Thể thơ song thất lục bát trong văn chương Việt Nam 1945-1975

42  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
THỂ THƠ SONG THẤT LỤC BÁT  
TRONG VĂN CHƢƠNG VIỆT NAM 1945 – 1975  
Phạm Ngọc Hiền*  
Trường Đại học Sài Gòn  
Tóm tắt:  
Khi nói đến thể loại song thất lục bát, nhiều người thường quan niệm nó là sản  
phẩm của văn chương trung đại và không chú ý đến sự hiện diện của nó trong văn chương  
hiện đại. Bài viết của chúng tôi nhằm phác họa bức tranh tổng thể của thể loại này trong  
văn chương Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975. Trong đó, có chú ý đến những điểm kế thừa  
và sáng tạo về luật thơ, những tác giả, tác phẩm tiêu biểu thuộc thể loại này.  
Từ khóa: song thất lục bát, thể loại, luật thơ, thơ hiện đại 1945 - 1975  
Abstract  
Double seven-six-eight poems in Vietnamese literature from 1945 to 1975  
As far as double seven-six-eight poems is concerned, many people often regard  
it as a product of feudal literature without paying attention to its presence in modern  
literature. This article aims to portray the overall picture of this genre in Vietnamese  
literature from 1945 to 1975, in which consideration is taken into the inheritance and  
creativity in poetic rules, as well as outstanding authors and works.  
Key words: Double seven-six-eight poems, genre, poetic rules, modern poetry  
from 1945 to 1975  
Thể loại song thất lục bát còn được gọi là: song thất, lục bát gián thất. Có khi, người  
ta xếp nó vào thể loại thơ. Có khi xếp vào thể loại ca ngâm. Đây là thể thơ có nguồn gốc  
Việt Nam, mang đậm bản sắc truyền thống dân tộc. Thể thơ song thất lục bát vốn rất phổ  
biến trong văn chương Việt Nam trung đại. Nó đã để lại cho kho tàng văn chương dân tộc  
những tác phẩm nổi tiếng như: Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Tự tình khúc,  
Ai tư vãn… Tuy nhiên, sang thế kỷ XX, thể thơ này ít được chú ý. Nhiều người nhầm tưởng  
rằng không còn thi nhân nào sáng tác thể song thất lục bát. Thực ra, số lượng tác phẩm theo  
thể song thất lục bát trong văn chương hiện đại rất nhiều, nhất là trong giai đoạn 1945 -  
1975.  
1. Luật thơ song thất lục bát theo quan niệm truyền thống  
Trước khi đi vào tìm hiểu tình hình sáng tác thể loại song thất lục bát trong văn  
chương hiện đại, chúng tôi xin giới thiệu sơ lược luật thơ song thất lục bát như sau: Mỗi  
khổ thơ song thất lục bát gồm có bốn câu, với số tiếng mỗi câu là: 7 – 7 – 6 – 8. Trong hai  
câu thất, luật phối thanh được đặt vào các tiếng 3 – 5 – 7 theo luật đòn cân là T – B – T (câu  
1) và B – T – B (câu 2). Hai câu lục bát theo đúng luật của thể loại này. Nghĩa là mang  
thanh điệu B – T – B ở các tiếng 2 – 4 – 6. Tiếng cuối câu một vần với tiếng thứ 6 câu hai.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
43  
Tiếng thứ 8 câu hai vần với tiếng thứ 6 câu ba. Tiếng thứ 6 câu ba vần với tiếng thứ 6 câu  
bốn. Tiếng thứ 8 câu bốn vần với tiếng thứ 5 câu tiếp theo… Sau đây là mô hình thanh điệu  
của thể thơ song thất lục bát:  
x x T x B x T  
x x B x T x B  
x B x T x B  
x B x T x B x B  
x x T x B x T  
(Chú thích: x là không bắt buộc phải đúng thanh, T là thanh trắc, B là thanh bằng,  
dấu gạch dưới là những chỗ bắt buộc phải gieo vần).  
Sau đây là một đoạn thơ tiêu biểu trích ra từ bài Gửi người vợ miền Nam của  
Nguyễn Bính:  
Em trở giấc trăng nghiêng nửa gối  
Mẹ chống rèm, sương gội vườn cam  
Ngước trông một mảnh trời Nam  
Ngôi sao Bắc Đẩu ngày càng tỏ thêm.  
Mẹ chân cứng đá mềm chờ đợi  
Em khăng khăng đứng mũi chịu sào  
Chín năm xương trắng máu đào  
Lẽ đâu lại chịu công lao dã tràng.  
Trong thơ song thất lục bát, hai câu thất có cách ngắt nhịp thông thường là 3 / 4.  
Các câu lục bát ngắt nhịp là 2 / 2 / 2 / 2. Lấy ví dụ một đoạn thơ trong Ba mươi năm đời ta  
có Đảng (Tố Hữu):  
Dân có ruộng, / dập dìu hợp tác  
Lúa mượt đồng, / ấm áp làng quê  
Chiêm mùa, / cờ đỏ / ven đê  
Sớm trưa / tiếng trống / đi về / trong thôn  
Màu áo mới / nâu non nắng chói  
Mái trường tươi / roi rói ngói son  
Đã nghe / nước chảy / lên non  
Đã nghe / đất chuyển / thành con sông dài  
Trên đây là những quy định chung của thể song thất lục bát. Những quy định này  
vốn được tuân thủ chặt chẽ trong văn chương trung đại. Trong văn chương hiện đại, mặc dù  
những quy định về niêm luật có thoáng hơn nhưng nhiều bài vẫn mang đậm “hồn cốt” của  
thể song thất lục bát truyền thống. Chỉ khác là các bài thơ ấy mang nội dung hiện đại. Ta có  
thể thấy điều đó trong các tác phẩm như:“Chinh phụ ngâm” mới (Hồ Chí Minh), Mãi mãi  
(Xuân Diệu), Nếu sư tử nó biết (Tú Mỡ), Bữa cơm thường trong bản nhỏ (Chế Lan Viên),  
Tặng bộ đội Trường Sơn (Sóng Hồng), Đội biệt động (Hồng Chương), Bà hiệu trưởng bước  
đi đệ nhất (Bùi Giáng), Thăm Hòn Chồng (Phan Phong Linh), Con ra đi (Vương Linh),  
Thanh long (Nguyên Hồng Trung), Trang hồng (Trần Tuấn Kiệt)…  
44  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
2. Sự biến thể, sáng tạo luật thơ song thất lục bát trong văn chƣơng Việt Nam 1945 -  
1975  
Khi nói đến việc sáng tác thơ theo thể song thất lục bát, chúng ta không chỉ bàn đến  
chuyện đúng luật mà còn phải chú ý đến sự “phá cách”, sáng tạo của nhà thơ. Sự sáng tạo  
ấy nhằm tránh sự đơn điệu, gây chú ý, tạo bất ngờ cho bạn đọc. Có thể thấy hiện tượng này  
ở Tố Hữu. Trong bài Ba mươi năm đời ta có Đảng, ông sáng tác theo đúng niêm luật của  
thể song thất lục bát. Nhưng trong bài Phá đường, ông đã sáng tạo cách ngắt nhịp mới cho  
thể song thất lục bát. Trong đoạn thơ sau, Tố Hữu ngắt câu thất đầu tiên thành hai dòng. Khi  
đọc, sự ngừng nghỉ giữa hai dòng lâu hơn so với khi chúng cùng nằm trong một dòng:  
Trên đồi quê /  
Trăng non mới hé /  
Đường thì dài, / hố xẻ chưa sâu  
Chưa sâu / thì cuốc cho sâu  
Có anh / có chị / cùng nhau ta đào  
Trên đây là trường hợp biến thể ngắt nhịp ở câu thất (đầu đoạn). Ta cũng gặp trường  
hợp biến thể ngắt nhịp ở câu bát (cuối đoạn). Trong bài Tỳ tử ngủ, Bùi Giáng đã cắt dòng  
bát thành ra 4 dòng theo thứ tự ngắn dần về nhịp câu. Như vậy, ở câu bát, sẽ không còn  
nhịp 2 / 2 / 2 / 2 nữa mà thành ra nhịp 4 / 2 / 1 / 1:  
Tỳ tử ngủ / sơn hà thiêm thiếp  
Ngủ lãng quên / trùng điệp tang thương  
Ngủ yên / Mọi Đã Lên Đường  
Nghìn Thu Cổ Lục /  
Khôn Mường /  
Tượng /  
Ra.  
Nói về biến thể số tiếng trong thơ song thất lục bát, phải kể đến một số sáng tác của  
Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Ông thường sáng tác thơ theo kiểu ca Huế, với số tiếng, số dòng  
tương đối linh hoạt. Khi sáng tác thể song thất lục bát, ông thường có xu hướng kéo dài số  
tiếng trong câu, làm cho nhiều bài có vẻ giống thơ tự do (như các chùm bài: Hai cô nữ sĩ  
nói chuyện với nhau, Nhạc âm ba miền…). Nhưng khi đọc và ngâm, ta thấy các bài này vẫn  
theo điệu luật của thể song thất lục bát. Cho nên, có thể xem chúng là biến thể của song thất  
lục bát. Ta hãy xem xét hai bài thơ sau:  
Giáp Ngọ năm nay, cuộc cờ vây mở nước  
Con đường hạnh phúc đã bước gần nơi  
Qua miền Vỹ Dạ ta chơi  
Tháp canh lô cốt họ đã dời đi đâu  
(Giáp Ngọ, 1954)  
Điệu hát dễ dàng là điệu hò khoan xứ Huế  
Không pha tiếng quyển, không nệ tiếng đàn  
Miễn làm sao giọng hát du dương  
Tình kia nghĩa nọ đôi đường phân minh  
(Điệu hát Trung kỳ)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
45  
Trong các bài loại này, số tiếng trong hai câu đầu có thể kéo dài đến 8, 9, 10, 11…  
Cho nên, vị trí các thanh bằng, trắc cũng thay đổi so với luật. Nhưng Ưng Bình Thúc Giạ  
Thị vẫn chú ý đến vị trí gieo vần. Nếu câu hai là 8 tiếng thì gieo vần vào tiếng thứ 6. Nếu  
câu hai là 11 tiếng thì sẽ gieo vần vào tiếng thứ 9. Nghĩa là gieo ở vị trí còn hai tiếng nữa  
mới kết thúc câu. Một số nhà thơ khác cũng có cách gieo vần như vậy. Ta hãy xem xét thêm  
một trường hợp nữa trong đoạn trích từ bài Đường về ánh sáng của Tuệ Mai:  
Đường Dân Tộc hoa sang màu hy vọng  
Người người về trong mạch sống Rồng Tiên  
- Niềm đau nỗi khó chưa yên  
Nhưng khi Ánh Sáng đã lên, ngại gì…  
Thông thường, số câu trong bài song thất lục bát là chẵn: 4, 8, 12… Tuy nhiên,  
nhiều nhà thơ cũng cố ý viết lẻ một câu để tạo bất ngờ, gây chú ý. Trong bài Giấc mơ bom  
nguyên tử (Nguyễn Vỹ), có 196 câu song thất lục bát, cộng với 3 câu lục bát lẻ. Trong đó,  
có hai câu lục bát lẻ chen giữa bài và một câu lục lẻ ở cuối bài. Sau đây là đoạn kết thúc bài  
thơ:  
Hình như thể loài người chết cả  
Khắp bao la dầy mả mồ hoang !  
Tưởng như trong cảnh điêu tàn  
Hai người sống sót là nàng với ta…  
Phải chăng một giấc mơ hoa ?  
Trong mơ chỉ thấy còn ta với nàng…  
(…)  
Tiếng sấm nổ tan tành giấc mộng !  
Bừng mắt, ôi ! Dưới bóng thông reo  
Một mình ta vẫn nằm queo,  
Quanh mình lá rụng, gió veo, bụi mờ  
Ngồi buồn chép lại giấc mơ…  
Ngoài những bài thơ song thất lục bát thuần túy, ta còn gặp thể loại này trong nhiều  
bài thơ tự do và hợp thể. Trong các bài thơ này, có thể chia làm hai loại: Một là những bài  
có số câu song thất lục bát nhiều hơn các thể khác: Tiếng vàng (Xuân Diệu), Cây điền thanh  
với tên giặc Mỹ (Lưu Quang Thuận), Sớm giục đường mây (Vũ Hoàng Chương), Chị là  
người mẹ, Quang vinh Tổ quốc chúng ta, Xưa… nay (Tố Hữu)… Hai là những bài thơ tự do  
và hợp thể có số câu song thất lục bát ít hơn các thể loại khác: Chòm Văn Sơn (Xuân Diệu),  
Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông), Cầu tre (Kiên Giang), Bay ngang mặt trời (Chế Lan  
Viên), Bài ca mùa xuân 1961, Hai anh em, Phá đường, A Liêu Sa nhớ chăng ? (Tố Hữu)…  
Bài Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông) là một bài thơ tự do nhưng có chen vào  
thể thơ song thất lục bát. Nhìn hình thức bề ngoài, ta rất khó nhận ra sự hiện diện của thể  
loại song thất lục bát trong bài thơ tự do. Bởi khổ song thất lục bát có số tiếng cũng đa  
dạng: 7, 6, 8, giống như thơ tự do. Nhưng ta nhận ra thể này căn cứ vào nhạc điệu, cách  
gieo vần:  
Làng tôi nghèo  
Gió mưa tơi tả  
Trai gái trong làng vất vả ngược xuôi  
46  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Các anh về mái ấm nhà vui  
Tiếng hát câu cười  
Rộn ràng xóm nhỏ  
Các anh về tưng bừng trước ngõ  
Lớp đàn em hớn hở theo sau  
Mẹ già bịn rịn áo nâu  
Vui đàn con ở rừng sâu mới về  
Từ lưng đèo  
Dốc núi mù che  
Các anh về  
Xôn xao làng tôi bé nhỏ  
Trong các bài thơ hợp thể, chúng ta dễ nhận ra thể song thất lục bát. Bài Trong da  
ngựa (Vũ Hoàng Chương) có 7 khổ, gồm năm khổ 5 chữ và ba khổ song thất lục bát. Trong  
bài, có sự kết hợp rất hài hòa, xen kẽ đều nhau giữa hai thể loại. Tuy nhiên, đôi lúc ta cũng  
khó nhận ra thể song thất lục bát nếu chúng biến thể. Bài Gò Me (Hoàng Tố Nguyên) về cơ  
bản là một bài thơ hợp thể, có song thất lục bát. Đoạn trích dưới đây có tới hai khổ song thất  
lục bát nhưng khổ sau rất khó nhận ra vì hai câu đầu khổ biến thành “song bát”:  
Ruộng vây quanh bốn bờ gió mát  
Lúa nàng keo chói rực mặt trời  
Ao làng: trăng tắm mây bơi  
Nước trong như nước mắt người tôi yêu ?  
Quê tôi sớm sớm chiều chiều  
Lao xao vườn mía  
Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ  
Những chị, những em má núng đồng tiền  
Nọc cấy, tay tròn nghiêng nón làm duyên  
Véo von điệu hát cổ truyền  
(Tre thôi khúc khích mây chìm lắng nghe):  
“- Hò…ơ… Trai Biên Hòa lụy gái Gò Me  
Không vì sắc lịch, mà chỉ vì mê giọng hò…”  
Việc đan xen thể song thất lục bát vào các thể loại khác là việc làm cần thiết. Nó  
tránh được sự đơn điệu về thể loại trong bài thơ tự do và hợp thể. Đồng thời, nó khẳng sự  
sức sống và sự hòa nhập của thể song thất lục bát trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện  
đại. Nếu trong tương lai, thể loại này ít tồn tại ở dạng thuần túy thì ít ra, nó cũng tồn tại  
trong các bài thơ tự do và hợp thể.  
Một bài thơ song thất lục bát có tối thiểu là 4 câu. Nhưng số bài song thất lục bát 4  
câu rất ít. Có thể nêu vài bài điển hình như: Đường số 5 anh dũng (Hồ Chí Minh), Theo tình  
nguyện quân qua biên giới năm 1952 (Chế Lan Viên), Bản đồ nước Việt Nam, Canh Dần  
1950, Đình chiến (Ưng Bình Thúc Giạ Thị)… Xin giới thiệu một bài tiêu biểu cho thể song  
thất lục bát 4 câu:  
Chỉ thấy núi thấy cây thấy suối  
Nào biết đâu biên giới là đâu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
47  
Giật mình, nghe một tiếng chào  
Đất mình vừa vượt, đất Lào vừa sang  
(Theo tình nguyện quân qua biên giới năm 1952 – Chế Lan Viên)  
Thơ song thất lục bát có thể dài bao nhiêu cũng được. Trong văn chương Việt Nam  
giai đoạn 1945 – 1975, ta gặp những bài thơ song thất lục bát dài trên 100 câu như: Kinh  
nhật tụng (Khương Hữu Dụng), Trả ta sông núi (Vũ Hoàng Chương), Giấc mơ bom nguyên  
tử (Nguyễn Vỹ), Mối tình đầu trọn kiếp (Phạm Tường Hưng)… Có những bài trên 200 câu  
như: Ba mươi năm đời ta có Đảng (Tố Hữu), Gửi người vợ miền Nam (Nguyễn Bính), Phật  
giáo đấu tranh huyết lệ sử (Đức Hòa Nguyễn Huy Điều), Triều miên ngâm khúc (Trần Tuấn  
Kiệt)…  
3. Nội dung thơ song thất lục bát trong văn chƣơng Việt Nam 1945 - 1975  
Nội dung thơ song thất lục bát rất đa dạng nhưng ta có thể quy về hai nhóm thể tài:  
lịch sử dân tộc và thế sự đời tư. Trước hết, ta hãy đề cập đến mảng lịch sử dân tộc. Có  
những tác phẩm được sáng tác để làm kim chỉ nam cho các chiến sĩ cách mạng. Như trường  
hợp Kinh nhật tụng của Khương Hữu Dụng. Tác phẩm được sáng tác năm 1946, trong cảnh  
đất nước dầu sôi lửa bỏng. Bài thơ gồm 196 câu song thất lục bát. Nhiều chiến sĩ cách mạng  
học thuộc lòng bài thơ này, thường tụng niệm hàng ngày trong chiến đấu gian khổ hoặc  
trong cảnh lao tù:  
Người chiến sĩ phải là khí tiết  
Khinh gian nan, không thiết công lao  
Uy kia, không sợ quyền cao  
Vinh kia, không đắm sang giàu, ấm êm.  
Người chiến sĩ ngày đêm tự xét  
Việc làm chung, thương ghét lòng công  
Tấm yêu trùm bọc non sông  
Mối tình kết chặt nòi rồng, giống tiên.  
Ở miền Nam, nhiều thế hệ học sinh đã học thuộc lòng bài Tình nhân loại của Chiêu  
Đăng. Bài thơ tương đối ngắn, được đưa vào sách Quốc văn toàn thư. Tác phẩm kể về hai  
thương binh thuộc hai nước khác nhau nằm chung một chiến trường. Trước khi chết, người  
này cởi áo đắp cho người kia:  
Ðêm dần xuống, chiến trường sương phủ  
Một thương binh hơi thở yếu dần.  
Trước khi nhắm mắt từ trần,  
Xót thương người bạn tấm thân lạnh lùng.  
Anh cởi áo đắp trùm lên bạn  
Rồi tắt hơi ! - thê thảm làm sao !  
Cho hay khác nghĩa đồng bào,  
Nhưng tình nhân loại còn cao hơn nhiều.  
Có tác phẩm song thất lục bát viết về đề tài tôn giáo như Phật giáo đấu tranh huyết  
lệ sử (Đức Hòa Nguyễn Huy Điều). Cuốn sách kể về phong trào đấu tranh của Phật giáo  
chống lại Ngô Đình Diệm. Tác phẩm được phổ biến trong giới Phật giáo ở Sài Gòn sau khi  
Ngô Đình Diệm bị lật đổ:  
48  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
Toàn dân chán ghét đủ điều  
Biểu tình chống đối Ngô Triều thường xuyên  
Giờ đến lượt sinh viên Phật tử  
Quyết biểu tình đòi thả Ni, Tăng  
Đoàn người xuất hiện không chừng  
Như tiên biến hiện, một rừng người ngay  
Nam sinh viên hàng ngày biểu diễn  
Đến nữ sinh liền tiến thi đua  
Nữ phái không chịu kém thua  
Bến Thành trước chợ lúc vừa họp đông  
Bên cạnh những bài thơ song thất lục bát viết về các vấn đề chính trị, tôn giáo, còn  
có những bài dài viết về tình cảm gia đình và tình yêu đôi lứa. Tác phẩm Triều miên ngâm  
khúc (Trần Tuấn Kiệt) dài 989 câu, có sự chen lẫn thể song thất lục bát và thể lục bát. Nội  
dung kể về tình cảm đau thương thống thiết của người cha đối với đứa con đã mất sớm. Thể  
loại này rất thích hợp để bày tỏ sự hoài tiếc về quá khứ đẹp đẽ nay không còn nữa. Nó diễn  
tả nội tâm buồn dằng dặc, bám riết con người, quanh quẩn không thoát ra được. Cũng như  
vậy đối với bài Mối tình đầu trọn kiếp (Phạm Tường Hưng). Đây là một thiên song thất lục  
bát kể về mối tình tươi đẹp thuở học trò nay đã đổ vỡ:  
Em đã quyết dứt lời mơ ước  
Cầu mong anh sớm được nên duyên  
Duyên xưa giờ đã lỗi nguyền  
Thì đừng mong giấc Đào Nguyên cõi trần.  
(…)  
Hồn cổ thụ buồn không trổ nhánh  
Chim gọi đàn rã cánh ngàn thu  
Giờ anh như góc sương mù  
Bão lòng chếnh choáng, ngậm ngùi nhớ thương.  
Thể loại song thất lục bát thích hợp để diễn tả những tâm tư, tình cảm của con người  
trước các sự kiện chính trị xã hội hoặc những biến cố lớn trong cuộc đời người. Nó có sự  
kết hợp tính chất của hai thể loại: thất ngôn (cổ kính, trang trọng) và lục bát (bình dị, trữ  
tình). Tuy nhiên, hệ thống niêm luật của nó có phần gò bó nên ít người sáng tác. Nếu có  
sáng tác theo thể loại này, nhiều người thích dùng hình thức biến thể vì nó tương đối tự do.  
Trong số những nhà thơ có sáng tác thể song thất lục bát, người có nhiều tác phẩm nhất là  
Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Ông có trên 30 bài nhưng hầu hết là song thất lục bát biến thể.  
Trong văn chương Việt Nam 1945 – 1975, số bài thơ hay thuộc thể song thất lục bát cũng  
không có nhiều. Có thể kể một vài bài có chất lượng nghệ thuật tương đối tốt hoặc đã từng  
“vang bóng một thời” như: Kinh nhật tụng (Khương Hữu Dụng), Ba mươi năm đời ta có  
Đảng (Tố Hữu), Tỳ tử ngủ (Bùi Giáng), Mối tình đầu trọn kiếp (Phạm Tường Hưng), Tình  
nhơn loại (Chiêu Đăng)…  
Trong văn chương Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, thể thơ song thất lục bát vẫn  
hiện diện và đạt được một số thành tựu nhất định. So với các thể loại khác như lục bát, thất  
ngôn, tự do… thì các bài song thất lục bát thuần túy chiếm tỷ lệ không cao. Tuy nhiên, thể  
loại này vẫn xuất hiện nhiều trong các bài thơ tự do và hợp thể. Trong tương lai, thể song  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 22 * 2019  
49  
thất lục bát sẽ tiếp tục tồn tại phổ biến ở dạng biến thể hoặc kết hợp với các thể loại khác để  
tạo thành các bài thơ hợp thể. Tức là, thể thơ song thất lục bát sẽ vận động theo hướng tự do  
hóa hình thức thơ để thích ứng với thời đại mới  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Lam Giang (1967), Khảo luận luật thơ, Sơn Quang xuất bản, S.  
[2] Trần Tuấn Kiệt (1968) Thi ca Việt Nam hiện đại, Khai Trí xuất bản, S.  
[3] Triều Nguyên (2009), Các thể loại thơ Việt, NXB Giáo dục Việt Nam, H.  
[4] Bùi Văn Nguyên & Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam - hình thức và thể loại,  
NXB KHXH, H.  
[5] Nhiều tác giả (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, NXB Giáo dục. H.  
[6] Nhiều tác giả (1986), Thơ kháng chiến 1945 – 1954, NXB Tác phẩm mới, H.  
[7] Vũ Văn Thanh (1959), Nguyên tắc sáng tác thi ca, Khai Trí xuất bản, S.  
[8] Nguyễn Q. Thắng (2008), Văn học Việt Nam nơi miền đất hứa, NXB Văn học, H.  
(Ngày nhận bài: 24/09/2019; ngày phản biện: 30/09/2019; ngày nhận đăng: 04/10/2019)  
pdf 8 trang yennguyen 18720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thể thơ song thất lục bát trong văn chương Việt Nam 1945-1975", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthe_tho_song_that_luc_bat_trong_van_chuong_viet_nam_1945_197.pdf