo, không chỉ là  
một bóng ma mà còn một túm, một đàn,  
một đoàn người… Ma là đàn bà, là trẻ  
82  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
con, là đàn ông, là những cặp vợ chồng,  
và có cả những con ma nghịch dị… Một  
thế giới ma đầy đủ như thế giới người  
nơi dương thế và cũng đầy chất chứa  
nỗi sầu muộn suy tư. Việc kiến tạo nên  
một thế giới nhân vật này góp phần bổ  
khuyết những thiếu hụt về việc xây  
dựng thế giới nhân vật trong tiểu thuyết  
truyền thống (1945 - 1975), mở ra nhiều  
tiềm năng mới trong việc mở rộng  
phạm vi khám phá các kiểu nhân vật  
cho tiểu thuyết Việt Nam đương đại.  
3. Kết luận  
Sự hiện diện lối viết hiện thực  
huyền ảo trong tiểu thuyết đương đại  
phần nào đó đã bổ khuyết cho sự thiếu  
hụt thời kỳ văn học trước, cũng là một  
bước phát triển mới của tiểu thuyết Việt  
Nam. Điều đó đã tạo nên một bước  
ngoặt quan trọng trong kiến tạo thế giới  
nghệ thuật tiểu thuyết, trong đó có nghệ  
thuật xây dựng nhân vật. Những đổi mới  
về quan niệm con người trong văn xuôi  
Việt Nam đương đại đã kéo theo những  
đổi mới trong cách xây dựng nhân vật  
trong tác phẩm. Chính những đổi mới  
này đã tạo nên bước ngoặt lớn trong tiến  
trình phát triển văn xuôi nói chung và  
tiểu thuyết nói riêng. Dưới màu sắc hiện  
thực huyền ảo, các nhà tiểu thuyết đương  
đại đã có một hướng đi mới trong cách  
xây dựng nhân vật. Ở đó nhà văn có thể  
tự do sáng tạo nhiều kiểu nhân vật khác  
nhau đi từ cõi dương đến cõi âm, đi từ ý  
thức đến vô thức, đi từ tỉnh đến điên…  
Tất cả tạo nên một thế giới vừa thực vừa  
ảo cứ đan cài vào nhau. Nói như nhà văn  
Hồ Anh Thái, hãy để “tiểu thuyết như  
một giấc mơ dài, gấp sách lại người ta  
vừa mừng rơn như vừa thoát khỏi một  
cơn ác mộng, lại vừa tiếc nuối vì phải  
chia tay với những điều mà đời thực  
không có”. Dưới một cảm quan mới về  
thực tại qua lăng kính huyền ảo, tiểu  
thuyết đương đại sẽ mãi là giấc mơ dài  
trong lòng bạn đọc.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Huỳnh Thu Hậu (2018), “Nhân vật nghịch dị trong tiểu thuyết đương đại Việt  
Nam”, http://vanhien.vn/news, (30/10/2017)  
2. Nguyễn Bình Phương (2002), Những đứa trẻ chết già, Nhà xuất bản Hội Nhà  
văn, Hà Nội  
3. Nguyễn Bình Phương (2005), Thoạt kỳ thủy, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội  
4. Nguyễn Bình Phương (2006), Người đi vắng, Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội  
5. Phạm Thị Hoài (1995), Thiên sứ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội  
6. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam (1975 - 1995) - những đổi mới  
cơ bản, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội  
7. Bảo Ninh (2001), Nỗi buồn chiến tranh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội  
8. Dương Thị Thùy Nhung (2017), “Con người tự thú trong tiểu thuyết Và khi tro  
bụi của Đoàn Minh Phượng”, http://vanhien.vn/news, (30/10/2017)  
9. Bùi Thanh Truyền (2014), Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam,  
Nhà xuất bản Văn học - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội  
10. Nguyễn Đức Toàn (2016), Văn xuôi Việt Nam đương đại - Hiện tượng và bút  
pháp, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội  
83  
TẠP CHÍ KHOA HỌC - ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI, SỐ 12 - 2019  
ISSN 2354-1482  
11. Nguyễn A Say (2017), “Tiểu thuyết Mình và họ của Nguyễn Bình Phương  
gợi mở từ lý thuyết trò chơi”, Tạp chí Khoa học - Đại học Văn Hiến, số 1, tr. 24-34  
12. Phùng Văn Khai (2007), Tản mạn Nguyễn Bình Phương (Chân dung văn  
học), Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội  
THE ART OF BUILDING CONTEMPORARY CHARACTERS  
IN CURRENT VIETNAMESE NOVELS UNDER  
THE TENDANCY OF FANCIFUL REALISM  
ABSTRACT  
The article focuses on issues related to the art of character building in  
contemporary Vietnamese novels under the influence of fanciful realism. Character  
types analyzed and described in the article include the character in jeopardy,  
character in the spiritual and unconscious world; virtual character, ghost”. These  
types of characters have created a new turning point in building characters in  
contemporary Vietnamese novels, and contributed to the innovation of contemporary  
Vietnamese literature.  
Keywords: Novels, realistic, fanciful, contemporary, characters, trends  
(Received: 30/1/2018, Revised: 6/5/2018, Accepted for publication: 19/3/2019)  
84  
pdf 13 trang yennguyen 17400 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại viết theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghe_thuat_xay_dung_nhan_vat_trong_tieu_thuyet_viet_nam_duon.pdf