Bước đầu khảo cứu tấm bia ghi chép về nhân vật Trịnh Quý Tốn thời Hậu Lê

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
BƢỚC ĐẦU KHẢO CỨU TẤM BIA GHI CHÉP VỀ NHÂN VẬT  
TRỊNH QUÝ TỐN THỜI HẬU LÊ  
Trịnh Duy Tuân1  
Tóm tắt: Bia ký thời Hậu Lê đến nay nằm rải rác trong các địa phương ở Thanh Hóa  
với số lượng tương đối, tập trung chủ yếu ở vùng Lam Sơn và phổ biến là bia ký liên quan đến  
các vua và hoàng tộc. Tuy nhiên, mặc dù các bia ghi chép về công nghiệp một số tướng lĩnh,  
quan lại của thời kỳ này còn khá khiêm tốn nhưng tính giá trị về tư liệu lịch sử cũng như cuộc  
đời của nhân vật giúp cho chúng ta có thêm những thông tin bổ ích để hình dung rõ hơn về  
đời sống chính trị - xã hội gắn với một thời kỳ lịch sử; và tấm bia về Trịnh Quý Tốn mới vừa  
được phát hiện thời gian gần đây cho phép ta sáng tỏ thêm về gia thế của một gia tộc công  
thần khai quốc.  
Từ khóa: Khảo cứu; bia ký; Trịnh Quý Tốn; thời Hậu Lê  
1. Vài vấn đề về văn bia thời Hậu Lê ở Thanh Hóa  
Trong số các loại hình di vật văn hóa thì bia ký là một loại hình khá độc đáo. Đây là một  
loại hình ghi văn tự dưới dạng chữ viết được khắc chạm trên đá. Bởi tính chất bền vững của  
vật liệu cũng như mục đích ghi chép tư liệu mà cho đến ngày nay văn bia đã trở thành những  
nguồn sử liệu đáng giá, có tác dụng bổ khuyến thông tin cho sử học rất cao. Trong những năm  
gần đây, văn bia Việt Nam nói chung và văn bia ở Thanh Hóa cũng đã được giới khoa học xã  
hội trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, khai thác ở nhiều lĩnh vực nhằm cung cấp  
những thông tin bổ ích còn tiềm ẩn trong kho tư liệu quý giá này.  
Cho đến nay, Thanh Hóa là một trong số ít những địa phương trong nước còn lại hệ  
thống văn bia với số lượng lớn và có sự đa dạng về thể loại cũng như phong phú về mặt nội  
dung. Từ những bia đá được giới sử học công nhận vào dạng sớm nhất Việt Nam như “Đại  
Tùy Cửu Chân quận Bảo An Đạo tràng chi bi văn” có niên đại vào thế kỷ thứ VII tại Đồng  
Pho (làng Trường Xuân, xã Đông Ninh, Đông Sơn)2 ở thời kỳ Bắc Thuộc; các bia Ma-Nhai  
khắc trên vách động, hang đá ở thời Lý- Trần cho đến các bia thời Lê Sơ được xếp vào hàng  
chuẩn mực về phong cách nghệ thuật tạo tác bia ký truyền thống như “Lam Sơn Vĩnh Lăng bi”  
ở Lam Sơn và đặc biệt là khá nhiều bia ký ghi chép về công nghiệp các vị tướng lĩnh, công  
thần người Thanh Hóa rất phổ biến dưới thời Hậu Lê.  
Ở Thanh Hóa có nhiều đá quý trong tự nhiên như núi Nhồi và nhiều núi khác nên việc  
tạo tác bia ký hết sức thuận lợi. Theo các tư liệu lịch sử ghi lại thì An Hoạch Sơn (núi Nhồi)  
được cho là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu đá và những thợ đục đá vô cùng tài hoa trong  
lịch sử phục vụ việc xây dựng, tạo tác các vật liệu trên chất liệu đá cho nhiều công trình xây  
dựng dưới các triều đại phong kiến ở Việt Nam. Ngoài ra, vị thế lịch sử của vùng đất xứ  
Thanh cũng là một tác nhân quan trọng làm cho số lượng bia ký về công thần, tướng lĩnh,  
1 Nguyên giáo viên Trường THPT Đông Sơn 1 Thanh Hóa  
2 Lê Văn Tạo - Nguyễn Văn Hải (2008), Những bia ký điển hình ở Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, tr 9  
106  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
nhân vật lịch sử gắn với nơi thờ tự, các địa điểm ghi dấu sự kiện lịch sử ở Thanh Hóa còn lại  
khá nhiều. Như đã biết, từ sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn và sự ra đời của triều Lê Sơ  
đã hình thành nên một lực lượng lớn các tướng lĩnh, quý tộc, quan lại người địa phương  
Thanh Hóa có thế lực và sự ảnh hưởng tới triều đình Thăng Long. Tình trạng này càng trở nên  
phổ biến hơn dưới thời kỳ Trịnh - Mạc, Trịnh - Nguyễn sau này. Một khi địa vị xã hội của các  
quan lại, quý tộc xứ Thanh được củng cố thì việc dựng đền, lập bia các nhân vật này lại càng  
được thúc đẩy trên quê hương bản quán trong xu thế một xã hội rất mực tôn sùng nho giáo và  
đề cao việc thờ cúng tổ tiên.  
Về mặt nghệ thuật, phần lớn các bia ký trong thời kỳ này đã đạt trình độ cao về chuẩn  
mực từ bố cục vươn tới tính cân đối, hài hòa; sự tinh xảo về kỹ thuật tạo tác. Tổng thể bia cho  
thấy sự to lớn về quy mô so với các thời kỳ trước, có nhiều sáng tạo trong bố cục trang trí với  
sự đồng nhất trong thể hiện nội dung hàm súc, triết lý sâu xa, xứng đáng đại diện cho phong  
cách chuẩn mực của văn bia Việt Nam thế kỷ XV - XVI3. Nếu như các bia ký thời Lý - Trần  
mà chúng ta biết đến hiện nay thường gắn với chùa, thì thời kỳ này ngoài các bia ở chùa, xuất  
hiện nhiều bia ký ở lăng mộ của vua và quý tộc, quan lại. Thế kỷ XV - XVI, ở Thanh Hóa nổi  
bật là các bia ký gắn với quần thể lăng mộ Lam Kinh, đặc trưng bố cục là mạch nối tiếp dòng  
bia truyền thống Việt Nam, tạo hình thường chia làm 3 phần, gồm: trán, thân và đế bia và ở  
mỗi bộ phận trên thường tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử- xã hội và quan niệm của mỗi thời  
mà có những đồ án trang trí khác nhau thể hiện các quan điểm tư tưởng, nhân sinh quan4.  
Sách Tuyển tập Văn bia Thanh Hóa, tập 2, xuất bản năm 2013 đã đề cập toàn diện 48 đơn vị  
văn bia thời Lê Sơ, đây là những thác bản vô cùng quý giá còn lại trong hệ thống bia ký thời  
kỳ Lê Sơ. Rất tiếc là văn bia ghi chép về nhân vật Trịnh Quý Tốn có niên đại Cảnh Thống  
1502 được đề cập trong bài viết này là một văn bia mới vừa được phát hiện cho nên sách chưa  
có điều kiện để cập nhật. Mong rằng, trong một tương lai không xa, bia Trịnh Quý Tốn và  
nhiều bia khác có niên đại Lê Sơ được phát hiện trong dân gian sẽ được bổ sung, khảo cứu và  
hiệu đính để độc giả có được cái nhìn phong phú, đa dạng hơn về nhân vật cũng như nội dung  
và nghệ thuật tạo tác các bia ký thuộc thời kỳ này.  
2. Nội dung cơ bản về văn bia Trịnh Quý Tốn vừa đƣợc phát hiện  
2.1. Quá trình phát hiện  
Đầu năm 2020, một gia đình nông dân ở xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, trong lúc san ủi  
đất để làm vườn, đã phát hiện 1 hộp đá gồm 2 phiến được gắn liền với nhau ở độ sâu khoảng  
1m. Kích thước: dài 0,8m, rộng 0,5m, dày 0,15m. Gỡ ra thì mới biết đây là hộp bia mộ vốn  
được chôn sâu dưới lòng đất chứ không để lộ thiên như các tấm bia mộ thường thấy. Loại bia  
này không nhiều, niên đại thời Lê Sơ, ở Thanh Hóa có thể chỉ đếm trên đầu ngón tay.  
Vì hai phiến đá được gắn với nhau bằng một loại chất kết dính đặc biệt nên nước không  
vào được. Viền xung quanh nắp bia khoảng 3cm lồi lên, viền xung quanh mặt bia cũng  
khoảng 3cm lõm xuống để khi ghép lại, thành 1 khối không thể xê dịch. Vì vậy, chữ Hán  
trong hai mặt của hai phiến đá (tức nắp bia và mặt bia) vẫn còn nguyên vẹn (xem ảnh).  
3 Lê Văn Tạo, Nguyễn Văn Hải (2008), Những bia ký điển hình ở Thanh Hóa, NXB Thanh Hóa, tr 15.  
4 Tuyển tập văn bia Thanh Hóa, tập 2, Văn bia Lê sơ, NXB Thanh Hóa, 2013, tr 795.  
107  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Nắp bia  
Mặt bia  
Cả nắp và mặt bia không có hoa văn trang trí. Trên nắp bia khắc 19 chữ Hán với chiều  
cao mỗi chữ khoảng 4cm: “Đại Việt tặng Tả Đô đốc, Hoa Lâm hầu, Trụ quốc thụy Trang Mục  
Trịnh phủ quân mộ chí”. Mặt bia có 20 hàng dọc chữ Hán với khoảng trên dưới 500 chữ loại  
nhỏ. Ở đây, chỉ xin phiên âm ra tiếng Việt trong mặt bia.  
2.2. Nội dung văn bia  
* Phiên âm chữ Hán:  
Đại Việt quốc. Tặng đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tả Đô đốc Hoa Lâm hầu,  
trụ quốc, thụy Trang Mục Trịnh công mộ chí minh tinh tự cổ giả chi chế phong bi sở dĩ kỉ  
huân phiệt thùy hậu thế dã.  
Kim Đại Việt Hoa Lâm hầu tính Trịnh, húy Tốn, tự Kính Chỉ, Thanh Hoa, Vĩnh Ninh  
huyện nhân. Khảo húy Khả, tá Thái Tổ thành đại công tặng Thái úy Liệt quận công. Đích mẫu  
Giả thị, phong Liệt quận phu nhân, sinh mẫu Phạm Thị phong Hoa Lâm tự phu nhân chi.  
Công sinh đương Quý Hợi niên, cửu nguyệt, nhị thập nhất nhật. Ấu nhi hiếu học, cập  
trưởng tự ấm vi đại phu.  
Quang Thuận niên gian, trừ Minh Uy tướng quân chinh Bồn Man hữu công.  
Hồng Đức niên gian, trừ Sùng Nghĩa tướng quân, chinh Chiêm Thành cầm hải tặc,  
thăng Minh Dực tướng quân. Cập tây chinh hữu lặc cán công thăng Anh Liệt tướng quân vị ki  
triều thần bảo vi Thanh Hoa Đô tổng binh sứ, tái điều Thái Nguyên tầm thụ sùng tiến Tuyên  
Lộc đại phu, Binh bộ Thượng thư.  
Cảnh Thống nhị niên vinh thăng đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Bắc quân Đô  
đốc phủ, Tả Đô đốc Hoa Lâm bá trụ quốc ban. Chí Nhâm Tuất niên, ngũ nguyệt, sơ tam nhật  
Giáp Tuất hốt kỉ cáo hoăng.  
Công tính trung hiếu, liêm cẩn, khiêm tĩnh, hữu tướng sư tài đa mưu lược.  
108  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Hoàng đế thống tích vi chi xuyết triều, tứ điếu úy, tiền, mệnh quan dụ tế tặng Đặc tiến  
Phụ quốc Thượng tướng quân, Tả Đô đốc Hoa Lâm hầu trụ quốc, thụy Trang Mục. Tứ táng lễ  
binh, phu thuyền sưu cụ bị như nghi dĩ. Bản niên, cửu nguyệt, sơ thất nhật quy táng vu Vĩnh  
Ninh, Kim Tử hương, Phượng Dực sơn.  
Phu nhân Lê Thị Tặng, Thái phó Tĩnh quận công chi đệ bát nữ. Sinh trưởng nữ Thục  
thích tiền triều liệt đại phu Lê Đạo Dịch, thứ nữ Uyển thích giản lĩnh cố Nguyễn Văn Chinh,  
tứ nữ Thuận đích gia hành đại phu Dụ ân sứ cố Lê Kính Thân, quý nữ Thiện giá nam Vĩnh  
Trinh tòng chính thượng ấu. Thượng Hữu đệ ngũ nữ Nhuận phu tế phụng trực đại phu nhân  
sùng ân sứ Trịnh Lý chủ tang sự tựu thỉnh chí minh dĩ kí kì sự triếp thuật huân phiệt quan  
tước như tiền vân. Minh viết:  
Bán thiên khải thánh  
Nhất nhung kì định  
Duy liệt quận công  
Thời cần tá mệnh  
Cường cải văn phong  
Đĩnh thân thuyên phục  
Hoàng đế tân chính  
Vưu giản tại tâm  
Du âm tức giáng  
Tam bành tác nghiệt  
Nhất lão bất di  
Dạ đài phủ nhĩ  
Căn thâm diệp mậu  
Nguyên tuấn lưu hồng  
Công thừa phi ấm  
Vị long đốc phủ  
Quy tâm như phi  
Đột nhĩ quy trật  
Kiêu hô li thủ  
Tước xỉ Hoa Lâm  
Niệm đốc khiêm vi  
Giới thâm lí mãn  
Huân nghiệp ích long  
Nội túc chu lư  
Lặc thạc thùy hồng  
Thiên trường địa cửu  
Thỉnh thích binh quyền  
Ngoại chuyên trang phục  
Đại Việt, Cảnh Thống ngũ niên, tuế thứ Nhâm Tuất, thập nguyệt, nhất nhật. Tứ Quý Mùi  
khoa tiến sĩ Đạt Tín đại phu tu thiện thiếu doãn Quốc tử giám Tư nghiệp Hoàng Bồi soạn.  
* Dịch nghĩa:  
MỘ CHÍ TẢ ĐÔ ĐỐC HOA LÂM HẦU  
THỤY TRANG MỤC TRỊNH PHỦ QUÂN  
Nước Đại Việt.  
Văn bia mộ chí cụ họ Trịnh, thụy Trang Mục được đặc tiến phong tặng Phụ quốc  
Thượng tướng quân, Tả Đô đốc, Hoa Lâm hầu, trụ quốc. Theo chế phong từ đời xưa lập bia  
để ghi chép công trạng lưu truyền hậu thế.  
Hoa Lâm hầu họ Trịnh, tên là Tốn, tên chữ Kính Chỉ, người huyện Vĩnh Ninh, Thanh  
Hoa5. Cha tên là Khả6, phò tá Lê Thái Tổ hoàn thành nghiệp lớn nên được tặng Thái úy Liệt  
quận công. Mẹ cả họ Giả được phong Liệt quận phu nhân. Mẹ đẻ là Phạm Thị. Cụ sinh ngày  
21 tháng 9 năm Quý Hợi7. Lúc nhỏ rất hiếu học, khi lớn lên, được ấm phong làm đại phu.  
Vào niên hiệu Quang Thuận8, được phong làm Minh Uy tướng quân, đi chinh phạt quân  
5 Là tỉnh Thanh Hóa ngày nay  
6 Tức cụ Trịnh Khả, là một danh tướng của khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo  
7 Năm 1443  
8
Vua Lê Thánh Tông trị vì với hai niên hiệu: niên hiệu Quang Thuận từ năm 1460 đến 1469, niên hiệu Hồng  
Đức từ năm 1470 - 1497  
109  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Bồn Man9 lập được chiến công.  
Trong niên hiệu Hồng Đức, được phong làm Sùng Nghĩa tướng quân, đem quân đi  
chinh phạt Chiêm Thành, bắt được hải tặc, được thăng Minh Dực tướng quân. Cùng với việc  
đánh giặc phía Tây được thăng Anh Liệt tướng quân, làm Đô Tổng binh Thanh Hoa. Lại được  
điều lên Thái Nguyên, được trao tặng Sùng tiến Tuyên Lộc đại phu, chức Thượng thư bộ  
Binh. Năm Cảnh Thống thứ 210 được vinh dự thăng đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân,  
Bắc quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc Hoa Lâm bá, Trụ quốc.  
Ngày mùng 3 (ngày Giáp Tuất) tháng 5 năm Nhâm Tuất11, ông mất đột ngột.  
Tính ông trung hiếu, liêm khiết, cẩn thận, khiêm nhường, là vị tướng soái lắm tài mưu lược.  
Hoàng đế vô cùng thương tiếc, cho nghỉ triều, ban cho bài điếu, tiền bạc để an ủi; lệnh  
cho mệnh quan vâng dụ tế, tặng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tả Đô đốc, Hoa Lâm  
hầu, Trụ quốc; ban tên thụy làTrang Mục. Được táng theo nghi lễ nhà binh; được cấp thuyền  
bè và đủ mọi thứ đồ lễ.  
Ngày mùng 7 tháng 9 cùng năm đưa về táng tại núi Phượng Dực, làng Kim Tử, huyện  
Vĩnh Ninh12.  
Phu nhân Lê Thị Tặng là con gái thứ 8 của Thái Tĩnh quận công. Trưởng nữ là Thục,  
làm vợ quan cùng triều là Đại phu Lê Đạo Dịch; người con gái thứ tên Uyên lấy Giản lĩnh cố  
Nguyễn Văn Chinh; người con gái thứ tư tên Thuận lấy Dụ ân sứ Lê Kính Thân; người con  
gái út tên Thiện, lấy chồng người Vĩnh Trinh tham chính từ khi còn nhỏ. Trên đó còn có  
người con gái thứ năm tên là Nhuận, chồng là Phụng Trực đại phu Sùng ân sứ Trịnh Lý làm  
chủ tang, xin làm bài minh để ghi chép, thuật lại công lao, quan tước to lớn trước đây. Bài  
minh như sau:  
Cả đời phò vua  
Ngôi cao đô đốc  
Đẹp tước Hoa Lâm  
Dốc hết sức mình  
Trải nhiều năm tháng  
Binh quyền xin cáo  
Chiếu lệnh vua ban.  
Bệnh tật tác quái  
Mãi mãi ông đi  
Cõi âm đành vậy  
Quy nhanh như phi.  
Ông về cõi ấy  
Tựa rồng vụt bay.  
Khắc bia để lại  
Binh nghiệp đến cùng  
Là ngài quận công  
Cần mẫn giúp nước.  
Rễ dày lá tốt  
Dòng cả nguồn sâu  
Tập ấm phúc nhà  
Vinh quang đầy đủ.  
Giữ yên gia thất,  
Việc nước tôn nghiêm,  
Đổi thay mạnh mẽ  
Phủ phục cúi lạy  
Hoàng đế chấp chính  
Ông bộc bạch lòng:  
Lưu đất trời này.  
9 Bồn Man là một quốc gia cổ từng tồn tại ở khu vực tỉnh Xiêng Khoảng, một phần các tỉnh Hủa Phăn đến Khăm  
Muộn, ở phía Đông nước Lào, và một phần phía Tây các tỉnh miền Bắc Trung bộ Việt Nam (khoảng Nghệ  
An đến Quảng Bình). Ngày nay thuộc lãnh thổ Lào.  
10 Cảnh Thống là niên hiệu của vua Lê Hiến Tông. Cảnh Thống nhị niên là năm 1496.  
11 Tức năm 1502.  
12 Nay thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.  
110  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Nước Đại Việt, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5, ngày 01 tháng 10 năm Nhâm Tuất, Tiến sĩ  
khoa Quý Mùi, Đạt Tín Đại phu Tu thiện Thiếu doãn, Quốc tử giám Tư nghiệp Hoàng Bồi14 soạn.  
3. Một vài nhận xét bƣớc đầu  
Từ bước đầu tiếp cận nội dung và nghệ thuật văn bia ghi chép về Trịnh Quý Tốn, một  
nhân vật lịch sử của thời Hậu Lê vừa được phát hiện tại Thanh Hóa, có thể nhận xét một số  
điểm căn bản sau:  
- Văn bia Lê Sơ có đặc điểm dễ nhận thấy vẫn là phổ biến hình thức bia mộ là chủ yếu,  
như đã thấy tại Lam Kinh. Tuy nhiên, khác với giai đoạn đầu, các bia chủ yếu gắn với vua và  
hoàng tộc nhà Lê, càng về cuối TK XV đến đầu TK XVI, các bia mộ của các công thần, quan  
lại, nhân vật lịch sử là trọng quan của triều đình Thăng Long mới được cho phép rộng rãi hơn,  
chí ít là sau thời Lê Thánh Tông.  
- Văn bia chép về công nghiệp Trịnh Quý Tốn, một người con của vị Khai quốc công  
thần Trịnh Khả, người đã theo Lê Lợi làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Điều  
đó cho thấy ảnh hưởng của các nhân vật lịch sử trong giai đoạn đầu thời kỳ Lê Sơ lên nền  
chính trị của đất nước còn khá lớn với những gia tộc nối đời cha, con, cháu tham gia chính sự  
và nhận được sự tín nhiệm của hoàng gia. Có một chi tiết khá thú vị là dòng họ Trịnh Khả là  
một trong số ít gia tộc công thần khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa còn lại bia ký ghi chép  
đầy đủ về cha con ông gồm bia “Đại Nam quốc Thái úy từ đường bi minh” (xã Vĩnh Hòa,  
huyện Vĩnh Lộc - 1447 đời Lê Nhân Tông), bia “Tặng thư quận công Trịnh công chi bi” đời  
Hồng Đức 28 (1487) về con trai Trịnh Công Đán ở xã Định Hải, huyện Yên Định và bia: “Mộ  
chí Tả Đô đốc Hoa Lâm hầu Thụy Trang Mục Trịnh phủ quân” (1502) về nhân vật Trịnh Quý  
Tốn ở xã Hà Sơn, huyện Hà Trung. Có lẽ đây là một trường hợp khá hiếm hoi về một gia tộc  
công thần có được những thông tin ghi chép quý giá về nhân vật và thông tin lịch sử còn lại ở  
Thanh Hóa đến tận ngày nay. Đây là những cứ liệu quan trọng cho ta hiểu biết thêm các thông  
tin về lịch sử - xã hội thời Lê Sơ.  
- Tấm bia hộp vừa được phát hiện tại xã Hà Sơn, huyện Hà Trung cho ta sáng tỏ thêm  
về cuộc đời và sự nghiệp của một vị quan lại trọng yếu dưới triều Lê Sơ. Ông đã cống hiến  
gần như cả cuộc đời bên cạnh một trong những vị vua nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử phong  
kiến nước ta - vua Lê Thánh Tông. Theo gia phả Hán văn dòng họ Trịnh Khả còn lại tại Cự  
Đà (Hà Nội), cụ Trịnh Khả có 13 người con trai, cụ Trịnh Quý Tốn là người thứ 9. Gia phả  
chỉ chép một hai dòng về chức tước của cụ Tốn. Bài văn bia cho ta biết khá nhiều chi tiết về  
cụ Tốn, có thể giúp hậu duệ cụ Trịnh Khả bổ sung thêm một số nội dung mới và quý giá này.  
Nói về những người con của Trịnh Khả, vua Lê Thánh Tông từng ngợi ca trong bài “Quân  
minh thần lương” (Vua sáng tôi hiền): “Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển” (nghĩa là: Mười  
anh em họ Trịnh đều vẻ vang phú quý). Mười anh em họ Trịnh ở đây là 10 người con của cụ  
Trịnh Khả và Trịnh Quý Tốn là người con thứ 9 trong số 10 người đó.  
14  
Hoàng Bồi (1437-?) người xã Cam Giá Hạ, huyện Phúc Lộc (nay thuộc xã Cam Thượng, huyện Ba Vì, Hà  
Nội). Ông đỗ tiến sĩ năm 1463 và làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám.  
111  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
- Bia Trịnh Quý Tốn có thể được xem là một trong ít các bia thuộc dạng khối hộp vốn  
xuất hiện khá ít ở Thanh Hóa như: Đại Việt Thái Bảo Bình Lạc hầu mộ chí (1484) ở xã Xuân  
Thắng, huyện Thọ Xuân; Trùng tu Xuân Đài sơn Hồ Công động Du Anh tự bi ở chùa Du Anh,  
huyện Vĩnh Lộc; Bảo điền Am tự (1681) ở huyện Triệu Sơn; Bia Tạ Tôn Đài (1683) ở huyện  
Hậu Lộc; bia Trịnh Thị Ngọc Lung (1688) ở xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân và bia Phúc Thần  
bi ký (1779) ở xã Ngọc Lĩnh, huyện Tĩnh Gia...  
Sự tạo tác khá đặc biệt của tấm bia và công trạng của dòng họ Trịnh nói chung cũng như  
nhân vật Trịnh Quý Tốn nói riêng, hy vọng sau này sẽ nhận được sự khảo cứu và đánh giá kỹ  
lưỡng hơn của giới sử học trong và ngoài tỉnh.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (2002), Lịch sử Thanh Hóa, tập 3,  
NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.  
[2]. Ban Nghiên cứu và Biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1998), “Thanh Hóa thời Lê”, Kỷ  
yếu hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 500 năm ngày mất Lê Thánh Tông 1497- 1997.  
[3]. Lê Ngọc Tạo (2001), Các chính sách về xã hội của nhà nước thời Lê sơ (1428 -  
1527), Luận án Tiến sĩ, Viện Sử học.  
[4]. Lê Văn Tạo, Nguyễn Văn Hải (2008), Những bia ký điển hình ở Thanh Hóa, NXB  
Thanh Hóa.  
[5]. Tuyển tập văn bia Thanh Hóa (2013), tập 2, Văn bia Lê sơ, NXB Thanh Hóa.  
cuu-tu-tuong-chinh-tri-xa-hoi-nuoc-ta-thoi-phong-kien.  
A STUDY ON THE INSCRIPTION WRITTEN ABOUT TRINH QUY  
TON UNDER THE LATE LE DYNASTY  
Trinh Duy Tuan  
Abstract: A sizable number of inscriptions under the late Le Dynasty, many of which  
related to kings and royal families, are scattered among different areas in Thanh Hoa, mainly  
in Lam Son so far. Information about mandarins and royal families under the later Le  
Dynasty is not recorded much. However, inscriptions provide us with historical documents  
and the life of famous historical figures, from which we have a better understanding of the  
socio-political life in a historical period. The newly - discovered inscription written about  
Trinh Quy Ton helps us to have a better understanding of a royal family.  
Key words: the later Le Dynasty; study; the inscription written about Trinh Quy Ton  
Người phản biện: TS. Hà Đình Hùng (ngày nhận bài 28/5/2020; ngày gửi phản biện 22/8/2020  
ngày duyệt đăng 06/11/2020).  
112  
pdf 7 trang yennguyen 12360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu khảo cứu tấm bia ghi chép về nhân vật Trịnh Quý Tốn thời Hậu Lê", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_khao_cuu_tam_bia_ghi_chep_ve_nhan_vat_trinh_quy_ton.pdf