Đặc trưng thi pháp truyện cổ tích Lọ nước thần

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
ĐẶC TRƯNG THI PHÁP TRUYỆN CỔ TÍCH LỌ NƯỚC THẦN  
Đặng Quốc Minh Dương  
Trường Đại học Văn Hiến  
Ngày nhận bài: 23/10/2018; Ngày duyệt đăng: 17/12/2018  
Tóm tắt  
Lọ nước thần là một truyện cổ tích thần kỳ tiêu biểu, nó thuộc type truyện “Người đẹp/ công chúa  
bị bắt cóc” mà gắn liền với nó là môtip người đẹp không cười - nói. Truyện có rất nhiều đặc trưng  
thi pháp trong việc xây dựng nhân vật – nhất là chi tiết đặc tả làn da trắng. Bên cạnh đó, dân gian  
đã vận dụng nhiều góc nhìn khác nhau để làm cho hình tượng người đẹp hiện lên đủ sức thuyết  
phục, cuốn hút. Một mặt, những chi tiết, thủ pháp này thể hiện quan niệm, thị hiếu thẩm mỹ của  
người Việt, mặt khác nó cũng cho thấy những nét cách tân, sáng tạo của tác giả dân gian.  
Từ khóa: truyện cổ tích thần kỳ, Lọ nước thần, điểm nhìn, người đẹp không cười - nói.  
Prosodic specific traits of the fairy tale Divine water jar  
Abstract  
The Divine Water Jar is a typical fairy tale, as the same sort as Sleeping Beauty. This fairy tale  
is associated with the motif of a beauty who does not smile and talk. This fairy tale has many  
prosodic specifications in constructing the character – especially in the description of the lightening  
complexion. Besides, there are various points of view from the folk tale perspective used to make  
the image of beautiful woman convincing and eye-catching. In a view, these details and methods  
show Vietnamese people’s concepts and taste of beauty. In another view, Vietnamese writers’  
innovation and creativity is presented.  
Keywords: Miraculous fairy tale, Divine Water Jar, Points of view, beautiful woman not smiling  
– talking.  
tác giả, ở Việt Nam dạng này có 05 bản kể, trong  
đó dân tộc Kinh có 02 bản kể với tên gọi là Ai  
mua hành tôi, Hoàng đế bán hành; Các bản còn  
lại là Nàng Kháy (Tày), Chiềc áo lông chim  
(Nùng), Anh chàng mồ côi (Tày). Cốt truyện này  
xoay quanh, nhấn mạnh đến hành động, sự kiện  
người đẹp/ công chúa bị “bắt cóc” hay bị ép uổng  
và quá trình tìm gặp lại nhau của hai vợ chồng.  
Do vậy, chúng tôi cho rằng cách đặt tên của  
Aarne và Thompson “the abducted princess1”  
(Aarne và Thompson, 1973: tr. 185) là thuyết  
phục hơn, nó lột tả được nội dung type truyện.  
Tuy số lượng bản kể không nhiều, mức độ  
phổ biến không cao nhưng khi tiếp cận, chúng  
tôi nhận thấy truyện cổ tích Lọ nước thần có một  
1. Đặt vấn đề  
Trong Kho tàng Truyện cổ tích Việt Nam  
(Nguyễn Đổng Chi, 2015) có một truyện cổ tích  
thần kỳ được đánh số thứ tự 135, với tên gọi kép  
là Ai mua hành tôi hay là Lọ nuớc thần (từ đây  
gọi truyện này là Lọ nước thần). Trong công  
trình Từ điển type truyện dân gian Việt Nam,  
type 215 này được gọi theo tên của truyện “Ai  
mua hành tôi” (Nguyễn Thị Huế, 2012: tr. 286),  
gồm bốn phần: người vợ xinh đẹp; tình yêu qua  
bức tranh; người phụ nữ có gương mặt u sầu và  
kết cục. Đây là type đầu tiên trong nhóm B của  
truyện cổ tích – Cổ tích thần kỳ. Truyện cổ tích  
này không thuộc số những truyện cổ tích đặc biệt  
nổi tiếng hoặc được phổ biến rộng rãi. Theo các  
1 Theo chúng tôi, tên type này phải được dịch là “công chúa  
bị bắt cóc” chứ không phải là “tình yêu khi thấy bức tranh”  
như cách dịch của nhóm tác giả trong Từ điển type truyện  
dân gian Việt Nam (Nguyễn Thị Huế, 2012: tr. 286).  
99  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
số đặc trưng về thi pháp xây dựng nhân vật  
người đẹp, về thi pháp điểm nhìn hay về môtip  
chính trong truyện. Do vậy, theo hướng tiếp cận  
thi pháp học và cùng với việc vận dụng các  
phương pháp nghiên cứu phân tích – tổng hợp,  
nhất là phương pháp nghiên cứu liên ngành,…  
bài viết sẽ nghiên cứu truyện cổ tích này để làm  
sáng tỏ các vấn đề trên.  
anh nhận mình là chủ nhân của bức tranh.  
Chúng theo anh về nhà, tìm thấy người đàn bà  
và đưa kiệu rước nàng về kinh đô mặc cho người  
chồng than khóc.  
Bị bắt vào cung, “người đàn bà không cười  
không nói, áo đẹp không mặc, đầu không chải  
và không cho một ai đến gần”. Vua buồn phiền  
vì “mọi thứ dỗ dành, dọa nạt đều không thể làm  
cho người ngọc nở một nụ cười hoặc nói lên một  
tiếng” nên hạ lệnh “ai có cách gì làm cho nàng  
cười nói lên được thì sẽ ban thưởng cho quan  
cao lộc hậu” nhưng tất cả đều vô hiệu.  
2. Tóm tắt cốt truyện  
Vì là một truyện cổ tích ít người biết đến, và  
cũng để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi sẽ  
tóm tắt cốt truyện này.  
Ngày xưa có anh chàng sống bằng nghề cày  
ruộng. Lần nọ, do cứu chim sẻ thoát khỏi nanh  
vuốt của quạ, anh được chim sẻ trả công cho một  
lọ nước thần.  
Anh chồng nghe tin này, nhổ mấy củ hành  
quẩy theo. Đến trước hoàng cung, anh rao to  
những câu: “Dọc bằng đòn gánh/ Củ bằng bình  
vôi/ Ai mua hành tôi/ Thì thương tôi với”. Nghe  
tiếng rao, nhận ra giọng chồng, nét mặt của vợ  
“mỗi lúc mỗi tươi”, rồi cô lệnh cho thị nữ “Hãy  
gọi người bán hành vào cho ta!”. Thấy mặt  
chồng, vợ anh cười lên. Vua nghĩ là do cây hành  
kỳ lạ mà người vợ cười nên cải trang “gánh hành  
để làm vui lòng người đẹp”. Khi vua cải trang,  
người vợ bảo thị nữ thả đàn chó ra cắn chết vua.  
Từ đó, anh chồng làm vua và ở với vợ trọn đời.  
3. Các đặc trưng thi pháp  
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật người đẹp  
Nhân vật cô gái đẹp xuất thân là một người  
dân thường, thậm chí là tầm thường, là “con nhà  
nông, quanh năm chân lấm tay bùn”. Trong  
Nhân vật cô gái đẹp trong truyện cổ tích người  
Việt, Nguyễn Thành Luân (2017) nhận thấy  
rằng: cô gái đẹp có nguồn gốc xuất thân là dân  
thường, xuất thân từ hàng quyền quý và xuất  
thân từ thần thánh, trong đó xuất thân từ dân  
thường vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất. Như vậy, cùng  
với niềm mơ ước về một xã hội bình đẳng, và  
với tinh thần nhân văn cao đẹp, dân gian đã dành  
rất nhiều sự quan tâm cho những người có địa vị  
thấp kém trong xã hội.  
Một thời gian sau, anh cưới vợ. Vợ anh  
“cũng con nhà nông, quanh năm chân lấm tay  
bùn, nên đen đủi, xấu xí2”. Tuy vậy, do tình cờ  
lấy lọ nước thần “xức khắp tóc tai mình mẩy”  
nên chị “trở nên xinh xắn trắng trẻo, nhan sắc  
mỹ miều ít ai sánh kịp”. Nước lan xuống cũng  
khiến mấy luống hành lớn phổng lên: củ to như  
bình vôi, dọc dài bằng đòn gánh. Chồng đi cày  
về nhìn mặt vợ thì “ngẩn cả người cứ tưởng là  
tiên sa xuống cõi trần”, nếu không có tiếng nói  
thì cơ hồ anh không nhận ra là vợ mình nữa. Anh  
“ngắm vợ mãi không chán mắt”.  
Để khỏi bê trễ công việc, anh thuê thợ vẽ  
hình vợ để mỗi khi ra đồng, anh treo bức tranh  
ở bờ ruộng để nhìn “cho thỏa”. Chẳng may, con  
quạ năm xưa sà xuống quắp lấy bức tranh mang  
đi thả xuống ở sân rồng (ở cung đình). “Cầm lấy  
bức truyền thần, vua ngắm nghía mãi không  
chán mắt, bụng bảo dạ: “Trong ba cung sáu viện  
của ta đã có nhiều người đẹp nhưng chưa có  
người đẹp nào đẹp bằng người đàn bà trong bức  
tranh này”. Lập tức, vua ra lệnh cho quan đại  
thần và một trăm thị vệ phải tìm cho được người  
đàn bà như trong tranh và mang về.  
Về ngoại hình nhân vật, truyện cổ tích không  
chú tâm xây dựng nhân vật chân dung (Nguyễn  
Xuân Đức, 2015: tr. 54) mà chú trọng vào các  
hành động của nhân vật. Do vậy, nếu có kể về  
nhân vật người đẹp, dân gian thường chỉ nói cô  
Để việc tìm tòi có hiệu quả, chúng bày trò  
mở hội để mọi người đổ về xem, rồi chúng đưa  
bức tranh ra nói là tình cờ nhặt được và tìm chủ  
nhân. Chiêu này đã làm anh chàng mắc mưu –  
2 Các phần trong ngoặc kép là được trích từ truyện kể “Ai  
cổ tích Việt Nam (Nguyễn Đổng Chi, 2015, tr. 986 – 989).  
mua hành tôi hay là Lọ nước thần” trong Kho tàng truyện  
100  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
là đẹp, còn đẹp như thế nào thì không được miêu  
tả. Chẳng hạn như: “nhan sắc người vợ diễm lệ  
ít ai sánh kịp” (Sự tích con muỗi) hay Công chúa  
Huyền Trân “nhan sắc tuyệt trần, những phi tần  
trong cung vua khó bề sánh kịp” (Sự tích thành  
Lồi),… Do chỉ làm nhiệm vụ điểm chứ không  
phải mô tả nên dân gian thường rất kiệm ngôn,  
thông thường chỉ dành một câu để khái quát về  
ngoại hình của nhân vật này. Tuy vậy, với  
truyện cổ tích Lọ nước thần, dân gian đã có  
những phá cách thú vị, bất ngờ. Đây là truyện  
có số lần đề cập, miêu tả về nhan sắc nhiều nhất  
– 3 lần. Cụ thể đó là những lần:  
có nhắc về chi tiết: sau khi gặp lại Tấm, “Cám  
thấy Tấm trở về lại trắng đẹp hơn xưa” (Nguyễn  
Tấn Đắc, 2013: tr. 266 - 298). Như thế, ở đây  
làn da trắng là tiêu chí số một, tiêu chí đầu tiên  
khi đánh giá ngoại hình. Truyện Lọ nước thần  
nói rõ hơn về quá trình này: trước đây vợ anh  
trai cày “cũng con nhà nông, quanh năm chân  
lấm tay bùn, nên đen đủi, xấu xí”; sau này khi  
đã xức lọ nước thần thì “chị ta trở nên xinh xắn  
trắng trẻo, nhan sắc mỹ miều ít ai sánh kịp”. Sự  
đối chứng này ta còn gặp trong truyện cổ tích  
Hà Ô Lôi.  
Không chỉ ở Việt Nam, ngay cả như hoàng  
hậu – mẹ của nàng Bạch Tuyết sống giữa trời  
Âu – nơi được xem là ưa chuộng làn da rám  
nắng cũng từng mơ ước “Giá mình có một đứa  
con da trắng như tuyết” (Lương Văn Hồng,  
2006: tr. 170). Xem ra đây không chỉ là ước mơ  
của người Việt, chủng Á mà của cả người châu  
Âu. Như vậy, trong một chừng mực nào đó, ở  
đây đen đủi đồng nghĩa với xấu xí, trắng trẻo  
đồng nhất với xinh đẹp.  
- Lần đầu là khi chị vợ tình cờ lấy lọ nước  
thần “xức khắp tóc tai mình mẩy” nên  
“trở nên xinh xắn trắng trẻo, nhan sắc mỹ  
miều ít ai sánh kịp”;  
- Lần thứ hai là cảm nhận của anh chồng về  
sự thay đổi nhan sắc của vợ đến nỗi anh  
“ngẩn cả người cứ tưởng là tiên sa xuống  
cõi trần” nên anh “ngắm vợ mãi không  
chán mắt”;  
- Lần thứ ba là cảm nhận của ông vua về  
bức truyền thần “vua ngắm nghía mãi  
không chán mắt, bụng bảo dạ: ‘Trong ba  
cung sáu viện của ta đã có nhiều người  
đẹp nhưng chưa có người đẹp nào đẹp  
bằng người đàn bà trong bức tranh này’”.  
Như vậy, nhan sắc của người vợ anh trai cày  
được dân gian mô tả khá kỹ, và có cả một quá  
trình biến đổi: từ đen đủi – xấu xí đến “xinh xắn  
trắng trẻo”. Ở đây, chúng tôi sẽ nói kỹ hơn về làn  
da trắng xinh – biểu tượng của vẻ đẹp nữ giới.  
Người Việt vẫn thường quan niệm “nhất  
dáng nhì da”. Tiêu chuẩn về dáng thì có thể cao  
thấp, mập ốm thay đổi từng thời nhưng để được  
xem là đẹp, là xinh thì làn da phải là làn da trắng.  
Cũng thế mà chúng ta không lạ gì khi đề cập đến  
nước da của nhân vật này dân gian đều miêu tả  
đây là cô gái có nước da trắng: “Nàng trở nên  
trắng trẻo xinh xắn” (Sự tích con khỉ); “Một cô  
gái da trắng môi son, mày ngài mắt phượng”  
(Người lấy cóc). Bản kể truyện Tấm Cám của  
Nguyễn Đổng Chi không thấy nhắc đến vẻ trắng  
đẹp của nàng Tấm nhưng bản của Vũ Ngọc Phan  
và các bản kể số 9, 10, 11, 13, 14 ở Bạc Liêu đều  
Như đã biết, người Việt nói riêng, các dân  
tộc thuộc vùng Đông Á, Bắc Á, Đông Trung Á  
nói chung thuộc chủng tộc Mongoloid. Họ mang  
những đặc điểm tiêu biểu của đại chủng Á như  
mắt nhỏ, mí góc, hơi xếch, mũi trung bình, gò  
má cao, tóc đen, thẳng, da vàng nhạt. Vậy tại  
sao người Việt xem làn da trắng là tiêu chí cao  
nhất khi đánh giá về cái đẹp của người con gái?  
Ban đầu người bị đột biến gen nổi bật khỏi  
sắc da vàng bình thường, với thời gian cùng các  
yếu tố văn hóa dần hình thành nên thị hiếu  
chuộng làn da trắng sáng. Bởi các cư dân của  
nền nông nghiệp lúa nước xem việc sở hữu làn  
da tối màu là do làm việc trên đồng ruộng đồng  
nghĩa với tầng lớp thấp. Thực tế cho thấy, chỉ  
những người có cuộc sống giàu sang, phú quý,  
có cuộc sống trong nhung lụa mới sở hữu được  
làn da trắng. Do vậy, các cư dân - nhất là với nữ  
giới luôn có một ước mơ cháy bỏng là có được  
một làn da trắng sáng. Nỗi ám ảnh này không  
chỉ có ở phụ nữ châu Á mà còn xuất hiện trong  
phụ nữ châu Phi, không chỉ có trong truyện cổ  
tích ngày xưa mà còn duy trì đến mãi hôm nay.  
Bởi mơ ước về làn da trắng đẹp cũng là ước mơ  
101  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
về một cuộc sống không còn lam lũ trên ruộng  
đồng, tức một cuộc sống sung sướng, ấm êm  
hơn. Như thế, rõ ràng là đằng sau ước mơ về làn  
da trắng sáng là cả một hoài bão về sự đổi đời,  
thậm chí là thay đổi số phận.  
khắp nơi”; chịu thương chịu khó “quanh năm  
chân lấm tay bùn”,… Và nhất là, cô luôn giữ  
lòng chung thủy đối với chồng: Ngay cả khi bị  
bắt vào cung – được sống trong nhung lụa,  
“người đàn bà không cười không nói, áo đẹp  
không mặc, đầu không chải và không cho một  
ai đến gần”. Lúc vua “dỗ dành” cũng không lay,  
khi vua “dọa nạt” vẫn không suy suyển. Trái lại,  
“hai vợ chồng rất thương yêu nhau” trong buổi  
hàn vi cũng như thời phú túc.  
Như vậy, đúng là truyện cổ tích rất kiệm  
ngôn trong việc miêu tả chân dung nhưng khi  
miêu tả, dân gian đã biết chọn những chi tiết đặc  
tả để diễn tả cái đẹp. Không chỉ có vẻ đẹp ngoại  
hình, nhân vật người đẹp còn được dân gian mô  
tả là có vẻ đẹp tâm hồn. Đó là người vợ đảm chữ  
công, chịu khó và giữ tiết hạnh – thủy chung  
trong đạo phu thê,… Đây cũng chính là hình ảnh  
của một người phụ nữ truyền thống Việt Nam.  
3.2. Môtip người đẹp không cười - nói  
Trước hết, cần khẳng định rằng motif người  
đẹp không cười - nói là motif khá quen thuộc  
trong truyện dân gian Việt Nam và thế giới.  
Chẳng hạn, truyện cổ tích Nga có câu chuyện  
Nàng công chúa không cười; còn ở Việt Nam  
cũng có truyện cổ tích Làm cho công chúa nói  
được, nội dung kể về một nàng công chúa vì  
nguyên do nào đó mà bổng nhiên không  
cười/nói. Vua cha truyền lệnh: ai làm cho công  
chúa cười/nói được thì sẽ được gả công chúa.  
Cuối cùng, có một anh hùng/ hoàng tử hay anh  
Mồ Côi (ở Việt Nam) đã làm được việc này và  
được cưới công chúa. Trong truyện cổ Andersen  
cũng có truyện Bầy chim thiên nga. Truyện kể  
rằng: do lòng ghen ghét, độc ác, mụ hoàng hâu  
– phù thủy đã biến mười một hoàng tử thành các  
con thiên nga, và biến nàng công chúa út Li dơ  
trở nên xấu xí. Theo sự mách bảo của bà tiên, để  
cứu được các hoàng tử thì nàng công chúa út  
phải lấy cây tầm ma, dệt thành mười một chiếc  
áo cho các anh. Trong thời gian này, nàng công  
chúa tuyệt đối “không được nói được cười”, nếu  
không sẽ làm ảnh hưởng đến tính mạng của các  
hoàng tử.  
Liên quan đến nghệ thuật miêu tả nhân vật  
người đẹp còn có một chi tiết nữa cũng cần làm  
sáng tỏ, đó là việc so sánh nhan sắc của nhân vật  
này. Truyện kể rằng: anh chồng đi cày về nhìn  
mặt vợ thì “ngẩn cả người cứ tưởng là tiên sa  
xuống cõi trần”. Thực tế khảo sát các truyện cổ  
tích cho thấy có rất nhiều nhân vật cô gái đẹp có  
nguồn gốc là những vị tiên. Đó là trường hợp  
của nàng Tú Uyên (trong truyện Tú Uyên), của  
công chúa Mộng Trang (Nợ duyên trong mộng),  
của nàng Giáng Hương (Sự tích động Từ Thức),  
của Chức nữ (Ả Chức chàng Ngưu),… Sở dĩ có  
hiện tượng này là vì truyện cổ tích nói chung –  
cách riêng truyện cổ tích thần kỳ là thể loại xuất  
hiện liền sau thần thoại. Nó chịu ảnh hưởng, kế  
thừa nhiều đặc điểm thi pháp từ thể loại này.  
Trong thế giới quan của họ vẫn thể hiện đậm nét  
trí tưởng tượng của lối tư duy không tự giác giữa  
thực và ảo, giữa người và thần – tiên.  
Trở lại vấn đề, câu hỏi đặt ra là: tiên là ai? tại  
sao dân gian hay ví nhan sắc của người đẹp với  
dung nhan của tiên? Theo Đào Duy Anh tiên là  
“những người trường sinh bất lão trong thần thoại  
(Đào Duy Anh, 1992: tr. 264). Đây cũng là  
những người đã tu luyện đắc đạo, có phép thuật.  
Trong quan niệm của dân gian, thần tiên là thế  
giới của những điều được xem là lý tưởng nhất,  
nơi có những con người tốt – đẹp sinh sống, là  
cách diễn tả về một sự vật, nơi chốn nào đó hoàn  
thiện đến mức tuyệt hảo, tuyệt mỹ. Như vậy, chi  
tiết anh chồng nhìn vợ mà “cứ tưởng là tiên sa  
xuống cõi trần” cũng đồng nghĩa với việc anh  
thừa nhận, công nhận nhan sắc của vợ mình rất  
đẹp, đẹp đến mức tuyệt trần, không ngôn từ nào  
diễn tả được. Ngày nay, chúng ta vẫn gặp dấu vết  
của quan niệm này khi nghe những câu ví von  
kiểu như “đẹp như tiên” hay “đẹp như tiên giáng  
trần” hay “tuyệt vời như thế giới thần tiên”.  
Không chỉ có nhan sắc xinh đẹp, nhân vật  
người đẹp còn được dân gian miêu tả là người  
đảm đang, biết tề gia nội trợ: “vợ ở nhà quét dọn  
Theo thống kê trong truyện Lọ nước thần, từ  
lúc người đẹp bị bắt vào cung, cụm từ “cười –  
102  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
nói” xuất hiện đến 10 lần. Rõ ràng, sự xuất hiện  
với tần số cao như vậy là có sự chủ ý, có ý đồ  
của tác giả dân gian. Trong đó 05 lần đầu – tức  
lúc mà vợ chồng đang sống cảnh chia xa, cụm  
từ này xuất hiện với nghĩa phủ định “không cười  
nói”; còn 05 lần sau, nó xuất hiện với nghĩa  
khẳng định – tích cực. Chúng tôi điểm qua các  
cung bậc tích cực này như:  
lên một tiếng”. Rõ ràng, ở đây tiếng cười của  
người vợ khi tái ngộ chồng là tiếng cười của sự  
vui mừng, của niềm hạnh phúc. Chúng tôi đặc  
biệt chú ý chi tiết tiếng cười của vợ chỉ bật lên,  
thốt ra từ khi nhận ra giọng chồng, từ khi nghe  
tiếng rao của chồng. Hình ảnh này cho chúng ta  
thấy được rằng: tiếng cười thực sự có sức mạnh,  
có ma lực mang lại sự sống, tạo ra sự sống và tái  
tạo sự sống. Trước đó, truyện kể rằng: Chồng đi  
cày về nhìn mặt vợ đã trở nên trắng xinh thì  
“ngẩn cả người”, nếu không có tiếng nói thì cơ  
hồ anh không nhận ra là vợ mình nữa. Trong ca  
dao Việt Nam, dân gian cũng cho rằng: “Chim  
khôn kêu tiếng rảnh rang/ Người khôn nói tiếng  
dịu dàng dễ nghe”. Như vậy, mỗi người có một  
tiếng nói/giọng nói riêng. Nói cách khác, tiếng  
nói/giọng nói gắn với con người, là cách thể  
hiện tính cách, bản tính của người đó. Vì thế,  
vợ/chồng nhận ra tiếng nói/ giọng nói của nhau  
cũng là nhận ra con người của nhau vậy. Chính  
vì vậy người Trung Quốc thường nói đồng  
thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.  
- Tiếng rao của anh chồng vọng vào cung  
càng rõ thì “nét mặt vợ anh tự nhiên mỗi  
lúc mỗi tươi”;  
- Khi nhìn thấy mặt chồng thì “vợ anh cười  
lên một tiếng”;  
- Rồi sau đó là “người đàn bà lần đầu tiên  
cười nói” hoặc “người đẹp nói cười” hay  
“vợ anh hàng hành cười ngặt nghẽo”.  
Trong Từ điển type truyện dân gian Việt  
Nam, đoạn này được gọi là “người đàn bà có nét  
mặt u sầu” (Nguyễn Thị Huế, 2012: tr. 287).  
Tuy nhiên, theo chúng tôi phần này nên được  
định danh là “người đàn bà không cười/nói” thì  
chính xác hơn.  
Tiếng cười là một phản ứng tự nhiên, là hành  
động thể hiện trạng thái cảm xúc – chủ yếu là  
tích cực của con người. Đây là là phản ứng chỉ  
riêng con người mới có. Tiếng cười được phân  
chia thành tiếng cười sinh lý (bị cù mà cười),  
tiếng cười bệnh lý (do rối loạn, do bị điên) và  
tiếng cười tâm lý. Cũng tương tự, tiếng nói (hay  
ngôn ngữ nói) là phương tiện giao tiếp chỉ riêng  
có ở con người. Nó là lớp vỏ để truyền tải tư  
tưởng, để bày tỏ tình cảm của con người, là  
phương tiện giao tiếp giữa con người với nhau,  
giữa con người và thế giới thần linh. Nhờ ngôn  
ngữ mà con người hiểu được nhau, nhận ra  
nhau. Thông thường, các truyện đều kể rằng  
nhân vật không cười thì cũng không nói hay nói  
cách khác hành động cười – nói thường song  
hành với nhau.  
Tiếng cười trong truyện Lọ nước thần là  
tiếng cười tâm lý, nó thể hiện niềm vui, sự hạnh  
phúc, sự đồng thuận và chấp nhận. Nó biểu hiện  
sức sống mãnh liệt, tràn đầy. Chính vì vậy mà  
khi nghe tiếng rao của anh chồng vọng vào thì  
“nét mặt vợ anh tự nhiên mỗi lúc mỗi tươi” và  
đến khi nhìn thấy mặt chồng thì “vợ anh cười  
Ở thái cực ngược lại, từ khi người vợ bị bắt  
vào cung – tức từ khi vợ chồng phải chia xa thì  
tiếng cười cũng… im bặt. Tình tiết này chúng ta  
cũng thấy xuất hiện trong truyện Thạch Sanh: từ  
lúc Thạch Sanh bị Lý Thông hãm hại, mạo nhận  
cướp công thì “công chúa buồn thương rầu rĩ và  
bặt câm, không hé môi nói nửa lời” làm cho việc  
tổ chức cưới xin của Lý Thông phải đình hoãn.  
Hành động không cười nói là một cách thể hiện  
thái độ bất bình, sự không thỏa hiệp trước những  
hành động bất công, sai trái. Chính vì thế mà nhà  
vua phải tìm mọi cách chữa trị cả bệnh lý, cả tâm  
bệnh để người đẹp nói được, để người đẹp chấp  
nhận, đón nhận nhà vua.  
Ngoài ý nghĩa vừa nêu, các nhà nghiên cứu  
còn cho rằng, môtip người đẹp không cười/nói  
còn phản ánh các nghi lễ mang tính ma thuật.  
Khi nghiên cứu về tiếng cười nghi lễ trong  
folklore, Propp đã dẫn ra rất nhiều truyện kể để  
chứng minh, giải thích rằng: tiếng cười là một  
biện pháp ma thuật dùng để tạo ra sự sống  
(Nhiều tác giả, 2003: tr 590 - 594). Trong quan  
niệm của nhiều tộc người thì thế giới người chết  
là thế giới không có tiếng cười. Một số truyện  
103  
VAN HIEN UNIVERSITY JOURNAL OF SCIENCE  
VOLUME 6 NUMBER 3  
kể rằng khi người sống du hành vào thế giới kẻ  
chết họ luôn phải tuân thủ nguyên tắc này:  
không được mở miệng, không được cười, nếu  
không sẽ bị phát hiện và trừ khử. Sự cấm kỵ này,  
một mặt là sự thể hiện “sự nhập vai, nhập thân”  
của người thực hành nghi lễ, mặt khác có thể  
xem hành động này như là một hình thức thử  
thách để nhân vật được nhận phần thưởng. Ở  
Việt Nam, trước đây trong nghi lễ phồn thực hay  
trong các phiên chợ “Âm phủ” của một số địa  
phương ở miền Bắc Việt Nam vẫn có điều cấm  
kỵ cho những người tham gia là phải làm trong  
bóng tối và không được nói (Nguyễn Bích Hà,  
1998: tr. 83-84).  
là một việc làm khôn khéo, nó tránh được sự đơn  
điệu vì tác phẩm có nhiều người cùng tham gia  
kể chuyện. Tác giả mượn nhân vật kể chuyện  
nói lên những điều mà tác giả không tiện nói ra.  
Cũng có thể mượn lời nhân vật để tăng tính  
khách quan, tạo nhiều cách đánh giá khác nhau  
làm tăng cường tính đối thoại dân chủ. Đây là  
đoạn cảm nhận đó: anh chồng đi làm về “nhìn  
mặt vợ thì ngẩn cả người cứ tưởng là tiên sa  
xuống cõi trần”. Bên cạnh đó, truyện còn xuất  
hiện chi tiết khá đặc biệt: người họa sĩ vẽ “bức  
truyền thần”. Ở đây, điểm nhìn đã được tác giả  
trao cho người họa sĩ. Đây là điểm nhìn trực tiếp  
– một sáng tạo của dân gian.  
Như vậy, môtip người đẹp không cười – nói  
mang một ý nghĩa rất quan trọng trong truyện cổ  
tích Lọ nước thần. Một mặt, môtip này diễn kể,  
bao hàm hết phần nội dung mang tính kịch tính  
nhất trong cốt truyện (là phần người đẹp bị bắt  
cóc và quá trình tìm gặp lại), mặt khác nó còn  
phản ánh, lưu dấu nhiều nét văn hóa thú vị -  
tiếng cười ma thuật là một trong số đó.  
Ngoài ra, trong truyện còn xuất hiện một  
điểm nhìn khá lạ, và độc đáo, đó là điểm nhìn  
gián tiếp. Ở đây, dân gian cũng trao cho điểm  
nhìn cho nhân vật nhưng là để nhìn… gián tiếp  
qua bức tranh3. Tuy chỉ là nhìn qua tranh nhưng  
do tài năng, họa sĩ vẽ đạt đến mức “truyền thần”  
nên cái nhìn gián tiếp cũng như trực tiếp. Hay  
nói cách khác, ở đây điểm nhìn của người họa sĩ  
với nhân vật anh chồng, ông vua đã đạt đến mức  
đồng điệu, hòa làm một. Có thế ông vua mới  
bụng bảo dạ: “Trong ba cung sáu viện của ta đã  
có nhiều người đẹp nhưng chưa có người nào  
đẹp bằng người đàn ba trong bức tranh này”. Có  
thế mỗi khi ra đồng làm việc anh chồng mới  
“treo bức tranh ở bờ ruộng để nhìn cho thỏa”.  
Điểm nhìn này một mặt vẫn đảm bảo tính khách  
quan, mặt khác tạo nên sự lạ hóa, đột biến.  
Có khi dân gian đã mở rộng điểm nhìn bằng  
cách đối chiếu, so sánh – thường là so sánh nhất  
- cực cấp với thế giới xung quanh. Dạng so sánh  
này cho người đọc biết rằng: đây chính là người  
đẹp nhất trong làng, trong nước, trong “ba cung  
sáu viện”. Công thức của dạng so sánh này là “ít  
ai/khó bề sánh kịp” hay “chưa có người nào đẹp  
bằng”. Chẳng hạn như: “chị ta trở nên xinh xắn  
trắng trẻo, nhan sắc mỹ miều ít ai sánh kịp” hay  
“trong ba cung sáu viện của ta đã có nhiều người  
đẹp nhưng chưa có người nào đẹp bằng người  
đàn ba trong bức tranh này”.  
3.3. Về thi pháp điểm nhìn  
Điểm nhìn (point of view) không chỉ đơn  
thuần là thị giác, mà nó còn liên quan đến việc  
cảm nhận và quan điểm của người kể chuyện.  
Điều đó có nghĩa là điểm nhìn bao hàm ý nghĩa  
sâu xa hơn, đó là sự phán đoán về giá trị, đạo  
đức và nhận xét…  
Truyện kể dân gian được hình thành từ lời kể  
của các nghệ nhân. Thông thường, người kể  
cũng đồng thời chính là tác giả của truyện. Điểm  
nhìn trần thuật chủ yếu từ vai người kể chuyện  
– tức nhân vật xưng tôi, ngôi thứ nhất số ít. Hay  
nói cụ thể hơn, người kể là kẻ “biết tuốt mọi sự”.  
Do vậy, lời nhận định về ngoại hình của người  
đẹp như “chị ta trở nên xinh xắn trắng trẻo, nhan  
sắc mỹ miều ít ai sánh kịp” cũng chính là nhận  
định của chính tác giả - người kể. Đây là lời kể  
mang tính trung tính, thể hiện sự khách quan nên  
dễ thuyết phục người nghe.  
Có khi, tác giả trao quyền kể chuyện cho  
nhân vật, tức trao điểm nhìn cho nhân vật. Đây  
3 Ngoài truyện này, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam còn  
có truyện Tú Uyên cũng đề cập đến bức tranh. Như vậy,  
đây là hai truyện hiếm hoi có đề cập đến hội họa của người  
Việt. Cùng với hội họa, thi phú, âm nhạc cũng đã “thâm  
nhập” vào truyện cổ tích. Đây là một gợi mở thú vị mà khi  
có dịp, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu.  
104  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN  
TẬP 6 SỐ 3  
Aarne, A. (1910). Verzeichnis der Marchentypen.  
Thompson, S. (trans.) (1961). The Type of the  
Folktale: Classification and Bibliography.  
588 pp.  
Nguyễn Đổng Chi (2015). Kho tàng truyện cổ tích  
Việt Nam (tập 1 - tái bản lần thứ 8). Tp. Hồ  
Chí Minh, Nxb Giáo dục.  
Như vậy, ở đây dân gian đã vận dụng nhiều  
điểm nhìn khác nhau đề soi chiếu, để làm sáng  
tỏ hình ảnh cô gái đẹp. Nhờ sự sáng tạo này làm  
cho hình ảnh cô gái đẹp hiện lên đủ sức thuyết  
phục người đọc, người nghe.  
4. Kết luận  
Như vậy, Lọ nước thần là một truyện cổ tích  
thần kỳ tiêu biểu, thuộc type truyện “Người  
đẹp/công chúa bị bắt cóc” mà gắn liền với nó là  
motif người đẹp không cười - nói. Truyện có rất  
nhiều đặc trưng thi pháp trong việc xây dựng  
nhân vật – nhất là chi tiết đặc tả làn da trắng.  
Bên cạnh đó, dân gian đã vận dụng nhiều góc  
nhìn khác nhau để làm cho hình tượng người  
đẹp hiện lên đủ sức thuyết phục, cuốn hút. Một  
mặt, những chi tiết, thủ pháp này thể hiện quan  
niệm, thị hiếu thẩm mỹ của người Việt, mặt  
khác nó cũng cho thấy những nét cách tân, sáng  
tạo của tác giả dân gian.  
Nguyễn Tấn Đắc (2013). Về type, motif và tiết truyện  
Tấm Cám. Hà Nội: Nxb Thời Đại.  
Nguyễn Xuân Đức (2015). Thi pháp truyện cổ tích  
thần kỳ người Việt. Hà Nội, Nxb Văn hóa  
Dân tộc.  
Nguyễn Bích Hà (1998). Thạch Sanh và kiểu truyện  
dũng sĩ trong truyện cổ Việt Nam Á. Hà Nội,  
Nxb Giáo dục.  
Lương Văn Hồng (2006). Truyện cổ Grimm – toàn  
tập, tái bản lần thứ 8. Hà Nội, Nxb Văn học.  
Nguyễn Thị Huế (chủ biên) (2012). Từ điển type truyện  
dân gian Việt Nam. Hà Nội, Nxb Lao động.  
Nguyễn Thành Luân (2017). Nhân vật cô gái đẹp  
trong truyện cổ tích người Việt. Luận văn  
Thạc sĩ, Thư viện trường Đại học Văn Hiến.  
Nhiều tác giả dịch thuật (2003). Tuyển tập V. Ia.  
Propp - tập II, “Tiếng cười nghi lễ trong  
folklore”. Hà Nội, Nxb Văn hóa dân tộc, tr.  
589-654.  
Tài liệu tham khảo  
Đào Duy Anh (1992). Hán Việt tự điển. Hà Nội, Nxb  
Khoa học Xã hội.  
105  
pdf 7 trang yennguyen 24360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc trưng thi pháp truyện cổ tích Lọ nước thần", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_trung_thi_phap_truyen_co_tich_lo_nuoc_than.pdf