Bộ Khót và uy lực của Bố Mo người Mường

104  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
VŨ HỒNG NHI*  
BỘ KHÓT VÀ UY LỰC CỦA BỐ MO NGƯỜI MƯỜNG  
Tóm tắt: Ở người Mường, người chuyên đi hành lễ đám ma  
được gọi là bố Mo. Theo quan niệm của người Mường, bố Mo  
có khả năng đặc biệt - có thể giao tiếp với người đã chết. Để  
hành lễ, bố Mo phải có bộ Khót. Bộ Khót là những vật thiêng,  
chứa siêu lực do Trời ban tặng và được truyền từ đời này sang  
đời khác. Mỗi viên Khót đều có sức mạnh và ý nghĩa nhất định,  
trợ giúp cho bố Mo ngăn chặn, xua đuổi ma quỷ không cho làm  
hại con người. Người Mường có câu “quý như Khót” để nói  
không có gì so sánh được với Khót. Mỗi bố Mo có bộ Khót với  
số lượng khác nhau. Bố Mo có nhiều Khót thì siêu lực trừ tà, át  
ma càng lớn và càng có uy tín. Trong bài viết này, tác giả đề  
cập đến vai trò, giá trị của bộ Khót và bố Mo trong đời sống văn  
hóa tinh thần của người Mường.  
Từ khóa: Khót; bố Mo; người Mường; vía.  
1. Khái quát về người Mường ở Tân Lạc, Hòa Bình  
Dân tộc Mường có dân số khá đông (1.268.963 người)1, đứng thứ  
ba trong 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Hiện nay, họ có mặt ở hầu  
hết 63 tỉnh thành trong cả nước nhưng đông nhất là ở Hòa Bình, với  
hơn 500 nghìn người, chiếm 90% dân số tỉnh.  
Tại Hòa Bình, người Mường định cư thành làng xóm ở chân núi,  
bên sườn đồi, gần sông suối. Khu vực nổi tiếng là trù phú và đông dân  
hơn cả là bốn mường, xếp theo thứ tự: Nhất Bi (huyện Tân Lạc), nhì  
Vang (huyện Lạc Sơn), tam Thàng (huyện Cao Phong) tứ Động  
(huyện Kim Bôi).  
Địa bàn chúng tôi chọn nghiên cứu là xóm Lầm, xã Phong Phú,  
huyện Tân Lạc, xưa gọi là Mường Bi, nơi được coi là cái nôi, là trung  
* Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.  
Ngày nhận bài: 6/3/2019; Ngày biên tập: 12/3/2019; Duyệt đăng: 22/3/2019.  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
105  
tâm văn hóa của người Mường, cũng là nơi còn lưu giữ được nhiều  
nghi lễ truyền thống trong đời sống văn hóa tinh thần của người  
Mường. Theo truyền thuyết, Mường Bi chính là nơi người Mường  
được sinh ra. Xa xưa, khi con người chưa xuất hiện, Trời làm hạn hán  
khiến cây khô mà chết, sau đó Trời lại mưa to khiến đất lở, đá lăn tạo  
thành các vùng cao thấp khác nhau. Từ dưới đất, mọc lên một cây Pi  
(tiếng Việt gọi là gây Si). Cây Pi lớn nhanh, thân cao, to với nhiều  
cành lá sum xuê. Từ gốc cây Pi đẻ ra một đôi chim Ây - Ứa (chim Ây  
là đực, chim Ứa là cái). Đôi chim bay lên cành cây làm tổ rồi đẻ trứng.  
Trứng chim nở ra con người, đó là người Mường. Nhớ ơn cây si,  
người Mường đã đặt cho tên cho vùng đất này là Mường Pi, về sau gọi  
chệch đi là Mường Bi (lời kể của bố Mo Bùi Văn, sinh năm 1953,  
xóm Lầm, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình).  
Thời Pháp thuộc, Mường Bi chia thành 7 xã thuộc huyện Lạc Sơn  
cũ; xã Phong Phú là trung tâm của Mường Bi, trong đó Mường Lầm,  
Mường Ải là nơi ở của Lang Cun có thế lực nhất mường. Có chợ Lồ  
họp vào thứ năm hàng tuần, là một chợ lớn thu hút dân chúng nhiều  
vùng đến mua bán, trao đổi hàng hóa.  
Ngày 15 tháng 10 năm 1957 theo quyết định của Thủ tướng Chính  
phủ, huyện Tân Lạc được thành lập trên cơ sở tách ra từ huyện Lạc  
Sơn cũ với 23 xã. Trong đó, xã Phong Phú, thuộc vùng thấp, là khu  
vực có đất đai màu mỡ, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hòa Bình, cách  
trung tâm huyện Tân Lạc 6km về phía Bắc. Dân số toàn xã theo báo  
cáo dân số năm 2013 có 4.456 nhân khẩu, chia thành 1.030 hộ, trong  
đó dân tộc Mường chiếm 80%, Kinh 15%, 5% là các dân tộc Thái,  
Nùng, Dao phân bố ở 8 xóm: xóm Lầm, xóm Ải, xóm Lồ, xóm Đóng,  
xóm Mận, xóm Lý, xóm Lũy, xóm Trọng và một khu phố (dân cư dọc  
quốc lộ 6B, chủ yếu là dân tộc Kinh).  
Thiết chế xóm, mường  
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã hội truyền thống  
Mường là xã hội có đẳng cấp. Tầng lớp quý tộc có các họ Đinh,  
Quách, Bạch, Hà gọi là lang, là tầng lớp giàu sang, có thế lực và được  
thế tập, còn lại là tầng lớp bình dân, là những người lao động nghèo  
khổ và bị áp bức bóc lột nặng nề gọi là dân, đa số đều mang họ Bùi.  
106  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
Ở miền Bắc sau năm 1954, chế độ nhà lang tan rã. Người nông dân  
có ruộng đất, tự do làm ăn, sinh sống và bình đẳng về mọi mặt. Tổ  
chức xã hội theo cơ cấu làng, xã, huyện, tỉnh. Xã Phong Phú được  
chia thành 8 xóm và một khu phố (cư dân sống dọc theo quốc lộ 6B).  
Đứng đầu mỗi xóm có trưởng xóm, chịu sự quản lý của các cơ quan  
cấp xã. Song bên cạnh việc quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà  
nước, ở một mức độ nhất định, vai trò của tập quán pháp vẫn còn tác  
động ít nhiều trong xã hội Mường hiện nay.  
Tín ngưỡng, tôn giáo  
Cũng giống như người Việt, ngoài việc thờ thổ công, thổ địa và  
thành hoàng làng, người Mường ở xã Phong Phú còn tin vào thuyết  
Hồn linh giáo và thờ cúng các linh hồn. Chính vì vậy, họ thờ các vị  
thần sông, thờ núi, thờ cây, thờ quả, thờ động vật, v.v… Là cư dân  
nông nghiệp nên người Mường có nhiều nghi lễ gắn với hoạt động  
nông nghiệp truyền thống, như: tục thờ cây lúa (vía lúa), nghi lễ cày  
bừa, nghi lễ gieo mạ, mừng lúa mới, v.v…  
Người Mường rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên. Người Mường ở  
xã Phong Phú quan niệm, tổ tiên không chỉ là họ nội mà bao gồm cả  
họ ngoại. Mỗi khi làm công việc lớn, như: xây nhà mới, sửa nhà, tổ  
chức lễ xuống đồng (khai hạ), lễ tết… họ thường tổ chức cúng tổ tiên  
rất tôn nghiêm, long trọng. Trong đời sống của người Mường nơi đây  
chưa thấy sự xuất hiện rộng rãi của các tôn giáo, như: Phật giáo, Công  
giáo hay đạo Tin Lành.  
2. Quan niệm của người Mường về vũ trụ và con người  
Thế giới quan cổ truyền của người Mường có bốn phương trời, 12  
phương đất ứng với 12 con vật và vũ trụ có 3 tầng với 5 thế giới như sau:  
1) Tầng trên Trời là nơi ở của vua trời, các vị thần linh, sấm sét,  
sao trời và người trời… Đây là thế giới ảo, siêu hình.  
2) Tầng mặt đất là trung tâm, tầng này có 3 thế giới đó là: i) Thế  
giới người sống còn được gọi là mường Sáng, mường Lương gian hay  
mường người sống; ii) Thế giới người chết là thế giới nửa thực, nửa  
ảo và là phiên bản của dương gian mà người Mường gọi là mường  
Tối, mường Ma hay mường Chạ Đống; iii) Thế giới dưới nước là  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
107  
mường Thủy phủ còn được gọi là mường Vua Khú, là thủy phủ của  
các loài thủy sinh, được người Mường linh thiêng và ma quỷ hóa, như:  
rắn, rùa, cá sấu, v.v…  
3) Tầng ở sâu dưới mặt đất là thế giới của người tí hon, gọi là  
mường Pưa Tín hay mường Me Te Te ống Khút.  
Theo quan niệm của người Mường, những gì là vật chất cũng có  
hai phần, đó là vật thể là phần nhìn thấy được và tinh thần là phần  
không nhìn thấy. Ở con người, phần nhìn thấy là thể xác và không  
nhìn thấy là vía, tiếng Mường gọi là woài, đó cũng được gọi là hồn.  
Khi chết, hồn người thành ma, theo thi hài đi về mường Tối, tiếp tục  
sống ở thế giới này và họ cũng lao động sản xuất, làm ăn và có nhiệm  
vụ phù hộ cho con cháu ở thế giới người sống thuộc mường Sáng.  
Do quan niệm này nên ứng xử của người Mường trong các nghi lễ  
tang ma rất giàu ý nghĩa nhân văn, đặc biệt là việc sử dụng bộ Khót  
của bố Mo để đưa tiễn người chết về thế giới bên kia trong đám tang  
và trong nghi lễ cầu sức khỏe cho người ốm yếu.  
Với người Mường, tang lễ là để lập lại sự cân bằng vốn có và  
tránh cho người sống gặp phải những rủi ro có thể đến từ cõi âm.  
Đám ma được tổ chức cho những người chết từ 13 tuổi trở lên. Tử  
thi được đặt nằm trong quan tài độc mộc có phủ vải Mường và quàn  
bên dưới giàn y phục do họ hàng dâng cho người đó. Trước kia, thời  
gian quàn trong nhà có thể kéo dài tới 12 ngày đêm, nay thường là 2  
ngày 1 đêm. Con trai và con gái người chết mặc tang phục màu  
trắng, còn con dâu mặc tang phục màu đỏ, luôn sẵn sàng “phục dịch”  
cha hay mẹ vừa qua đời. Con cháu cúng người chết bằng mổ gà, vịt,  
lợn, thậm chí là trâu, bò để cúng, để ăn và cũng để giao cho người  
chết nuôi nấng để có của cải tài sản. Có như vậy, những người sống  
là họ hàng thân thích của người chết mới có cuộc sống yên bình,  
sung túc. Trong tang lễ, bố Mo đóng vai trò rất quan trọng bởi ông  
giao tiếp được với thần linh và người đã chết, chỉ ông mới có thể an  
ủi, vỗ về và đưa người chết về thế giới bên kia, đồng thời ông cũng  
là chỗ dựa tinh thần cho người sống, động viên và giúp họ làm tốt  
các thủ tục để đưa người chết về với tổ tiên.  
108  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
3. Thầy Mo và bố Mo người Mường  
3.1. Thầy Mo  
Ở người Mường, những người thầy cúng được gọi chung là thầy  
Mo (tiếng Mường từ Mo nghĩa là cúng bái). Tuy nhiên, trong thế giới  
thầy cúng của người Mường ở xóm Lầm nói riêng và huyện Tân Lạc  
nói chung lại phân thành ba nhánh thầy cúng, xếp theo cấp độ uy lực  
từ thấp đến cao là Mỡi, Trượng và Mo.  
Mỡi là người chuyên cúng để đoán (bói) bệnh và chữa bệnh cho  
người ốm. Những người làm Mỡi thường có am, miếu ở nhà. Nam hay  
nữ giới người Mường nếu biết cúng đều có thể trở thành Mỡi, chính vì  
vậy nhiều người cho rằng, Mỡi giống như ông đồng, bà cốt của người  
Việt, chuyên cúng để chữa bệnh cho người sống.  
Trượng (tiếng Mường là tlượng hay klượng) là người vừa cúng vừa  
chữa bệnh. Trượng phải là nam giới, là người am hiểu các phong tục  
tập quán, có thể cúng cho tất cả các nghi lễ của người sống, như: cầu  
phúc, giải hạn, mát nhà… Về cơ bản, Trượng có thể truyền tải mong  
muốn của người sống tới các vị thần linh, cầu mong thần linh phù hộ  
cho người sống được bình an, khỏe mạnh, có tài, có lộc, v.v…  
Mo là thầy cúng có thể điều hành được tất cả các nghi lễ của người  
sống cũng như người chết. Để trở thành thầy Mo, theo tiêu chí của  
người Mường ở Phong Phú, trước tiên, người đó phải là nam giới, từ  
16 tuổi trở lên. Bởi nữ giới không nhanh nhẹn, khỏe mạnh như nam  
giới và đến tháng lại ra máu nên không sạch sẽ, thanh tịnh do đó  
không thể làm thầy Mo được. Thứ hai, người đó phải được truyền dạy  
các kiến thức làm Mo từ một thầy Mo; người này phải có dòng dõi  
làm Mo ít nhất là 3 đời. Thứ ba, người đó phải hiểu và thuộc các bài  
mo, điều hành được nghi lễ theo truyền thống của người Mường và  
phải được sự thừa nhận, tín nhiệm của mọi người. Ngoài ba tiêu chí  
chính trên, thầy Mo cũng cần phải có sức khỏe, phong thái đĩnh đạc,  
tuổi thuộc các mệnh số cao, như: Đinh, Nhâm, Quý; nói năng phải  
rành mạch, khúc chiết; gia đình hòa thuận, sung túc.  
3.2. Bố Mo  
Người Mường luôn có sự tôn trọng đối với thầy Mo. Điều này  
được thể hiện qua câu nói: Có Mo thì mới có Mường, cũng giống như  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
109  
không có làng xã thì không có huyện, tỉnh. Bởi thầy Mo chính là  
người đại diện duy nhất có thể giao tiếp với người đã chết và dẫn hồn  
người chết đi khắp nơi ở mường Tối.  
Tuy nhiên, để điều hành nghi lễ trong đám ma hay giúp người ốm  
yếu khỏe lại thì thầy Mo chưa đủ uy lực mà phải là bố Mo hay còn gọi  
là Mo Cả. Bố Mo là danh hiệu được bà con suy tôn. Trong một xóm,  
thậm chí trong cả một huyện, thường chỉ có vài ba thầy Mo được mọi  
người công nhận là bố Mo. Ngoài những tiêu chí chung đối với thầy  
Mo, bố Mo phải là người đã làm Mo phụ cho nhiều đám ma, người  
điều hành các nghi lễ cho người sống trong nhiều năm, phải hiểu,  
thuộc và có thể truyền tải được tất cả các áng Mo của người Mường,  
hoặc có sự đề cử của bố Mo trong vùng; gia đình bố Mo phải có  
truyền thống làm mo lâu đời, ít nhất từ 5 đời trở lên, trong gia đình có  
nhiều thế hệ cùng chung sống hạnh phúc; bố Mo cũng phải là người  
có tướng mạo và tính tình điềm đạm, có giọng nói truyền cảm. Đặc  
biệt, bố Mo còn phải có bộ Khót mới đi hành lễ được.  
4. Bộ Khót, chức năng và hình thức sử dụng Khót  
4.1. Khót và chức năng của Khót  
Khót theo tiếng Mường nghĩa là sức mạnh. Một bộ Khót bao gồm  
nhiều viên Khót, chủ yếu thuộc ba nhóm vật chất: từ đá, đồng và sừng.  
Với người Mường, bộ Khót luôn chứa đựng những bí ẩn về sức mạnh  
siêu phàm mà chỉ có bố Mo mới có thể sử dụng được. Bộ Khót là  
những vật thiêng, chứa siêu lực do Trời ban tặng, là bảo bối cho bố  
Mo làm việc. Có Khót, bố Mo mới điều binh khiển tướng để đưa người  
chết về với tổ tiên của người Mường ở thế giới bên kia và giúp bố Mo  
bảo vệ những người sống không bị hồn ma làm hại hay bắt đi (bố Mo  
Bùi Văn, 66 tuổi, xóm Lầm, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa  
Bình).  
Mỗi viên Khót đều có nguồn gốc, ý nghĩa và tác dụng nhất định.  
Lưỡi tầm sét bằng đồng, lưỡi rìu đá nhỏ, đá thiên thạch có từ thời tiền  
sử là những vật chứa sức mạnh của Thiên lôi giúp bố Mo có sức mạnh  
của các vị thần linh trên Trời. Răng, vuốt hổ, vuốt báo, nanh lợn nòi,  
sừng hươu, sừng nai đại diện cho sức mạnh của đội quân tinh nhuệ, hộ  
110  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
vệ bố Mo ngăn chặn ma quỷ làm hại bất kỳ đâu. Răng nanh rái cá,  
thạch nhũ đá hay đá thạch anh giúp bố Mo có thể dễ dàng ra vào trong  
các hang động, đi dưới lòng sông, đáy biển. Các viên sỏi, đá tròn,  
nhẵn hoặc có hình thù, dấu vết đặc biệt, như: đầu con hổ, vết chân  
gấu… mang ý nghĩa vững bền, rắn chắc như đá. Tất cả đều là những  
vật thiêng, hiếm có, chứa sức mạnh phi thường có thể làm cho trời  
rung, đất lở, tạo nên sức mạnh, làm cho bố Mo tự tin, có thêm uy lực,  
sức khỏe. Trong đó mạnh nhất là lưỡi tầm sét, đá thiên thạch và chiếc  
răng hàm của hổ cùng với vuốt hổ hoặc vuốt báo bởi chúng có sức  
mạnh của sấm sét, quyền uy của thần thiên lôi trên trời và hổ là vị  
chúa sơn lâm mặt đất, báo là con vật nhanh nhẹn, dũng mãnh.  
Đối với người Mường, bộ Khót rất thiêng và quý. Câu “quý như  
Khót” để nói không có gì giá trị và so sánh được với Khót. Chính vì lẽ  
đó, Khót được truyền từ đời này sang đời khác theo dòng họ gia đình,  
không bao giờ đem bán. Các bố Mo có thể cho, tặng Khót cho đệ tử  
của mình, hoặc người mình tin tưởng sẽ dùng bộ Khót đó để làm  
những việc thiện, hữu ích chứ họ không đem bán. Các thầy Mo cũng  
cho rằng việc mua, bán sẽ làm cho bộ Khót mất thiêng, bố Mo cũng  
mất đi năng lực của mình.  
Bố Mo cũng có thể bổ sung vào bộ Khót của mình những viên Khót  
mới, nhưng đó phải là những vật quý hiếm, ví dụ: viên đá hình lưỡi mác  
tìm thấy trong hang động cổ hoặc vuốt chân gấu, nhung con hươu, con  
nai… bị hổ ăn thịt và rơi trong rừng, chứ không phải do con vật đó chết  
vì già hay ốm yếu. Trường hợp lấy nanh, vuốt hổ, báo, lợn nòi do săn  
bắn được phải lấy chiếc bên trái mới thiêng (bố Mo Bùi Văn L., 62 tuổi,  
xóm Lầm, xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình).  
Vật lấy về làm Khót đem ngâm, rửa bằng rượu trắng cho sạch sẽ  
sau đó đặt lên bàn thờ Thánh sư cúng, thắp hương, khấn xin các thánh  
cho phép sử dụng vật đó làm Khót. Khi hương cháy hết, vật đó mới  
chính thức trở thành Khót.  
4.2. Hình thức sử dụng Khót  
Bộ Khót của bố Mo Mường chủ yếu sử dụng vào hai loại nghi lễ:  
đám ma và cầu vía (chữa bệnh) cho người ốm yếu.  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
111  
4.2.1. Khót dùng trong đám ma  
Khi gia đình người chết đến nhờ bố Mo làm tang lễ, họ mang theo  
lễ vật là trầu cau, rượu, gạo và tiền. Bố Mo đặt lễ vật lên bàn thờ thánh  
sư2, thắp hương khấn xin phép các cụ cho mang bộ Khót đi và phù hộ  
cho mình thực hiện mọi công việc được suôn sẻ, đồng thời cũng hứa  
hẹn: Khấn thầy không khấn suông, khi con hành lễ xong về đến nhà sẽ  
có lễ cho thầy.  
Đến nhà đám, túi Khót được đặt bên cạnh mâm lễ vật thờ thánh sư,  
cùng với kiếm. Trước khi thực hiện các nghi lễ cho người chết, bố Mo  
phải làm lễ dỡ Khót - tức đánh thức Khót dậy, để Khót truyền sức  
mạnh và năng lực siêu nhiên cho bố Mo hành lễ.  
Nghi lễ đánh thức Khót gồm 3 phần:  
Phần đầu, bố Mo khấn nói về cội nguồn của bộ Khót, đó là một  
quá trình đầy gian khổ. Lời khấn giống như kể câu chuyện từ thời xa  
xưa, khi mới khai thiên lập địa, lúc đẻ đất đẻ nước, có thầy Mo nhưng  
chưa có vật thiêng nên không có sức mạnh để bảo vệ hồn người chết.  
Bà Mụ Dạ Dần3 nói cho ông Hai Dàng4 có núi Khót thiêng nằm trong  
hang sâu ở trên núi cao hãy về lấy tiền bạc, mang thuổng đến đào,  
mang rìu đến chặt để lấy mang về. Hai Dàng chuẩn bị rìu, dao đem đi  
chặt cây làm thuyền rồi chèo ngược sông trong 10 ngày, 10 đêm mới  
đến được nơi có núi Khót, lại trèo lên núi, chui vào trong hang và đẽo  
được Khót mang về. Chèo thuyền trở lại nhưng vừa mới bước lên bờ  
thì thuyền Hai Dàng đã bị hà bá đánh đắm, Khót chưa kịp mang lên,  
rơi xuống sông. Hai Dàng buồn quá khóc nỉ khóc non, bà Mụ Dạ Dần  
xuất hiện, hỏi tại sao, nghe Hai Dàng kể xong lại hỏi khi đi đường qua  
các vùng đất để lấy Khót đã đã thờ thần linh thổ địa chưa? Chèo  
thuyền lấy Khót phải qua sông qua suối đã thờ hà bá chưa? Hai Dàng  
đáp chưa, bà Mụ Dạ Dần kết luận vậy là do chưa thờ thổ công, hà bá  
nên các vị đó không cho mang Khót về. Tiếp đó bà Mụ Dạ Dần bảo  
Hai Dàng hãy đi về nhà lấy đôi gà dưới gầm sàn, lấy thúng gạo, tấm  
vải và bạc thỏi ở trên nhà rồi đem ra bờ sông mà khấn với nội dung:  
Trên núi đá thờ thổ công, dưới sông thờ hà bá, ra đồng thờ thần linh  
thổ địa. Lời khấn vừa dứt, Khót nổi lên, Hai Dàng mang về nhà nhưng  
để Khót xuống đất khiến thần nước chết; đặt lên đồi làm chết thổ  
112  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
công; để ra đồng làm chết lúa, để vào đâu chết đấy. Thấy Khót quá  
mạnh và thiêng, để không ảnh hưởng đến ai Hai Dàng đành giấu diếm  
mang đến hang đá, khấn xin các vị thần linh làm giảm bớt sức mạnh  
của Khót bằng việc cho mình đẽo, gọt Khót thành 3 cạnh, 4 góc cho  
nhỏ, gọn và đẹp. Có được Khót rồi, Hai Dàng đem Khót đi bán cho  
thầy Mo ở các nơi, từ mường Hợm, mường Thàng, mường Vang đến  
mường Vó. Hai Dàng đi đến đâu cũng đòi thầy Mo muốn có Khót  
phải trả 1 con trâu to nuôi dưới gầm sàn và 5 tạ thóc để trên sàn nhà,  
các thầy Mo đều kêu đắt quá không mua. Hai Dàng mang Khót đi tiếp,  
khi đến Mường Bi chỉ còn đòi một đôi gà dưới gầm sàn, trên sàn nhà  
lấy 1 thúng gạo và 1 tấm vải cùng ít bạc lẻ. Thầy Mo Mường Bi đồng  
ý, đón Hai Dàng về nhà, giết gà làm cơm ăn, mời uống rượu cần, rượu  
vò no say sau đó vợ thầy Mo đưa đủ lễ vật như Hai Dàng yêu cầu.  
Nhận xong lễ vật, Hai Dàng trở về nhà. Thầy Mo lấy Khót đặt lên bàn  
thờ thánh sư khấn xin phép cho mình được dùng Khót, có được sự hỗ  
trợ của Khót khi hành lễ.  
Phần hai, ông kể lại việc chuyển đổi từ thầy Mo sang bố Mo. Khi  
xin phép được dùng Khót, thầy Mo hứa sẽ chỉ dùng vào việc thiện bởi  
vậy khi gia đình người chết đến đón bố Mo đi hành lễ giúp đám ma,  
nhưng vợ bố Mo không đồng ý vì không được trả công. Sau một hồi  
kể lể, người đi đón hứa sẽ trả công đúng bằng lễ vật bố Mo đã trả để  
lấy Khót và nhấn mạnh bố Mo phải đi giúp đám tang để Khót ban sức  
mạnh, có như vậy mới khỏe và sống lâu. Ngoài ra, nội dung trong  
phần khấn này cũng khẳng định thầy Mo đã được tăng thêm uy lực  
nhờ có bộ Khót và trở thành bố Mo:  
Chín con vịt không có một con nào trở thành con đầu đàn  
Chín con ngan không có con nào có thể đạp mái  
Chín cô gái không có một cô nào biết diễn trò  
Chín ông Mo chỉ có một ông Mo là Mo khôn Mo khéo  
Chỉ có bố Mo mới thực hiện nghi lễ cho đám tang ma thôi,...  
Phần cuối, bố Mo lần lượt gọi tên và nêu chức năng của từng viên  
Khót. Bắt đầu là những viên Khót bé, sức mạnh không nhiều, như:  
những hòn sỏi, viên đá nhỏ… có tác dụng làm cứng tay, vững chân;  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
113  
Khót to là răng hổ, vuốt báo, nanh lợn nòi, nhung nai… có sức mạnh  
nhảy được qua khe, qua suối, qua bờ rào; lưỡi rìu để tạo ra sức mạnh  
như sấm như sét. Tất cả tạo nên nguồn lực siêu mạnh giúp bố Mo có  
được sức khỏe như con trâu cái, lực mạnh như trâu đực, to khỏe nhanh  
nhẹn như con nai, có tài như con hổ.  
Xong nghi lễ đánh thức Khót là lúc bố Mo có sức mạnh để đánh  
thức hồn ma bằng việc cho khâu dao5 vào ngón chân cái và dậm thật  
mạnh, động tác này được gọi là đạp ma, để mời, gọi hồn ma ra bàn  
thờ, nghe bố Mo kể chuyện, đến bữa thì cho ăn, cho uống.  
Trong lúc bố Mo hành lễ tại nhà người chết, bộ Khót để cạnh mâm  
thờ thánh sư, khi đưa quan tài người chết ra nghĩa địa để chôn, bố Mo  
lấy bộ Khót đeo vào người để hộ vệ cho mình và bảo vệ hồn người  
chết, chôn cất xong lại đưa Khót về đặt cạnh mâm thờ thánh sư.  
Khi kết thúc mọi nghi lễ ở nhà đám, bố Mo đem Khót về treo ở vị  
trí cũ, đặt lễ vật6 do nhà đám đưa lên bàn thờ thánh sư và thắp hương  
khấn vái theo tinh thần đi báo về trình. Bài khấn có nội dung như sau:  
Việc bé đã xong, việc lớn đã kết thúc, không khất thánh sư suông mà  
có chén nước cái tăm, đĩa trầu nhang, đèn hương, tiền bạc, chai rượu  
đặt lên bàn thờ trình cho thánh sư để biết, trình cho thánh sư để thấy,  
để phù hộ cho con cháu ra làm mo, đi như ong khoái (tên khoa học là  
Apis dorsata, người Mường dùng hình ảnh loại ong này bởi chúng  
luôn bay nhanh theo đường thẳng), về như ong mật (tên khoa học là  
Apidae, loại ong chuyên cần), đi đến nơi về đến chốn, phù hộ cho con  
cháu đi làm phúc một ngày đi một đám, một tháng đi chín mường,  
nắng đến đâu đi đến đấy, các cụ đừng giận gì trong đó, đừng khó gì  
trong lòng. Khấn xong ông vái ba cái để kết thúc.  
4.2.2. Khót dùng trong nghi lễ cầu vía  
Với người Mường, những người già ốm lâu chưa khỏi hoặc đã khỏi  
ốm nhưng sức khỏe mãi vẫn chưa hồi phục được cho là vía yếu hoặc  
vía đi lạc đâu đó, cần làm lễ cầu vía để gọi vía về và trợ giúp vía đó để  
có thêm sức mạnh như vậy người ốm yếu sẽ mau khỏe lại. Để thực  
hiện nghi lễ này, cần đến uy lực của bố Mo và sức mạnh siêu nhiên  
của bộ Khót để làm vía của người đó khỏe lên. Nghi lễ này tổ chức  
cho những người ốm, yếu từ 50 tuổi trở lên, những người đã là ông/bà  
114  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
nội hay ông ngoại/bà ngoại. Nếu trong gia đình có nhiều thế hệ, chỉ  
làm cho cụ ông, cụ bà cao tuổi nhất, bởi họ là người đứng đầu gia đình  
lớn, nếu họ khỏe mạnh, con, cháu cũng sẽ được khỏe mạnh. Họ được  
ví bằng hình ảnh như cây cao bóng cả, che chở, tỏa bóng mát cho con,  
cho cháu.  
Bố Mo mang bộ Khót đến nhà người làm vía. Lúc này, gia đình  
người ốm đã chuẩn bị sẵn lễ vật và nước tinh khiết, loại nước lấy từ  
mạch nước nguồn trên núi. Việc lấy nước phải thực hiện từ sáng sớm,  
khi chưa có ánh nắng Mặt Trời chiếu xuống, thường trong khoảng 4 -  
5 giờ sáng. Người ta lấy khoảng 1 - 2 lít nước đổ vào chiếc chậu nhỏ  
để bố Mo ngâm các viên Khót vào. Bố Mo đội chiếc khăn trắng trên  
đầu, ngồi trước mâm lễ, bê chậu Khót lên ngang miệng sau đó khấn  
gọi Khót với ý nghĩa đánh thức Khót dậy. Sau nghi lễ này, bố Mo đã  
có được sức mạnh của Khót để giúp người ốm khỏe lại. Bố Mo đặt  
chậu Khót xuống, lấy nắm gạo và muối trộn với nhau ném vài hạt vào  
cửa sổ và xung quanh mâm ở trong nhà với ý nghĩa mời vía đi lạc về  
ăn đồ lễ. Tiếp đến là nghi lễ cầu cho vía mạnh. Phần này được bố Mo  
khấn to với nội dung cầu xin các vị thần linh phù hộ cho người ốm  
yếu và ban sức mạnh, phép thiêng cho các lễ vật để mời vía người ốm  
ăn cho khỏe như xôi, gà, cơm canh,… để có phép thiêng, thêm sức  
mạnh cho vía với các loại gai nhọn7, lá cây, dây rừng. Với người  
Mường, gai nhọn tượng trưng cho sức mạnh, đầu nhọn của gai còn  
khiến ma không làm hại được người ốm yếu.  
Nghi lễ cầu cho vía mạnh thực hiện khoảng 1,5 - 2 tiếng. Trong thời  
gian này, Khót vẫn ngâm trong chậu nước để phát tiết sức mạnh. Khi bố  
Mo khấn xong, đồ lễ hạ xuống cho người ốm ăn tại nơi hành lễ để  
người ốm tiếp nhận sức mạnh mà thần linh ban trong đồ lễ. Ăn xong,  
người ốm nhận thêm sức mạnh từ bộ Khót bằng việc lấy nước Khót bôi  
lên đầu mình ba lần. Xong nghi lễ này, bố Mo lấy Khót cất đi, nước  
ngâm Khót đem vẩy xuống chân phía đầu gường người ốm. Nước Khót  
có tác dụng hỗ trợ người ốm yếu mau khỏe, xua đuổi và ngăn chặn ma  
quỷ không cho chúng đến quấy nhiễu làm hại người ốm.  
Với những người ốm do ma ám, biểu hiện bằng việc nói năng liên  
thuyên, có những hành động khùng khùng, điên điên sẽ phải vừa uống  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
115  
vừa bôi nước Khót. Nước Khót được lấy ra bát, mỗi một lần uống là  
một lần bôi nước Khót lên đầu, làm như vậy để đuổi ma quỷ nhập  
trong người ốm ra. Sau cùng, người ta lấy lá cọ gói các loại gai, lá,  
dây rừng thành bó, treo lên cửa sổ ngay cầu thang lên xuống ở nhà  
người đó để vía người ốm mạnh hơn.  
4.2.3. Khót cho các nghi thức khác  
Để giữ thai và chữa bệnh  
Ngoài việc dùng bộ Khót cho hai nghi lễ trên, bố Mo còn có Khót  
Cang cầm (tiếng Việt nghĩa là cầm, giữ) có tác dụng giữ con, giữ của.  
Cang cầm là viên đá đen như than, cầm chắc tay, nhẵn nhụi. Những  
người phụ nữ dễ sảy thai muốn giữ thai, những ai đi xa không muốn bị  
xui xẻo hoặc người không muốn tiền bạc, của cải bị mất mát có thể  
đến nhờ bố Mo giúp đỡ. Khót Cang cầm sẽ được bố Mo làm phép sau  
đó cho vào túi nhỏ để người đó đeo trên cổ hoặc ngang hông. Đeo  
Khót Cang cầm bên mình sẽ giúp người đó được an toàn, giữ được  
của cải.  
Tôi cho đây là đá thiên thạch8, có khả năng phóng xạ nhất định bởi  
nó có tính triết quang vì chiếu ánh sáng vào sẽ xuyên qua được và nó  
lại nặng hơn đá thường. Trong dân gian, đá này còn dùng để chữa  
các bệnh nóng sốt, cảm cúm của trẻ em. Người ta mài đá lấy chút bột,  
hòa nước cho trẻ uống như uống thuốc, sau từ 1 đến 3 lần là khỏi  
(theo nhà nghiên cứu văn hóa người Mường, ông Bùi Huy V., sinh  
năm 1966, xóm Bưng, xã Hưng Nhượng, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa  
Bình).  
Khót răng nanh rái cá cũng được dùng để chữa cho người hóc  
xương cá. Bố Mo ngâm răng nanh rái cá vào bát nước vài phút rồi lấy  
nước đó cho người hóc xương uống ba ngụm. Bát đựng nước úp  
xuống khe sàn nhà, xương bị hóc sẽ dễ dàng lấy hoặc khạc ra được.  
Giúp nam nữ yêu và lấy nhau  
Ngoài ra, một số bố Mo Mường còn có Khót uyên ương (tiếng  
Mường gọi là én ương), tức là Khót giúp hai người nam nữ có thể yêu  
nhau, hoặc chia rẽ cặp đôi nào đó không yêu nhau nữa, nên cũng còn  
được gọi là bùa yêu. Khót này là 2 cặp vỏ sò biển màu trắng, cỡ bằng  
116  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
đồng xu. Sử dụng Khót này để ép buộc yêu, hoặc chia lìa cặp đôi nào  
đó bị coi là việc làm thất đức, bố Mo sẽ bị mất uy lực nên không ai  
dám làm. Thường bố Mo chỉ dùng để giúp cặp vợ chồng nào đó có  
nguy cơ tan vỡ sẽ yêu nhau trở lại để không ly hôn. Một số trường hợp  
người con trai quá nghèo, khó lấy được vợ nên nhờ bố Mo giúp mình  
để có thể lấy được vợ. Tuy nhiên, sau khi lấy nhau, nếu một người  
trong cặp đôi đó chết đi, người kia phải nhờ bố Mo giải thần chú nếu  
không người đó sẽ bị chết theo. Để giúp cho hai người nam nữ yêu  
nhau, bố Mo sẽ đặt 2 cặp vỏ sò cách xa nhau 20 cm trên tờ giấy trắng,  
làm lễ, đọc thần chú và thực hiện một số hành động, nếu 2 cặp vỏ sò  
sát lại với nhau tức là việc đã thành. Khót này cũng dùng để tách  
những người đã kết hôn nhưng người chồng hoặc người vợ lại có tình  
yêu mới. Bố Mo sẽ đặt hai cặp vỏ sò sát nhau làm lễ, đọc thần chú và  
thực hiện một số hành động nếu hai cặp vỏ sò tách ra hai phía, công  
việc cũng đã thành công. Khót én ương được bố Mo gói kín, để riêng,  
vì chức năng khác với Khót khác nên để chung sẽ hại nhau, Khót  
không có tác dụng.  
5. Những nghi lễ và kiêng kỵ với Khót  
5.1. Nghi lễ tắm Khót  
Hàng năm vào đêm giao thừa, bố Mo lại rửa Khót một lần bằng  
nước luộc bánh chưng với ý nghĩa “tắm” cho Khót và mời Khót đi ăn  
Tết, nếu không Khót đói sẽ bắt gà, lợn, trâu bò trong nhà bố Mo ăn và  
gây phiền toái cho gia đình bố Mo.  
Bố Mo lấy nước luộc bánh chưng đổ vào chậu nhỏ để tắm cho Khót  
và đọc lời khấn với nội dung mời Khót đi ăn tết khắp nơi, nắng đến  
đâu đi ăn đến đấy để Khót khỏe, Khót thiêng. Vừa khấn vừa rửa và bỏ  
Khót ra khay. Tiếp đó bố Mo mở cửa sổ và tưới rượu trắng lên các  
viên Khót để thả hồn Khót đi ăn khắp nơi. Bố Mo nói Khót đi một  
ngày, hôm sau hãy quay về hộ vệ cho ông, để quỷ phải chạy xa, ma  
phải chạy biến. Sau đó, ông để bộ Khót trên bàn thờ thánh sư, hết  
ngày mùng Một mới cất đi.  
Mỗi bố Mo thường có hai túi Khót: túi nhỏ và to. Khót quý đựng  
trong túi nhỏ, đó là những viên Khót có từ lâu đời và chứa siêu lực  
nhiều nhất, như: răng, vuốt hổ; đá thiên thạch, nhung nai, răng nanh  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
117  
rái cá, nanh lợn lòi, tượng chó nhỏ bằng đồng, khi đi làm lễ lớn hay  
nhỏ bố Mo đều mang theo.  
Túi Khót to đựng các viên Khót còn lại, chỉ khi đi đám ma hay làm  
lễ cầu vía cho người ốm yếu mới mang đi.  
5.2. Những kiêng kị  
Bộ Khót là những vật thiêng liêng, cao quý không được để ở dưới  
gầm gường, gầm nhà sàn mà phải để ở nơi cao ráo, sạch sẽ, thường là  
treo gần nơi thờ thánh sư.  
Khi bố Mo được mời đi hành lễ, người khác có thể mang giúp đồ  
nhưng riêng bộ Khót thì bố Mo phải mang. Lúc mang Khót, bố Mo  
không được luồn qua dây phơi quần áo và máng dẫn nước ở đồng  
ruộng. Do dây phơi có treo cả quần áo lót, nếu không tránh, sẽ giống  
như chui qua háng người khác; còn máng nước ngoài đồng ruộng đã  
bị chân người, trâu bò lội qua, thậm chí có cả chất thải của trâu bò nên  
không sạch sẽ.  
Ai đó tự tiện chạm, cầm vào Khót sẽ bị trời đánh thánh phạt, tức là  
sẽ có điều không may xảy ra với người đó hay người thân. Muốn mọi  
việc bình thường trở lại phải nhờ bố Mo làm lễ tạ lỗi với thánh sư. Kể  
cả với bố Mo, chỉ khi có việc mới lấy Khót xuống, nếu không cũng sẽ  
bị trách phạt. Bố Mo có nhiều Khót quý thì uy lực trừ tà, át ma càng  
lớn và càng có uy tín.  
Kết luận  
Quan niệm của người Mường về giá trị, vai trò của bộ Khót và bố  
Mo cho thấy đời sống văn hóa tinh thần của họ rất phong phú, giầu tri  
thức dân gian và mang tính nhân văn sâu sắc. Bộ Khót chính là vật tế  
khí của bố Mo, giúp ông tự tin về sức mạnh và uy quyền của bản thân  
để giúp đỡ mọi người. Giá trị và tính thiêng của bộ Khót được người  
Mường tạo dựng lên từ vốn tri thức dân gian được tích lũy qua nhiều  
thế hệ, ở nhiều lĩnh vực, như: hình thức dưỡng sinh trị bệnh; cách ứng  
xử của con người với con người; con người với môi trường tự nhiên;  
con người với các loài động thực vật,…  
Bố Mo chính là biểu tượng của người trí thức Mường, là người  
thực hành các phong tục tập quán của người Mường, là điểm tựa  
118  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 3 - 2019  
trong đời sống tinh thần của người Mường, người tạo nên sự gắn kết  
cộng đồng. Kiến thức, những hiểu biết và hình thức điều hành nghi  
lễ của bố Mo cùng việc sử dụng bộ Khót đã góp phần quan trọng  
trong việc bảo lưu và truyền bá các giá trị văn hóa truyền thống của  
người Mường. /.  
CHÚ THÍCH:  
1
2
3
4
Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả chính thức, Nxb.  
Thống kê, Hà Nội, 2010, tr. 134.  
Thánh sư người thầy Mo đã chỉ bảo, truyền nghề cho bố Mo nhưng đã chết và  
được bố Mo thờ cúng.  
Mụ Dạ Dần là người đàn bà nghèo nhưng hiểu biết, luôn xuất hiện để giúp đỡ  
mọi người khi gặp khó khăn.  
Hai Dàng là nhân vật đại diện cho người đàn ông đã trưởng thành của người  
Mường.  
5
6
7
Khâu dao là vòng sắt tiếp nối giữa lưỡi dao và cán dao.  
Lễ vật gồm: trầu cau, tiền, chai rượu, chén nước, tăm.  
Thường lấy gai và lá của những cây có gai nhọn mọc quanh nhà như gai chanh,  
gai bưởi, gai tre,…  
8
Thiên thạch tên khoa học là Meteorite, dân gian gọi là đá Trời do được tạo từ  
thiên thể ở trên trời.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Vương Anh (2001), Tiếp cận văn hóa Mường, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.  
2. Vương Anh (1997), Mo - Sử thi dân tộc Mường, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.  
3. Đinh Ân (2005), Mo kể chuyện Đẻ đất đẻ nước, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.  
4. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương (2010), Báo cáo kết quả  
chính thức Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, Nxb. Thống kê, Hà Nội, tr.  
134.  
5. Cao Sơn Hải (2013), Lễ tục vòng đời người Mường, Hội Văn nghệ dân gian Việt  
Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.  
6. Hoàng Anh Nhân (2012), Mo lên trời, Nxb. Thanh niên, Hà Nội  
7. Bùi Thị Phúc (2004), Nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần của người Mường,  
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
8. Mai Văn Tùng (2017), Tri thức dân gian trong sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên  
thiên nhiên của người Mường ở Thanh Hóa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.  
9. Trần Từ (1996), Người Mường ở Hòa Bình, Hội Liên hiệp Lịch sử Việt Nam.  
10. Nguyễn Thị Vân (2015), Trang phục phụ nữ Mường xã Phong Phú, huyện Tân  
Lạc, tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Học viện Khoa  
học xã hội, Hà Nội.  
11. Bùi Huy Vọng (2014), Mộ Mường ở Hòa Bình, Hội Văn nghệ dân gian Việt  
Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Vũ Hồng Nhi. Bộ Khót và uy lực của Bố Mo  
…
119  
Abstract  
THE SET OF KHÓT AND THE POWER OF THE MUONG  
PEOPLE’S MYSTERY-MAN  
Vu Hong Nhi  
Vietnam Museum of Ethnology  
The shaman who conducts the funeral rite is called the Mo father (a  
mystery-man) in the Muong’s culture. According to the conception of  
the Muong people, he has a special ability- to communicate with the  
divine and the deceased. It is necessary to have the set of Khót to  
perform a ritual. The Khót is a set of sacred objects with supernatural  
powers bestowed by God. They have been passed down by the  
mystery-man’s father. Each object of the Khót has a special meaning  
and function. It helps the Mo father to prevent demons from harming  
people. The Muong people has a saying “valuable as Khot”, it means  
that nothing is as precious as the Khót. Each Mo father has a set of  
Khót with different numbers of object. The power and reputation of a  
Mo father depends on his number of objects. In this article, the author  
refers to the role and value of the set of Khót and Mo father in the  
cultural and spiritual life of the Muong people.  
Keywords: Khót set; Mo father; Muong people; spirit.  
pdf 16 trang yennguyen 20540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bộ Khót và uy lực của Bố Mo người Mường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbo_khot_va_uy_luc_cua_bo_mo_nguoi_muong.pdf