Thực trạng quảng bá du lịch trực tuyến tại thành phố Đà Nẵng

84  
Đào Thị Thu Hường  
THỰC TRẠNG QUẢNG BÁ DU LỊCH TRỰC TUYẾN  
TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
CURRENT SITUATION OF ONLINE TOURISM ADVERTISING IN DA NANG CITY  
Đào Thị Thu Hường  
Trường Cao đẳng Công nghệ Thông tin, Đại học Đà Nẵng; daothuhuong1603@gmail.com  
Tóm tắt - Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin,  
những phương thức quảng bá, xúc tiến du lịch dưới hình thức truyền  
thống như cataloge, tờ rơi, áp phích, băng rôn… dần trở nên lỗi thời.  
Thay vào đó, công cụ internet ngày càng thể hiện vai trò quan trọng và  
những tiện ích vượt trội so với những phương thức quảng bá truyền  
thống nêu trên. Đó là lý do vì sao e-marketing ngày càng được ưa  
chuộng trong ngành du lịch. Thế nhưng, so với các ngành kinh tế khác  
thì du lịch còn có hoạt động kinh doanh tương đối yếu trên Internet.  
Thống kê thực tế cho thấy, mặc dù khách du lịch tới Đà Nẵng tăng nhưng  
lượng du khách quốc tế đang có xu hướng giảm dần. Một trong những  
nguyên nhân dẫn tới điều này là khâu quảng bá du lịch còn yếu kém. Bài  
báo được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng quảng bá du lịch  
điện tử tại TP. Đà Nẵng và đưa ra một số đánh giá về vấn đề này.  
Abstract - With the strong development of information technology,  
the methods of tourism advertising and promotion in the traditional  
forms such as catalogs, leaflets, posters, banners... have gradually  
become obsolete. Instead, Internet tool is increasingly showing the  
important role and its utilities outperform traditional methods  
mentioned above. That is why e-marketing is increasingly popular  
in tourism industry. However, compared with other economic  
sectors, tourism business is relatively weak on the Internet..  
Statistics show that, although the number of ourists to Da Nang  
increases but that of international tourists is decreasing. One cause  
of this is that tourism promotion is weak. This article is written to  
find out the current situation of tourism advertising in Da Nang city  
and make some assessments of the issue.  
Từ khóa - quảng bá du lịch; du lịch; khách du lịch; website; Đà Nẵng.  
Key words - tourism advertising; tourism; tourist; website; Da Nang.  
tác giới thiệu rộng rãi, để mọi người đều biết đến điểm đến  
du lịch và quyết định thực hiện chuyến du lịch đến đó.  
1. Đặt vấn đề  
Một thực tế là, dù phong cảnh đẹp nhưng khách du lịch  
đến Việt Nam đang có xu hướng giảm dần. Theo số liệu  
của ngành du lịch, 4 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến  
Quảng bá du lịch trực tuyến là công tác marketing cho  
thương hiệu du lịch của một điểm đến bằng việc áp dụng  
Việt Nam ước đạt 690.440 lượt, giảm hơn 12% so với cùng các công cụ của Internet và Mobile thay thế cho các công  
kỳ năm 2014 [1]. Trên thực tế, khách du lịch trong và ngoài cụ thông thường [8].  
nước ngày càng có xu hướng lựa chọn công cụ internet để  
2.1.2. Một số công cụ ứng dụng để quảng bá trực tuyến  
tìm kiếm thông tin du lịch trước khi lựa chọn cho mình một  
Search Engine Marketing (SEM = SEO + PPC)  
điểm đến. Đặc biệt, đối với những du khách ở xa không thể  
Email Marketing  
Banner quảng cáo  
tiếp cận thông tin du lịch qua tư vấn trực tiếp thì mạng  
Internet là hình thức mua tour hữu hiệu nhất. Để thông tin  
tới được đúng khách hàng tiềm năng bị giới hạn bởi khoảng  
cách địa lý thì việc quảng bá không chỉ dừng lại ở những  
phương pháp truyền thống, mà cần phải có chiến lược  
quảng bá sâu rộng. Quảng bá du lịch trực tuyến chính là  
giải pháp cho vấn đề trên.  
PR Online  
Blog & Social Media Marketing  
SMS/ Mobile Marketing  
Viral Marketing  
Trong bối cảnh thị trường du lịch ảm đạm, du lịch Đà  
Nẵng vẫn giữ được mức tăng trưởng cao. Năm 2014 là năm  
đầu tiên Đà Nẵng đón tới 3,8 triệu lượt du khách [2]. Việc  
tìm kiếm thông tin du lịch qua mạng Internet, đặt tour qua  
website của các công ty lữ hành là giải pháp được nhiều du  
khách lựa chọn khi lên kế hoạch cho những chuyến du lịch  
đến Đà Nẵng. Tuy nhiên, theo thống kê, mặc dù lượng  
khách du lịch tới Đà Nẵng tăng, nhưng lượng khách du lịch  
quốc tế lại đang có xu hướng giảm [2]. Điều này xuất phát  
từ nguyên nhân nào, liệu rằng công tác quảng bá du lịch tại  
Đà Nẵng đã thật sự hiệu quả chưa?  
Video Marketing  
Article marketing  
Website Marketing  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Số liệu thứ cấp được thu thập qua các bài báo, nghiên  
cứu có trước và báo cáo của Bộ Công thương- Cục Thương  
mại điện tử và CNTT năm 2014.  
Số liệu sơ cấp phục vụ cho đề tài được thu thập bằng  
cách điều tra 10 website lữ hành trên địa bàn TP. Đà Nẵng  
và 87 du khách tới Đà Nẵng theo phương pháp lấy mẫu  
thuận tiện.  
Bài viết sẽ đưa ra một số đánh giá thực trạng quảng bá  
du lịch trực tuyến trong việc thu hút khách du lịch tới Đà  
Nẵng trong thời gian gần đây  
3. Tình hình khách du lịch trực tuyến  
Tính đến năm 2014 có gần 3 tỉ người trên toàn cầu sử  
dụng dịch vụ Internet. Hiện nay, đối với thị trường khách du  
lịch nước ngoài đang đến VN họ tiếp cận với thông tin du  
lịch bằng cách nào? Thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới  
cho thấy rằng: Khoảng 78% du khách Mỹ (79 triệu người)  
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
2.1. Cơ sở lý luận về quảng bá du lịch trực tuyến  
2.1.1. Khái niệm  
Tuyền truyền quảng bá du lịch là việc thực hiện công  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 12(97).2015, QUYỂN 2  
85  
sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin về các điểm đến, tour  
Trước khi đi du lịch, người tiêu dùng thường tham khảo  
du lịch...; trong số đó có 82% số người tìm kiếm thông tin về thông tin từ ý kiến gia đình, bạn bè (chiếm 85,6%), tìm  
du lịch qua mạng đã quyết định đặt tour qua mạng. Tại Pháp, kiếm trên trang tìm kiếm và các website du lịch (chiếm  
có tới hơn 50% số khách du lịch lựa chọn và đặt tour qua 65,3%). Trong đó, gần 70% người từng đi du lịch cho biết  
mạng Internet... Còn đối với các quốc gia châu Á, Tổ chức họ tìm kiếm thông tin du lịch thông qua các công cụ tìm  
Du lịch thế giới cũng đưa ra dự báo: Trung Quốc sẽ trở thành kiếm phổ biến. Mạng xã hội cũng là một trong những  
thị trường du lịch lớn nhất thế giới với hơn 10% số lượt nguồn thông tin tham khảo quan trọng trước khi du lịch.  
khách du lịch được hỗ trợ Internet. Trong khi đó, thị trường Một số nghiên cứu đã khẳng định rằng những thông tin từ  
du khách Trung Quốc vào VN luôn đứng đầu trong vài ba mạng xã hội và người có ảnh hưởng là nhân tố then chốt  
năm trở lại đây [3], cùng với đó là chi tiêu du lịch của các tác động đến hành vi người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ  
nước này ngày càng tăng. Đây là một tín hiệu mừng với thị khi họ nghiên cứu thông tin du lịch. Bên cạnh đó, các thông  
trường du lịch trong nước và quốc tế.  
tin được cung cấp từ các website của Tổng cục Du lịch và  
các tỉnh thành chỉ có 10,1% khách du lịch tham khảo.  
Bên cạnh những thay đổi trong sử dụng Internet của  
khách du lịch thế giới, tại VN có 41 triệu người dùng sử  
Mặc dù khách du lịch sử dụng rất nhiều công cụ để tìm  
dụng Internet. Trong đó, có 71% người dùng Internet VN kiếm thông tin, nhưng chỉ một số nguồn thông tin được  
từng mua sắm trực tuyến, khoảng 21% người từng đặt mua đánh giá là đáng tin cậy với họ. Hơn nửa khách du lịch chỉ  
vé máy bay/tour du lịch. Tỷ lệ người mua sắm đặt vé máy tin tưởng các nguồn tin từ bạn bè, người thân. Và chỉ có  
bay/tour du lịch trực tuyến năm 2013 là 16%.  
14,4% tin tưởng nguồn tin từ các công cụ tìm kiếm và 8,1%  
từ các website du lịch. Các thông tin được cung cấp từ  
website Tổng cục Du lịch và các địa phương chỉ được 2,6%  
khách du lịch tin tưởng.  
Như vậy, tính đến năm 2014 có khoảng 6 triệu người  
từng đặt mua vé may bay/tour du lịch trực tuyến. Trong  
năm 2014, số người mua mới (mua lần đầu) khoảng  
1.420.000 người. Ước tính, chi tiêu bình quân của khách  
du lịch nội địa khoảng 1,1 triệu/ngày. Đối với khách quốc  
tế, ước tính tổng chi phí cho một chuyến du lịch Việt Nam  
khoảng 1.500 USD/người, chi tiêu bình quân khoảng 110  
USD/ngày [4]. Khoảng cách địa lý và sự thuận tiện trong  
việc sử dụng Internet để mua sắm trực tuyến chính là cơ  
hội để các nhà du lịch tăng cường đầu tư vào hình thức  
quảng bá này. Việc khách du lịch ngày càng có xu hướng  
lựa chọn Internet làm công cụ tìm kiếm và mua sắm các  
dịch vụ du lịch đã tạo nền tảng lớn để các doanh nghiệp  
quảng bá và thu hút du khách.  
Theo số liệu của Cục Thương mại điện tử & CNTT, Bộ  
Công Thương về hành vi mua sắm thương mại điện tử tại  
Việt Nam, hiện mới có 16% người được khảo sát từng tham  
gia hoạt động mua sắm các dịch vụ du lịch trực tuyến.  
Khách du lịch tìm kiếm thông tin và tham gia mua sắm  
các dịch vụ du lịch dưới nhiều hình thức khác nhau. Dưới  
đây là thống kê của Cục Thương mại điện tử & CNTT về  
cách thức tìm kiếm thông tin của khách du lịch khi họ có  
nhu cầu:  
Hình 2. Thống kê niềm tin của KDL với các nguồn tin  
(Nguồn: Báo cáo TMĐT VN 2014)  
4. Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu  
quả quảng bá du lịch trực tuyến tại TP. Đà Nẵng  
4.1. Thực trạng quảng bá du lịch trực tuyến tại TP. Đà  
Nẵng  
Trên thực tế, khách du lịch trong và ngoài nước ngày  
càng có xu hướng lựa chọn công cụ Internet để tìm kiếm  
thông tin du lịch trước khi lựa chọn cho mình một điểm  
đến. Đặc biệt, đối với những du khách ở xa không thể tiếp  
cận thông tin du lịch qua tư vấn trực tiếp thì mạng Internet  
là hình thức mua tour hữu hiệu nhất. Theo kết quả nghiên  
cứu thị trường khách quốc tế của Sở VHTTDL Đà Nẵng,  
khách du lịch châu Á tìm hiểu thông tin du lịch Đà Nẵng  
qua mạng Internet chiếm khoảng 23 - 30%, trong khi lượng  
khách châu Âu chiếm đến 80-90%, trong đó có khoảng  
68% du khách Nga, 50% du khách Pháp... sử dụng Internet  
để tìm kiếm thông tin về các điểm đến, tour du lịch với hơn  
70% số người đã quyết định đặt tour qua mạng. Ở thị  
trường châu Á, theo số liệu thống kê, có khoảng 23% lượng  
Hình 1. Thống kê cách thức tìm kiếm thông tin của  
khách du lịch (Nguồn: Báo cáo TMĐT VN 2014)  
86  
Đào Thị Thu Hường  
khách du lịch Trung Quốc, gần 10% lượng khách Hàn  
Quốc lựa chọn và đặt tour qua mạng Internet [5].  
quảng bá hữu hiệu nhất. Hiện nay, trên địa bàn thành phố  
có hơn 183 đơn vị kinh doanh lữ hành, trong đó có 73 công  
ty lữ hành nội địa, 60 công ty lữ hành quốc tế, 2 chi nhánh  
lữ hành nội địa, 31 chi nhánh lữ hành quốc tế, 16 văn phòng  
đại diện và 1 đại lý du lịch [6].  
Cũng theo thống kê của Sở VHTTDL Đà Nẵng, ngoài  
các công ty lữ hành, website của các công ty thuộc lĩnh vực  
dịch vụ du lịch như hàng không, nhà hàng, khách sạn, cơ  
sở mua sắm, ăn uống trên địa bàn thành phố chiếm hơn  
70% số trang web có tính năng hỗ trợ giao dịch thương mại  
điện tử.  
Để nâng tầm thương hiệu du lịch Đà Nẵng bằng việc  
quảng bá du lịch và xa hơn là mua bán sản phẩm tour qua  
mạng, ngành Du lịch TP. Đà Nẵng cần có dịch vụ chăm  
sóc, hỗ trợ thông tin tốt hơn cho khách hàng.  
Để quảng bá du lịch thành phố tới khách du lịch quốc  
tế cũng như khách du lịch nội địa thì không chỉ có sự cố  
gắng một bộ phận, mà còn có sự nỗ lực của chính quyền  
thành phố, các ban quản lý các điểm du lịch và các doanh  
nghiệp dịch vụ và lữ hành.  
Với thống kê từ 10 website lữ hành trên địa bàn TP. Đà  
Nẵng tác giả nhận thấy Website Vietravel.com.vn là  
website dẫn đầu về số lượng truy cập, với 130 ngàn  
visit/tháng. Đây cũng là website có thời gian người xem  
lưu lại trang lâu vượt trội hơn các website công ty lữ hành  
khác. Thế nhưng con số lượt khách truy cập và thời gian  
lưu lại trung bình của người xem được đánh giá khá thấp  
(gần 2 phút/lần truy cập) trong khi đó theo thống kê trung  
bình, website du lịch Việt Nam có thể giữ chân khách thăm  
khoảng 9 phút/lần truy cập, và con số tương ứng của  
website du lịch thế giới lên tới 25,6 phút.  
4.1.1. Chính quyền thành phố Đà Nẵng  
Việc quảng bá du lịch tại Đà Nẵng được ban lãnh đạo  
thành phố hết sức quan tâm. Ngoài website của Sở Văn  
hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng với tên miền  
http://www.cst.danang.gov.vn/ thì Uỷ ban nhân dân TP. Đà  
Nẵng còn xây dựng website riêng về du lịch với tên miền  
http://tourism.danang.vn/vi/ nhằm quảng bá sâu rộng du  
lịch Đà Nẵng tới du khách thế giới. Website sử dụng 2 ngôn  
ngữ bao gồm tiếng Việt và tiếng Anh cung cấp đầy đủ các  
thông tin về du lịch Đà Nẵng mà du khách quan tâm như:  
lịch sử phát triển TP. Đà Nẵng, các điểm du lịch, hệ thống  
vận chuyển, nhà hàng, khách sạn,…với các thông tin cập  
nhật nhanh nhất về hoạt động của ngành Du lịch thành phố.  
Bảng 1. Thống kê lượng truy cập và thời gian lưu lại của khách  
Lượng truy Thời gian lưu  
Website  
cập/ tháng lại trang (phút)  
Vietravel.com.vn  
17  
130  
7
16  
11  
8
13  
30  
25  
8
2,14  
3,15  
1,65  
2,30  
1,30  
1,60  
1,95  
1,93  
2,97  
1,35  
2,00  
Saigon-tourist.com  
Fiditour.com  
Trung bình  
Ngoài ra, Trung tâm xúc tiến du lịch Đà Nẵng với tên  
tâm hỗ trợ du khách đã thực hiện tốt công tác hỗ trợ, tư vấn,  
cung cấp thông tin cho du khách. Nhìn chung, chính quyền  
TP. Đà Nẵng đã đầu tư các website để quảng bá du lịch, tuy  
nhiên các website này hầu như chỉ có tiếng Việt mà không  
có hỗ trợ tiếng Anh và các ngôn ngữ khác, trong khi lượng  
khách quốc tế tìm kiếm thông tin trên Internet khá đông.  
26.5  
Ngoài ra, những hoạt động du lịch trên địa bàn thành  
phố trong năm nay như cuộc thi thiết kế logo và slogan du  
lịch Đà Nẵng, bình chọn doanh nghiệp du lịch tiêu biểu, cơ  
sở du lịch đạt chuẩn... do Sở Du lịch Đà Nẵng tổ chức được  
tuyên truyền rộng rãi qua mạng cũng góp phần nâng tầm  
thương hiệu du lịch Đà Nẵng.  
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả  
Một thống kê khác được tác giả điều tra trên 22 doanh  
nghiệp lữ hành về các công cụ quảng bá du lịch trực tuyến mà  
doanh nghiệp sử dụng để thu hút du khách cho thấy các doanh  
nghiệp lữ hành chỉ mới sử dụng các công cụ quảng bá dưới  
các hình thức đơn giản. Số các doanh nghiệp sử dụng công cụ  
được đánh giá là hiệu quả và ít tốn chi phí như Search Engine  
Optimization (SEO), Adwords còn chưa cao, mới chỉ có xấp  
xỉ 50% các doanh nghiệp được điều tra sử dụng công cụ này.  
Nguyên nhân do sự phức tạp về công nghệ và ngoài ra các  
hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp cần nhiều thời gian thực  
hiện và duy trì khi ứng dụng. Hai hình thức nổi trội được các  
doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất đó là Email Marketing và  
Marketing cộng đồng qua các diễn đàn, mạng xã hội. Điều này  
hoàn toàn trùng khớp với thực tế vì với sự phát triển của  
Internet, những trang mạng xã hội ảo dần trở thành món ăn  
tinh thần không thể thiếu đối với phần lớn các cư dân mạng  
bởi những tính năng kết nối cộng đồng một cách hiệu quả. Có  
tới 86,8 % doanh nghiệp tham gia vào mạng xã hội để quảng  
bá cho sản phẩm, dịch vụ của mình. Bên cạnh hình thức  
Marketing cộng đồng, Email Marketing cũng là một trong  
những hình thức quảng bá được các doanh nghiệp sử dụng  
nhiều, với 74, 98% doanh nghiệp được điều tra sử dụng.  
4.1.2. Các điểm du lịch và doanh nghiệp lữ hành  
Bên cạnh các website chuyên trang về du lịch của Sở  
VHTTDL, Trung tâm Xúc tiến du lịch thì các điểm du lịch  
cũng đã đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá cho du lịch Đà  
Nẵng. Tuy nhiên, chỉ có một số điểm du lịch như Bà Nà  
Hill, Helio Center, Hòa Phú Thành,… có website quảng bá  
trực tuyến, còn hầu hết các điểm du lịch khác chỉ được  
quảng bá thông qua các chuyên trang du lịch và website  
của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch. Mặc dù vậy,  
truy cập hầu hết các trang website cho thấy, việc quảng cáo,  
tiếp thị du lịch trên Internet của Đà Nẵng vẫn chưa đa dạng.  
Các website mới chỉ phục vụ chủ yếu cho doanh nghiệp  
trong nước, chưa có nhiều trang tiếng Anh để phục vụ  
khách du lịch nước ngoài.  
Thông qua mạng Internet, khách du lịch nước ngoài biết  
đến Đà Nẵng ngày càng nhiều. Vì vậy, ngoài việc giới thiệu  
sản phẩm tour cho du khách thông qua tư vấn trực tiếp,  
website du lịch của các công ty lữ hành được xem là kênh  
ISSN 1859-1531 - TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG, SỐ 12(97).2015, QUYỂN 2  
87  
Bảng 2. Tỷ lệ DN lữ hành sử dụng các công cụ quảng bá  
tham quan, lộ trình cũng như nhà hàng, khách sạn được  
KDL đặc biệt quan tâm khi tìm kiếm qua Internet.  
Search  
Engine AdwordsEmail  
Optimization  
Công  
cụ  
Marketing  
cộng đồng  
4.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá  
du lịch trực tuyến tại TP. Đà Nẵng  
WebsiteKhác  
4.2.1. Chính quyền thành phố Đà Nẵng  
%
50,7  
46,82 74,98  
86,8  
100 21,76  
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả  
- Xây dựng các chuyên trang du lịch của thành phố với  
nhiều ngôn ngữ khác nhau, phục vụ nhiều đối tượng du  
khách. Ngoài ra, nên thường xuyên cập nhật các ấn phẩm  
điển tử về hoạt động du lịch tại thành phố.  
Về công cụ website, tất cả các công ty được điều tra đều  
có website phục vụ cho việc quảng bá, thu hút khách. Tuy  
nhiên, chỉ có duy nhất website của Công ty Fiditour được  
xây dựng với nhiều ngôn ngữ khác nhau như Anh, Trung  
Quốc, Nhật Bản. Còn các website khác chỉ sử dụng tiếng  
Việt, rất khó để tiếp cận với khách du lịch nước ngoài, khi  
họ muốn tìm hiểu thông tin du lịch.  
- Các doanh nghiệp du lịch lớn đã có thế mạnh về du  
lịch tỏ ra rất năng động trong việc đầu tư và phát triển công  
cụ e-marketing. Ngược lại, những doanh nghiệp du lịch  
vừa và nhỏ lại không mấy quan tâm đến lợi ích do Internet  
đem lại [7]. Chính vì vậy, chính quyền thành phố nên giúp  
các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ xây dựng website,  
quảng bá thương hiệu và sản phẩm trên cổng thương mại  
điện tử quốc gia ECVN, đồng thời tăng cường tổ chức các  
khóa tập huấn cho doanh nghiệp về Marketing điện tử.  
4.1.3. Một số thống kê về khách du lịch Đà Nẵng  
ứ
ế
Cách th c tìm ki m thông tin  
ồ
Ngu n khác  
ụ
ế
m
Công  
c
Tìm ki  
ạ
Báo, t p chí  
4.2.2. Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch  
Đạ  
ị
i lý, công ty du l ch  
- Xây dựng các trang web quảng bá điểm đến có chất  
lượng cao bằng nhiều ngôn ngữ, có khả năng tích hợp áp  
dụng phương thức doanh nghiệp tới khách hàng (B2C) và  
doanh nghiệp tới doanh nghiệp (B2B), marketing xã hội…  
ị
Website du lch  
ỏ
ế ạ  
H
i ý ki n b n bè  
ạ
ộ
i
M
ng xã h  
ươ  
ề
n
Ch ng trình truy  
hình  
ị
Blog du lch  
- Các doanh nghiệp du lịch cần thay đổi tư duy và đầu  
tư cho những hình thức quảng cáo trực tuyến như quảng  
cáo pay per click trên Google, tối ưu hóa website (SEO),  
mạng xã hội, online banner... để tận dụng những ưu thế của  
marketing online.  
http://tourism.danang.  
vn /vi/  
0.0  
10.0  
20.0  
30.0  
40.0  
50.0  
60.0  
70.0  
80.0  
Hình 2. Thống kê cách thức tìm kiếm thông tin của KDL tới Đà  
Nẵng (Nguồn: Điều tra của tác giả)  
- Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu điện tử nhằm  
tiệp cận với khách du lịch tiềm năng một cách hiệu quả hơn.  
Về cách thức tìm kiếm thông tin, theo thống kê đối với  
87 KDL đã từng đến Đà Nẵng, ba nguồn thông tin được  
khách du lịch tham khảo nhiều nhất đó là qua công cụ tìm,  
kiếm, website du lịch và hỏi ý kiến bạn bè, người thân. Như  
vậy, việc tìm hiểu thông tin qua Internet đã ngày càng phổ  
biến và điều này sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp du  
lịch khi quảng bá trực tuyến các sản phẩm, dịch vụ của mình.  
- Cuối cùng, để có thể phát huy hết sức mạnh của quảng  
bá du lịch qua internet thì ngoài việc nâng cấp website, việc  
sử dụng các công cụ phần mềm hỗ trợ mua - bán tour trở  
nên hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Ví điện tử là  
công cụ hữu hiệu cần thiết để giải quyết bài toán này.  
Bảng 3. Thống kê các thông tin cụ thể du khách tìm kiếm  
theo nguồn  
5. Kết luận  
Trong tất cả các ngành, có lẽ du lịch là ngành chưa phát  
huy hết tiềm năng của loại hình quảng cáo trên Internet,  
trong khi đó loại hình quảng cáo này lan tỏa ngày càng  
mạnh và cho thấy đây là phương thức tiếp thị đem lại thành  
công lớn cho doanh nghiệp. Một lợi ích có thể nhìn thấy rõ  
nhất là khi thực hiện các kế hoạch quảng cáo du lịch online,  
ngoài việc quảng bá du lịch một cách hiệu quả, các doanh  
nghiệp cũng như chính quyền địa phương có thể thống kê  
được gần đúng khách hàng tiềm năng, điều mà khó thực  
hiện được bởi phương thức quảng bá truyền thống.  
Công cụ tìm kiếm  
Khách sạn, nhà nghỉ  
Lịch trình và giá máy bay  
Lộ trình điểm đến du lịch  
72,1 %  
65,43%  
62,33%  
Hỏi ý kiến gia đình và bạn bè  
Hoạt động vui chơi giải trí  
71,66%  
Nhà hàng và quán bar  
56,2%  
Điểm tham quan tại điểm đến  
55,45%  
Rõ ràng, để thu hút được khách du lịch, đặc biệt là  
khách du lịch nước ngoài, đã đến lúc các cơ quan quản lý  
và các doanh nghiệp du lịch cần thay đổi tư duy và đầu tư  
cho những hình thức quảng cáo trực tuyến mới, từ đó nâng  
tầm ảnh hưởng và đưa du lịch Đà Nẵng nói riêng cũng như  
du lịch Việt Nam ra thị trường thế giới.  
Các website du lịch  
Điểm tham quan tại điểm đến  
78,9%  
Lịch trình và giá máy bay  
Tour đại lý du lịch  
57,86%  
55,45%  
Bài báo đã trình bày thực trạng quảng bá du lịch tại TP.  
Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay, đây sẽ là cơ sở để đưa  
ra các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả công tác quảng bá  
du lịch tại thành phố trong thời gian tới.  
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả  
Dựa trên mỗi nguồn thông tin, du khách tìm kiếm các  
thông tin cụ thể khác nhau. Trong đó, các thông tin về điểm  
88  
Đào Thị Thu Hường  
[4] Bộ công thương- Cục thương mại điện tử và CNTT- Báo cáo thương  
mại điện tử Việt Nam 2014  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Lượng khách quốc tế đến Việt nam tụt dốc, vì đâu nên  
ut_doc_vi_dau_nen_noi-1-23407211.html  
[5] Hoàng Hân, Quảng bá du lịch qua mạng Internet,  
qua-mang-internet-2280142/  
[2] Đà Nẵng, thương hiệu du lịch vượt tầm biên giới quốc gia  
thuong-hie%CC%A3u-du-li%CC%A3ch-vuo%CC%A3t-  
ta%CC%80m-bien-gio%CC%81i-quo%CC%81c-gia/  
[6] Quỳnh Hương, Du lịch Đà Nẵng với doanh nghiệp 2014,  
[7] Quảng bá du lịch qua Internet vẫn “mạnh ai nấy  
internet-van-manh-ai-nay-lam-1386437059.htm  
[3] Tường Linh, Hiệu quả thu hút khách du lịch qua mạng Internet  
mang-internet/40235813/254/  
[8] Khoa Thương mại du lịch, Đại học Công nghiệp TP. HCM, Bài  
giảng Tuyên truyền và quảng bá du lịch Việt Nam.  
(BBT nhận bài: 10/08/2015, phản biện xong: 08/12/2015)  
pdf 5 trang yennguyen 21480 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng quảng bá du lịch trực tuyến tại thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_quang_ba_du_lich_truc_tuyen_tai_thanh_pho_da_nang.pdf