Biến động địa giới thành phố Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử

TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
116  
BIẾN ĐỘNG ĐỊA GIỚI THÀNH PHỐ HÀ NỘI QUA CÁC THỜI KỲ  
LỊCH SỬ  
Bùi Thị Thanh Hương1  
Trường Đại học Thủ đô Hà Nội  
Tóm tắt: Trải qua hơn 2000 năm, ranh giới thành phố Hà Nội có nhiều biến động, phản  
ánh quy luật phân bố không gian của một thành phố trong “tứ giác nước” với những  
thăng trầm theo các triều đại trong lịch sử. Từ một khu kinh thành Cổ Loa nhỏ hẹp thời  
An Dương Vương, vùng Thăng Long được mở rộng hơn bên tả ngạn sông Hồng từ sông  
Tô Lịch (gần Dâm Đàm – Hồ Tây đến Đại Hồ (Hồ Bảy Mẫu) vào thời Lý - Trần. Đến thời  
Lê, Thăng Long – Bắc Thành mở rộng về phía Bắc bao trọn cả Hồ Tây. Thăng Long có  
diện tích lớn nhất trong lịch sử khi trở thành tỉnh Hà Nội vào thời nhà Nguyễn. Đến thời  
Pháp thuộc, dù là thủ đô của toàn Liên bang Đông Dương, nhưng địa giới của Hà Nội lại  
bị thu hẹp, chỉ bao quanh phạm vi khu phố cổ trước đây. Hà Nội ngày nay đã trở thành  
một trong 17 thủ đô lớn nhất trên thế giới (tính ở thời điểm năm 2008), với diện tích  
3271,96 km2, gấp 21,5 lần so với năm 1955.  
Key words: Địa giới, Thăng Long, Hà Nội, bản đồ, lịch sử  
1. MỞ ĐẦU  
Hà Nội ngày nay năm trên vùng đất bồi tụ phù sa của ngã ba sông Hồng, sông Đuống,  
là trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ. Sông Đuống nối liền hệ thống sông Hồng và hệ thống  
sông Thái Bình, tức là nối liền phần phía Tây, Tây Nam với phần giữa của tam giác châu  
Bắc Bộ với phần Đông bắc và phần Đông của tam giác châu ấy. Vào nguyên đại trung  
sinh, cách đây trên 100 triệu năm, vùng đồng bằng Bắc Bộ trong đó có Hà Nội là vùng  
“biển xanh”. Đến kỷ Đệ tam cách đây 65 triệu năm, quá trình biển thoái kết hợp với quá  
trình bồi lấp phù sa hình thành đồng bằng châu thổ diễn ra mạnh mẽ. Đến kỷ Đệ tứ cách  
đây 2 triệu năm, cơ bản đồng bằng sông Hồng có diện mạo như ngày nay. Hơn một thiên  
niên kỷ thăng trầm, qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, vùng đất Hà Nội vẫn giữ vị  
thế của một thủ phủ - kinh đô - thủ đô của Việt Nam. Trải qua các triều đại Lý - Trần - Lê -  
1 Nhận bài ngày13.04.2016, gửi phản biện và duyệt đăng ngày 28.04.2016  
Liên hệ tác giả: Bùi Thị Thanh Hương, Email: [email protected]  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
117  
Mạc - Nguyễn (Tây Sơn) - Nguyễn Gia (Gia Long)... đến thời đại Hồ Chí Minh, Thăng  
Long - Hà Nội được mô phỏng, biên vẽ trên bản đồ, phản ánh những biến động diện tích  
địa giới qua các thời kì lịch sử.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Địa giới kinh thành trước năm 1010  
Kinh thành lâu đời nhất của người Việt tồn tại trên vùng đất Hà Nội là thành Cổ Loa  
thời An Dương Vương (thế kỷ III trước CN). Thời Bắc thuộc trong thế kỷ thứ IV, vùng Hà  
Nội là huyện lỵ, trị sở của chính quyền đô họ Trung Hoa. Thế kỷ thứ VI, Lý Bí lập kinh đô  
Vạn Xuân, dựng một toàn thành gỗ bên bờ sông Tô Lịch, thuộc nội thành Hà Nội ngày  
nay. Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập này chỉ  
kéo dài tới năm 602. Thời kỳ nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện,  
Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao  
Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh  
Hải quân. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là  
thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Năm 939, sau khi  
dành độc lập, Ngô Quyền đặt kinh đô ở thành Cổ Loa cũ.  
2.2. Bản đồ Thăng Long - Đông Đô thời Lý - Trần  
Hình 1: Kinh thành Thăng Long thời kỳ Lý – Trần  
(Nguồn [2])  
Sau khi lên ngôi năm 1009 tại Hoa Lư, năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô về Đại La. Kinh  
thành Thăng Long khi đó giới hạn bởi ba con sông: sông Nhị Hà (sông Hồng) ở phía Đông,  
sông Tô phía Bắc và sông Kim Ngưu phía Nam. Khu Điện Càn Nguyên (hoàng  
thành) được xây dựng gần hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) với cung điện hoàng gia cùng các công  
trình chính trị. Phần còn lại của đô thị là những khu dân cư, bao gồm các phường cả nông  
nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp. Ngay trong thế kỷ 10, nhiều công trình tôn giáo  
nhanh chóng được xây dựng, chùa Diên Hựu phía Tây hoàng thành xây năm 1049, chùa  
Báo Thiên xây năm 1057, Văn Miếu xây năm 1070, Quốc Tử Giám xây dựng năm 1076...  
Hai trong bốn Thăng Long tứ trấn được xây dựng trong thời kỳ này là trấn Bắc (đền Quán  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
118  
Thánh được xây dựng vào thế kỷ thứ X), trấn Tây (Đền Voi Phục được xây dựng vào thế  
kỷ XI). Riêng trấn Đông (đền Bạch Mã đã được xây dựng vào thế kỷ thứ IX) và trấn Nam  
(đền Kim Liên được xây dựng vào thế kỷ XVII).  
2.3. Bản đồ Thăng Long - Bắc Thành thời nhà Lê  
Hình 2: Kinh thành Thăng Long thời Lê  
(theo sách Hồng Đức bản đồ)  
Đến thời nhà Trần, năm 1230, Thăng Long được chia thành 61 phường, kinh thành  
đông đúc hơn dù địa giới không thay đổi. Cuối thế kỷ 14, thời kỳ nhà Trần suy vi, Hồ Quý  
Ly ép vua Trần dời kinh đô về Thanh Hóa. Khi Hồ Quý Ly chính thức lên ngôi, lập nên  
nước Đại Ngu năm 1400, kinh đô mới mang tên Tây Đô, Thăng Long được đổi  
thành Đông Đô.  
Năm 1406, nhà Minh đưa quân xâm lược Đại Ngu, Thăng Long bị chiếm đóng và đổi  
tên thành Đông Quan. Thời kỳ Bắc thuộc thứ tư bắt đầu từ năm 1407 và kéo dài tới năm  
1428. Nhìn chung, bản đồ kinh thành Thăng Long thời nhà Trần không thay đổi so với thời  
nhà Lý (Hình 1).  
Theo sách Hồng Đức bản đồ (Viện nghiên cứu Hán Nôm, A2499), vùng Thăng Long  
được quy hoạch thành “tam trùng thành quách” (Kinh thành, Hoàng thành, Cấm thành),  
được thể hiện khá rõ với 3 vòng thành, tuy không hẳn khép kín và tách bạch với nhau. Cấm  
thành (Cung thành) vẫn ở vị trí cũ, nhưng được gia cố, tu sửa nhiều, là một tòa thành nhỏ  
vuông vắn có tường kiên cố bao quanh. Điện Kính Thiên được dựng ở dựng ở trung tâm,  
mở cửa Đoan Môn ở phía Nam. Phía Đông Cấm Thành có khu Đông Cung, là nơi các  
hoàng tử sinh hoạt và học tập. Hoàng thành Thăng Long bị phá hủy hoàn toàn vào năm  
1592, khi nhà Trịnh diệt nhà Mạc. Hoàng thành bị thu hẹp lại với khu phía Tây (hoang  
phế), khu liên hiệp quân sự được chuyển sang phía Đông, gần bờ sông Nhị. Vương Phủ  
(phủ chúa Trịnh), một khu cơ sở quânsự mới lấy Tả Vọng (hồ Hoàn Kiếm) và sông Nhị  
(sông Hồng) là nơi diễn tập thủy quân. Phía Nam Vương phủ Tỉnh gồm 4 phủ: Hoài Đức,  
Thường Tín, Ứng Hòa, Lý Nhân (Hà Nam). Bốn phủ này được chia thành 15 huyện.có  
điện Nam Giao, là nơi các Hoàng đế thực hiện các nghi lễ tế Trời vào dịp đầu xuân. Các  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
119  
phường chuyên nghề (phường thủ công buôn bán) cũng trở nên cực thịnh ở phía Đông ven  
sông Nhị xuất hiện như: phường Thái Cực Hàng Đào - nhuộm Tơ Lụa), phường Đông Các  
(Hàng Bạc - đúc bạc nén và nghề kim hoàn), phường Diên Hưng (Hàng Ngang), phường  
Hà Khẩu (Hàng Buồm - có nhiều cửa hiệu của người Hoa Kiều), phường Đông Hà (Hàng  
Chiếu, có các nhà buôn lớn đường Sông). Vì thế nên thời Tây Sơn, khi Quang Trung chọn  
Phú Xuân là kinh đô, Thăng Long được coi là cố đô với tên là Bắc Thành còn có một tên  
gọi khác là Kẻ Chợ.  
2.4. Bản đồ tỉnh Hà Nội thời nhà Nguyễn  
Hình 3: Tỉnh Hà Nội năm 1831  
(Nguồn [2])  
Năm 1831 thời Minh Mạng, tỉnh Hà Nội được thành lập (mang nghĩa thành phố nằm  
trong sông vì nằm giữa hai con sông Nhị và con sông Đáy). Địa bàn tỉnh Hà Nội khá rộng  
trong giai đoạn này, bao gồm cả Thăng Long (cũ) và cả tỉnh Hà Đông, Hà Nam sau này.  
Huyện Thọ Xương, huyện Vĩnh Thuận và huyện Từ Liêm thuộc phủ Hoài Đức là  
không gian Thăng Long cổ từ thời Lê sơ, trong đó, huyện Thọ Xương là huyện nội thành  
nằm bên trong la thành. Muốn vào nội thành phải đi qua nhiều cửa ô mà dấu tích một số  
cửa ô này vẫn còn lưu lại cho tới ngày nay. Đơn vị hành chính dưới cấp huyện là cấp tổng,  
dưới cấp tổng là cấp phường, trại, thôn.  
Năm 1805, Gia Long cho phá tòa thành cũ của Thăng Long, xây dựng thành mới chính  
là dấu vết Hoàng thành ngày nay.  
2.5. Bản đồ Hà Nội thời Pháp thuộc  
Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của toàn Liên bang Đông Dương, nó đã chuyển  
biến dần từ một đô thị phong kiến truyền thống sang một thành phố thuộc địa [3]. Nhờ sự  
quy hoạch của người Pháp, thành phố dần có được bộ mặt mới với các công trình Phủ  
Thống sứ, Nhà thờ Cơ đốc giáo, Nhà bưu điện, Kho bạc, Nhà đốc lý, Nhà hát lớn, Cầu  
Long Biên, Ga Hà Nội, những quảng trường, bệnh viện trường Đại học Y khoa, Đại học  
Đông dương... Lũy thành thời Nguyễn dần bị triệt hạ, hầu như bị phá hủy hoàn toàn vào  
năm 1897 [2]. Sông Tô Lịch chảy qua nội thành, cùng với nhiều hồ ao cũng bị lấp đi xây  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
120  
nhà và làm đường. Nhà thờ lớn nằm ở vị trí tháp Báo Thiên (cũ), Bưu điện, Phủ Thống sứ  
nằm ở vị trí chùa Báo Ân (cũ). Bản đồ Hà Nội năm 1873 là bản đồ đầu tiên được thành lập  
theo phương pháp kĩ thuật mới có cơ sở toán học và trắc địa xác định, thể hiện khá gần gũi  
với Hà Nội ngày nay. Thành phố Hà Nội lúc này có diện tích nhỏ bao gồm 2 huyện Thọ  
Xương và huyện Vĩnh Thuận thuộc phủ Hoài Đức (tham khảo hình 5). Phạm vi thành phố  
bó hẹp nằm trong khu vực Phố Huế, Đại Cồ Việt, Khâm Thiên, Giảng Võ, Đường Thụy  
Khuê, Hồ Tây đến cầu sắt Doumer (Long Biên). Ba phủ Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa  
thuộc về tỉnh Hà Đông. Phủ Lý Nhân tách ra tạo thành tỉnh Hà Nam.  
Qui hoạch và bộ mặt đô thị Hà Nội năm 1925 có không gian đô thị lấp đầy phần đất  
bên trong lũy Đại La. Tòa thành Hà Nội cũ bị phá hủy đến 3/4 diện tích. Hai phố Âu được  
hình thành phía Đông Nam hồ Hoàn Kiếm và phía Tây tòa thành. Sau chiến thắng Điện  
Biên Phủ năm 1954, Hà Nội tiếp tục giữ vị trí thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với  
4 quận nội thành (34 khu phố), và 4 quận ngoại thành (45 xã).  
2.6. Bản đồ Hà Nội giai đoạn 1955- 1978  
Bản đồ địa giới Hà Nội năm 1955 cho thấy thành phố gồm khu nội thành (giới hạn từ  
tả ngạn sông Hồng từ Hồ Tây đến hồ Bảy Mẫu), và 4 quận khác như: quận Quảng Bá, quận  
Cầu Giấy, quận Ngã Tư Sở và quận Quỳnh Lôi.  
Năm 1961, Hà Nội mở rộng diện tích lần thứ nhất với tổng diện tích từ 152,2 km2  
(năm 1955) lên đến 586 km2 (năm 1961). Trong đó, 4 quận nội thành (Ba Đình, Hoàn  
Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng) có diện tích tăng thêm 3,03 lần so với năm 1955 [2] và 4  
huyện ngoại thành (Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm) có diện tích tăng thêm 3,92  
lần so với năm 1955 [2].  
2.7. Bản đồ Hà Nội 1979 – 2007  
Hình 4: Thay đổi địa giới hành chính Hà Nội thời kì 1979 - 1995  
Năm 1979, Hà Nội mở rộng địa giới và địa giới hành chính lần thứ 2, diện tích tăng vọt  
lên 2130,5 km2, gồm 4 quận nội thành (Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Ba Trưng), 1  
thị xã (Sơn Tây) và 11 huyện ngoại thành (Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm và 7  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
121  
huyện mới: Sóc Sơn, Mê Linh, Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ, Ba Vì). Năm 1991, Hà  
Nội chuyển huyện Mê Linh về tỉnh Vĩnh Phúc, chuyển thị xã Sơn Tây và 5 huyện: Hoài  
Đức, Phúc Thọ, Đan Phượng, Ba Vì và Thạch Thất về tỉnh Hà Tây. Diện tích Hà Nội thu  
hẹp còn 921,8 km2, gồm 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành như năm 1991 (hình 4).  
Những năm1995, 1996, 2003, nội thành Hà Nội thêm nhiều quận mới và tăng thêm nhiều  
diện tích. Tới năm 2007, Hà Nội có 9 quận nội thành: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai  
Bà Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên.  
2.8. Địa giới Hà Nội ngày nay  
Hình 5: Lãnh thổ Hà Nội nhìn từ ảnh vệ tinh  
Nguồn: [2]  
Ngày 29/5/2008, với gần 93% đại biểu tán thành, Quốc hội Việt Nam đã thông qua  
nghị quyết điều chỉnh địa giới hành chính thủ đô Hà Nội và các tỉnh. Theo nghị quyết, toàn  
bộ tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh  
Hòa Bình được sáp nhập về Hà Nội. Từ diện tích gần 1.000 km², Hà Nội sau khi mở rộng  
có diện tích 3.271,96 km² nằm trong 17 thủ đô lớn nhất thế giới (hình 10), với 29 đơn vị  
hành chính. Qua bảng 1, trong hơn nửa thế kỷ (1955- 2008), diện tích thành phố từ mức  
cực tiểu (152,2 km2) đã tăng đến mức cực đại, gấp 21,5 lần song tỷ lệ nội thành so với  
ngoại thành giảm nhẹ (từ 9,57% xuống còn 7,18%). Năm 1979, tỷ lệ diện tích nội thành so  
với ngoại thành đạt mức cực tiểu (1,94%). Yếu tố nông thôn vượt trội trong toàn thành  
phố. Qua hình 5, nét sơn văn đặc trưng của Hà Nội có hướng chung Tây Bắc – Đông Nam,  
biểu hiện một cách sắp xếp xuôi và thấp dần về phía Đông Nam của các dãy núi, dãy đồi và  
các dòng sông. Những còn sông lớn như sông Hồng, sông Đuống, sông Cà Lồ đều chảy về  
phía Đông và phía Đông Nam. Đặc biệt trong phạm vi trung tâm Hà Nội, 4 dòng sông nhỏ là  
Tô Lịch, Sét, Lừ và Kim Ngưu hợp với sông Hồng kết thành một mạng lưới hình bàn tay xòe  
5 ngón về phía Nam và phía Đông Nam, tạo thành những hành lang tự nhiên đón gió từ biển  
thổi đến.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
122  
Bảng số liệu: Diện tích Hà Nội qua các năm  
Năm  
Diện tích TP  
DT nội thành (km2)  
DT ngoại  
thành (km2)  
(km2)  
1955  
1961  
1979  
1991  
2007  
2008  
152,2  
586,13  
2130,5  
920,9  
13,3  
37,13  
40,6  
138,9  
549,0  
2089,9  
880,3  
40,6  
921,0  
178,8  
219,18  
742,2  
3271,96  
3052,78  
Nguồn: At lat 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, 2010  
Theo quy hoạch vùng, tầm nhìn đến 2050, vùng Thủ đô Hà Nội bao gồm toàn bộ ranh  
giới hành chính Thủ đô Hà Nội và 7 tỉnh: Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải  
Dương, Hà Nam và Hoà Bình với diện tích tự nhiên khoảng 13.436 km2, bán kính ảnh hưởng  
từ 100 - 150 km. Phạm vi nghiên cứu bao gồm cả vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Kinh tế  
trọng điểm Bắc Bộ và các khu vực liên quan đến không gian phát triển kinh tế xã hội của vùng  
trong tầm nhìn hướng tới năm 2050.  
Về tổ chức phát triển không gian vùng Thủ đô Hà Nội: Không gian vùng Thủ đô được  
phân thành 2 phân vùng chính: 1. Vùng đô thị hạt nhân và phụ cận; 2. Vùng phát triển đối  
trọng.  
3. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu các bản đồ Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử, diện tích lãnh thổ Hà Nội có  
nhiều biến động từ một khu kinh thành Cổ Loa nhỏ hẹp thời An Dương Vương, vùng  
Thăng Long được mở rộng hơn bên tả ngạn sông Hồng từ sông Tô Lịch (gần Dâm Đàm -  
Hồ Tây) đến Đại Hồ (Hồ Bảy Mẫu) vào thời Lý - Trần. Đến thời Lê, Thăng Long - Bắc  
Thành mở rộng về phía Bắc bao trọn cả Hồ Tây. Thăng Long có diện tích lớn nhất trong  
lịch sử khi trở thành tỉnh Hà Nội, với 4 phủ (Hoài Đức - vùng Nội Thành, Ứng Hòa,  
Thường Tín, Lý Nhân (tỉnh Hà Nam) vào thời nhà Nguyễn. Đến thời Pháp Thuộc dù là thủ  
đô của toàn Liên bang Đông Dương nhưng địa giới của Hà Nội lại bị thu hẹp, chỉ bao  
quanh phạm vi khu phố cổ trước đây. Sau dành độc lập đến 1955, thủ đô của nước Việt  
Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ gồm 4 quận, nhưng đến năm 1961, thủ đô được mở rộng hơn  
thêm 4 huyện ngoại thành và trở nên khá rộng lớn với 11 huyện ngoại thành vào năm 1979.  
Đến 1991, diện tích Hà Nội lại thu hẹp với 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành. Hà  
Nội đã trở thành một trong 17 thủ đô lớn nhất trên thế giới vào năm 2008, với diện tích  
3271,96 km2, gấp 21,5 lần so với năm 1955.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 3/2016  
123  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa Thông tin.  
2. Trương Quang Hải (tổng chủ biên) (2010), At las Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội.  
3. Đinh Gia Khánh (2008), Địa chí văn hóa dân gian Thăng Long – Đông Đô Hà Nội, Nxb Hà Nội.  
4. Nguyễn Vinh Phúc (2004), Phố và đường Hà Nội, Nxb Giao thông vận tải.  
BOUNDARY CHANGE OF HA NOI CITY THROUGH HISTORICAL  
PERIODS  
Abstract: For over 2,000 years, the boundary of Hanoi is more volatile, reflecting the  
rules of spatial distribution of a city in the "quadrangle of water" with the rise and fall  
following to the dynasties in history. From an imperial city - Co Loa in An Duong Vuong  
period, Thang Long imperial city is wider on the left riverside of Red River from  
LichRiver (near West Lake) to Great Lake (Ho Bay Mau) in Ly – Tran period. In Le  
period, Thang Long expanded to the north of West Lake. Thang Long was the largest  
area in history when becoming Ha Noi province in Nguyen Period. By the time French  
Properties although Hanoi is the capital of the Indochina Federal, its area was narrow  
like the old captital today. In 2008, Hanoi has become one of the 17 largest capital cities  
in the world, with 3271.96 km2, larger 21.5 times than it in 1955.  
Key words: boundary, Thang Long, Hanoi, map, history  
pdf 8 trang yennguyen 20180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biến động địa giới thành phố Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_dong_dia_gioi_thanh_pho_ha_noi_qua_cac_thoi_ky_lich_su.pdf