Thực trạng và định hướng phát triển du lịch bền vững tại thành phố Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 72 (06/2020)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 72 (06/2020)  
THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG  
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Current status and orientation of sustainable tourism development  
in Ho Chi Minh City  
Nguyễn Hồng Sơn(1), Lê Ngọc Giao(2)  
(1),(2)Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM  
TÓM TẮT  
Với ưu thế nổi bật về lịch sử, văn hóa, tôn giáo và kết cấu hạ tầng so với mặt bằng chung của cả nước,  
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang tiên phong đề xuất và đưa vào thử nghiệm nhiều loại hình du  
lịch mới nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng sẵn có. Tuy vậy, trong những năm qua, sự phát triển  
nóng của ngành du lịch của Thành phố trong điều kiện kết cấu hạ tầng vật chất xuống cấp và quá tải  
cũng tạo ra những áp lực và thách thức không nhỏ. Với mục đích định hướng cho ngành du lịch của  
Thành phố phát triển một cách bền vững dài hạn, bài viết này đề xuất một số tiêu chí phát triển du lịch  
bền vững dựa vào hoàn cảnh cụ thể của Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích những mặt hạn chế chủ yếu  
đang tồn tại của ngành du lịch, từ đó kiến nghị hướng khắc phục và một số giải pháp về kinh tế, xã hội,  
môi trường.  
Từ khóa: du lịch bền vững, giải pháp kinh tế, giải pháp xã hội, giải pháp môi trường  
ABSTRACT  
With the prominent advantages of history, culture, religion and infrastructure compared to the whole  
country, Ho Chi Minh City is now proposing and launching new types of tourism to exploit its  
potentials effectively. However, in recent years, the rapid development of the city’s tourism in the  
context of degraded and overloaded infrastructure has also created a lot of pressure and challenge.  
Towards a more sustainable orientation in the tourism sector of Ho Chi Minh City, this article will  
outline some of the criteria for developing sustainable tourism based on the specific circumstances of  
Ho Chi Minh City and analyze the existing major limitations, thereby proposing a number of solutions  
to promote the sustainable tourism of the city with the focus on economic, social and environmental  
solutions.  
Keywords: sustainable tourism, economic solutions, social solutions, environmental solutions  
ảnh hưởng không tốt đến các nền văn hóa  
bản địa và đối với sự phát triển lâu dài của  
chính ngành du lịch. Từ đó xuất hiện khái  
niệm “Phát triển du lịch bền vững” nhằm  
hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động du  
lịch thuần túy, đảm bảo cho sự phát triển  
1. Đặt vấn đề  
Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước,  
các nhà khoa học và các nhà quản lý môi  
trường đã nhận thấy rằng việc phát triển du  
lịch với mục đích đơn thuần về kinh tế  
đang đe dọa hủy hoại môi trường sinh thái,  
125  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 72 (06/2020)  
lâu dài của ngành du lịch. Một số loại hình  
du lịch bước đầu quan tâm đến khía cạnh  
môi trường đã xuất hiện như “du lịch sinh  
thái”, “du lịch khám phá”, “du lịch mạo  
hiểm”… góp phần củng cố một hướng phát  
triển mới kết hợp giữa du lịch và bảo vệ  
môi trường sinh thái.  
Khái niệm “Du lịch bền vững” ở Việt  
Nam còn tương đối mới cho nên việc vận  
dụng ở từng địa phương chưa có sự thống  
nhất. Tuy nhiên thông qua các bài học kinh  
nghiệm thực tế về phát triển du lịch tại  
nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế  
giới, đồng thời nhận thức đầy đủ về một  
phương thức phát triển du lịch có trách  
nhiệm với môi trường, Luật Du lịch Việt  
Nam (2005), Chương 1, Điều 14, Khoản 21  
ghi rõ: “Du lịch bền vững là sự phát triển  
du lịch đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà  
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng  
nhu cầu về du lịch trong tương lai”.  
hội. Do đó, giảm tiêu thụ quá mức và giảm  
chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn  
kém cho việc phục hồi tổn hại về môi  
trường và đóng góp cho chất lượng du lịch  
ngày càng tốt hơn.  
Duy trì tính đa dạng tài nguyên du lịch  
Tính đa dạng về tài nguyên du lịch là  
yếu tố đặc biệt quan trọng tạo nên sự hấp  
dẫn của du lịch, làm thỏa mãn nhu cầu  
ngày càng cao của du khách. Trong quá  
trình xây dựng và thực hiện các dự án quy  
hoạch du lịch cũng như sự phát triển du  
lịch do nhiều nguyên nhân khác nhau  
thường làm mất đi tính đa dạng của thiên  
nhiên, phá vỡ cẫu trúc văn hóa - xã hội  
truyền thống. Vì vậy, trong quá trình quy  
hoạch cần phải xây dựng và thực hiện các  
phương thức cũng như chiến lược nhằm  
duy trì bảo tồn tính đa dạng của tài nguyên  
du lịch.  
1.2. Các tiêu chí đánh giá du lịch bền  
vững  
1.1. Yêu cầu của du lịch bền vững  
Du lịch phải gắn với bảo tồn và sử  
dụng bền vững các nguồn tài nguyên tự  
nhiên, tài nguyên xã hội và nhân văn  
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp  
có tính liên ngành, liên vùng, và xã hội hóa  
cao với sự tham gia của nhiều thành phần  
xã hội. Sự phát triển của du lịch phụ thuộc  
nhiều vào các điều kiện kinh tế, chính trị,  
xã hội... của đất nước cũng như của khu  
vực và trên thế giới. Chính vì vậy, để có  
thể đánh giá phát triển du lịch bền vững  
một cách chính xác, phải dựa vào các tiêu  
chí cơ bản sau:  
Du lịch là một ngành kinh tế có định  
hướng tài nguyên rõ rệt; tài nguyên du lịch  
được coi là tài sản quan trọng nhất, là mục  
đích khám phá và thưởng thức của du khách.  
Hạn chế việc sử dụng quá mức tài  
nguyên và giảm thiểu chất thải ra môi trường  
Việc tiêu thụ quá mức tài nguyên  
không chỉ dẫn đến sự hủy hoại môi trường  
và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, mà còn  
không đảm bảo nguồn tài nguyên cho phát  
triển lâu dài của ngành du lịch. Các chất  
thải từ dịch vụ du lịch, hoạt động của du  
khách, chất thải của phương tiện vận  
chuyển khách... nếu không được thu gom,  
xử lý đúng yêu cầu kỹ thuật, sẽ là nguyên  
nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy  
thoái tài nguyên, xáo trộn về văn hóa, xã  
* Các tiêu chí về kinh tế:  
Phát triển du lịch bền vững phải đảm  
bảo sự tăng trưởng liên tục và ổn định lâu  
dài của các chỉ tiêu kinh tế du lịch (lượng  
khách du lich, thu nhập từ du lịch, cơ sở  
vật chất kỹ thuật phục vụ khai thác tài  
nguyên du lịch.v.v.). Theo xu thế phát triển  
hiện nay ở trong nước và trên thế giới, các  
chỉ tiêu kinh tế được phát triển liên tục  
trong nhiều năm (thường là trên dưới 10  
126  
NGUYỄN HỒNG SƠN - LÊ NGỌC GIAO  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
năm) nếu ở mức trung bình khoảng 7–  
10%/ năm thì được coi là phát triển bền  
vững. Với tiêu chí này, cần đề cập đến  
những chỉ tiêu cụ thể sau:  
đo phản ánh trình độ phát triển của ngành  
du lịch. Sự phát triển cả về mặt số lượng,  
chất lượng, chủng loại của hệ thống cơ sở  
vật chất kỹ thuật ảnh hưởng rất lớn đến  
việc đáp ứng nhu cầu của khách và khả  
năng hấp dẫn, thu hút khách đến với điểm  
du lịch đó. Vì vậy, để có một hệ thống cơ  
sở vật chất kỹ thuật có chất lượng cao thì  
cần phải chú trọng đầu tư.  
Chỉ tiêu nguồn nhân lực trong du lịch  
Chất lượng đội ngũ lao động được đào  
tạo không chỉ là yếu tố thu hút khách, nâng  
cao uy tín của ngành mà còn là yếu tố cạnh  
tranh trong việc thu hút khách, đảm bảo sự  
phát triển du lịch bền vững. Công tác đào  
tạo đội ngũ cán bộ về mặt chuyên môn bên  
cạnh những kỹ năng nghề nghiệp giỏi, khả  
năng giao tiếp tốt, thông thạo ngoại ngữ,  
cần được trang bị kiến thức về tài nguyên,  
quản lý môi trường, luật môi trường và hệ  
thống kiến thức sâu rộng về xã hội. Chất  
lượng đội ngũ lao động sẽ ảnh hưởng trực  
tiếp đến chất lượng của sản phẩm du lịch,  
chất lượng dịch vụ và kết quả cuối cùng là  
ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, sự tăng  
trưởng của các chỉ tiêu du lịch khác.  
Chỉ tiêu khách du lịch  
Số lượng tuyệt đối về khách du lịch, số  
ngày lưu trú trung bình, số khách quay trở  
lại từ lần thứ hai, khả năng thanh toán  
trung bình, mức độ hài lòng của khách.v.v.  
Để đánh giá được tính bền vững hay  
không, chỉ tiêu này phải tăng trưởng liên  
tục năm này qua năm khác trong thời gian  
tối thiểu khoảng chục năm hoặc lâu hơn.  
Chỉ tiêu thu nhập và tổng sản phẩm  
quốc nội ngành du lịch (GDP du lịch)  
Thu nhập từ hoạt động du lịch là một  
chỉ tiêu quan trọng đối với sự phát triển du  
lịch cả nước nói chung và của từng địa  
phương nói riêng, là thước đo mức độ phát  
triển và sự thành công của ngành du lịch.  
Hoạt động du lịch mang ý nghĩa kinh tế và  
hướng tới mục tiêu quan trọng là thu nhập,  
lợi nhuận và đóng góp ngân sách cho nhà  
nước. Thu nhập du lịch bao gồm tất cả các  
khoản thu được do khách du lịch chi trả  
cho dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển  
cho khách, các dịch vụ vui chơi giải trí,  
mua sắm hàng lưu niệm và các dịch vụ bổ  
sung khác. Sự phát triển và gia tăng liên  
tục của chi tiêu GDP không chỉ đảm bảo  
cho sự phát triển bền vững về mặt kinh tế,  
mà còn cho thấy vị trí của ngành du lịch  
trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Tỷ  
trọng càng cao, ổn định và tăng trưởng theo  
thời gian thì ngành du lịch càng phát triển  
gần với mục tiêu phát triển bền vững.  
Chỉ tiêu hệ thống cơ sở vật chất kỹ  
thuật du lịch  
* Các tiêu chí về tài nguyên - môi  
trường:  
Phát triển du lịch bền vững phải khai  
thác và sử dụng một cách hợp lý, có hiệu  
quả các tiềm năng tài nguyên và điều kiện  
môi trường. Việc khai thác và sử dụng  
nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch cần  
được quản lý và giám sát để đáp ứng nhu  
cầu hiện tại và đảm bảo cho nhu cầu phát  
triển du lịch trong tương lai. Tiêu chí này  
bao gồm các chỉ tiêu sau:  
Số lượng các khu, điểm, du lịch được  
đầu tư tôn tạo và bảo tồn  
Đây là hạt nhân trong phát triển du  
lịch, trong đó tài nguyên du lịch đóng vai  
trò trung tâm. Thực tế cho thấy tài nguyên  
Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du  
lịch (bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống,  
vui chơi giải trí, các phương tiện vận  
chuyển, các văn phòng lữ hành...) là thước  
127  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 72 (06/2020)  
du lịch càng phong phú, càng đặc sắc thì  
sức hấp dẫn và hiệu quả du lịch càng cao.  
Ở những địa phương càng có nhiều khu,  
điểm du lịch được đầu tư, bảo tồn, tôn tạo  
thì chứng tỏ hoạt động phát triển du lịch ở  
nơi đó càng đáp ứng được mục tiêu phát  
triển bền vững. Theo tổ chức du lịch thế  
giới, nếu tỷ lệ này vượt quá 50% thì hoạt  
động du lịch được xem là trong trạng thái  
phát triển bền vững.  
góp càng cao và đảm bảo cho việc khai  
thác các nguồn tài nguyên phục vụ phát  
triển du lịch theo hướng bền vững. Vì vậy  
đây là tiêu chí không thể thiếu trong việc  
đánh giá sự phát triển du lịch bền vững về  
mặt tài nguyên - môi trường.  
* Các tiêu chí về xã hội:  
Trong phát triển du lịch bền vững đòi  
hỏi ngành du lịch phải có những đóng góp  
cụ thể cho quá trình phát triển của toàn xã  
hội: Tạo công ăn việc làm cho người lao  
động, tham gia xóa đói giảm nghèo, nâng  
cao chất lượng cuộc sống, chia sẻ lợi ích từ  
các hoạt động du lịch, đảm bảo sự công  
bằng trong phát triển, góp phần hỗ trợ các  
ngành kinh tế khác cùng phát triển.v.v.  
Các tiêu chí về xã hội chủ yếu là:  
Áp lực lên môi trường - tài nguyên tại  
các khu, điểm du lịch  
Một trong những mục tiêu mà phát  
triển bền vững hướng tới là bảo vệ môi  
trường. Việc phát triển quá nhanh các hoạt  
động du lịch mà không chú trọng đến công  
tác đánh giá và quản lý tác động đến môi  
trường tại các khu vực phát triển du lịch sẽ  
là nguyên nhân chính gây ra những hậu quả  
nghiêm trọng về môi trường và kết quả là  
sự phát triển du lịch thiếu bền vững. Để  
hạn chế những tác động tiêu cực và quản lý  
nguồn tài nguyên - môi trường một cách có  
hiệu quả cần lưu ý đến vấn đề giảm thiểu  
các chất thải, mức độ kiểm soát các hoạt  
động du lịch, mức độ đầu tư bảo tồn và duy  
trì tính đa dạng sinh học, vấn đề sức chứa  
tại các điểm du lịch.  
Mức độ phát triển hệ thống các doanh  
nghiệp du lịch vừa và nhỏ  
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị  
trường, đòi hỏi các doanh nghiệp du lịch  
phải có sự thích nghi cao đối với những  
thay đổi bởi nhiều yếu tố khách qua và chủ  
quan. Để hạn chế được những rủi ro trong  
qua trình hoạt động thì cần phải phát triển  
hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ.  
Điều này sẽ tạo công ăn việc làm cho một  
bộ phận không nhỏ người dân lao động ở  
địa phương, cải thiện chất lượng cuộc  
sống, nâng cao dân trí, thu hút các nguồn  
lực phát triển du lịch, phù hợp với tính chất  
xã hội hóa cao của du lịch, đảm bảo sự  
phát triển du lịch bền vững về mặt kinh tế,  
xã hội.  
Mức độ đóng góp từ thu nhập du lịch  
cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên  
và bảo vệ môi trường  
Việc khai thác và sử dụng nguồn tài  
nguyên phục vụ du lịch không chỉ mang lại  
nguồn thu cho ngành du lịch mà còn đóng  
góp cho cộng đồng địa phương, cơ quan  
chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch.  
Nguồn thu này sẽ đóng góp vào mục đích  
tôn tạo, bảo tồn và nâng cấp các nguồn tài  
nguyên đó. Mức độ đóng góp của ngành du  
lịch cho công tác bảo tồn được thể hiện qua  
tỷ lệ giữa phần đóng góp và tổng nguồn  
thu. Tỷ lệ này càng lớn thì mức độ đóng  
Tác động đến xã hội từ chính các hoạt  
động du lịch  
Du lịch là một ngành mang tính xã hội  
hóa cao, vì vậy các hoạt động phát triển du  
lịch không tránh khỏi những tác động  
mạnh mẽ lên nhiều mặt của đời sống xã hội  
trong đó bao gồm cả 2 mặt là tích cực và  
tiêu cực. Để đảm bảo cho sự phát triển du  
128  
NGUYỄN HỒNG SƠN - LÊ NGỌC GIAO  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
lịch bền vững, vấn đề đặt ra ở đây là cần  
phát huy hơn nữa những mặt tích cực và  
kiểm soát, hạn chế những tiêu cực từ hoạt  
động này.  
Mức độ hài lòng và hợp tác của cộng  
đồng địa phương đối với các hoạt động du  
lịch  
Để đảm bảo phát triển du lịch bền  
vững cần có sự ủng hộ, hợp tác của cộng  
đồng địa phương – chủ nhân của các nguồn  
tài nguyên. Họ chính là người bảo vệ  
những tài nguyên và môi trường du lịch.  
Mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư địa  
phương đối với các hoạt động du lịch sẽ  
phản ánh mức độ bền vững của du lịch  
trong quá trình phát triển.  
yếu là phù sa cũ và phù sa mới tạo lập nên.  
- Sông ngòi: trên địa bàn Thành phố  
Hồ Chí Minh có hàng trăm sông ngòi, kênh  
rạch nhưng sông lớn không nhiều, lớn nhất  
là sông Sài Gòn với độ dài đoạn chảy qua  
Thành phố khoảng 106 km; hệ thống  
đường sông từ Thành phố lên miền Đông  
và xuống các tỉnh miền Tây, sang  
Campuchia đều thuận lợi; Thành phố có  
15km bờ biển.  
- Khí hậu: chia làm hai mùa rõ rệt;  
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng  
mưa bình quân trong một năm là 1.979mm;  
mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau;  
nhiệt độ trung bình năm 27,55ºC, không có  
mùa đông.  
2. Điều kiện và tiềm năng phát triển  
du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh  
2.1. Một số thông tin cơ bản về  
Thành phố Hồ Chí Minh  
- Diện tích: 2.095,5 km².  
- Dân số: 8.993 nghìn người (TCTK  
1/4/2019).  
* Tiềm năng phát triển du lịch:  
Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là  
trung tâm du lịch lớn nhất nước, thu hút  
khoảng 60% lượng khách quốc tế đến Việt  
Nam hàng năm. Sở dĩ như vậy vì ngoài cơ  
sở hạ tầng khá tốt, giao thông tương đối  
thuận tiện, thành phố là một nơi có tài  
nguyên du lịch phong phú. Nơi đây là một  
vùng đất gắn liền với lịch sử đấu tranh  
giành độc lập của dân tộc kể từ khi thực  
dân Pháp đặt chân lên Việt Nam. Thành  
phố cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi  
tìm đường cứu nước (1911). Gắn liền với  
sự kiện đó, cảng Nhà Rồng và Bảo tàng Hồ  
Chí Minh là một di tích quan trọng, thu hút  
nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.  
Các di tích cách mạng khác như địa  
đạo Củ Chi, hệ thống các bảo tàng, nhà hát,  
nhà văn hoá, các công trình kiến trúc thời  
Pháp là những điểm du lịch hấp dẫn. Gần  
đây Thành phố đã đầu tư nhiều khu du lịch  
như Thanh Đa, Bình Qưới, nhiều khu vui  
chơi giải trí như Đầm Sen, Thảo Cầm  
Viên, Kỳ Hoà, công viên Nước, Suối  
Tiên... đã thu hút và hấp dẫn du khách.  
Hiện nay, Thành phố đang tiến hành tôn  
- Các quận, huyện:  
+ Quận: Quận 1, Quận 2, Quận 3,  
Quận 4, Quận 5, Quận 6, Quận 7, Quận 8,  
Quận 9, Quận 10, Quận 11, Quận 12, Tân  
Bình, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức,  
Gò Vấp, Bình Tân, Tân Phú.  
+ Huyện: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn,  
Củ Chi, Bình Chánh.  
- Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer,  
Chăm.  
2.2. Điều kiện tự nhiên  
Lãnh thổ Thành phố Hồ Chí Minh có  
tọa độ địa lý 10º22'13" – 11º22'17" vĩ độ  
Bắc và 106º01'25" – 107º01'10" kinh độ  
Đông. Phía bắc giáp Tây Ninh, Bình  
Dương, phía đông giáp Đồng Nai, phía  
nam giáp biển Đông và Tiền Giang, phía  
tây giáp Long An.  
- Thổ nhưỡng: đất của thành phố chủ  
129  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 72 (06/2020)  
tạo các di tích lịch sử, các công trình kiến  
trúc cổ, đầu tư cho hệ thống bảo tàng, khôi  
phục nền văn hoá truyền thống kết hợp với  
tổ chức các lễ hội, khôi phục văn hoá miệt  
vườn, làng hoa để phát triển một cách vững  
chắc ngành du lịch của Thành phố.  
Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ  
Chí Minh, hiện nay Thành phố có 144 di  
sản thiên nhiên, di sản văn hóa, các khu,  
điểm du lịch và loại hình du lịch. Thành  
phố có nhiều ưu thế để phát triển du lịch,  
dịch vụ, là một trong những trung tâm  
trung chuyển, đầu mối tiếp nhận khách  
quốc tế và nội địa quan trọng của cả nước,  
với đường bay thẳng đến nhiều quốc gia  
trên thế giới, hàng năm đón nhận trên 20  
triệu lượt hành khách.  
Bên cạnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh  
còn là nơi tập trung nhiều các cơ sở lưu trú,  
ăn uống, cơ sở dịch vụ mua sắm, cơ sở tổ  
chức hội nghị du lịch cao cấp hàng đầu của  
Việt Nam, hiện các cơ sở này đang giải  
quyết việc làm cho khoảng 81.000 người  
dân Thành phố và các tỉnh, thành khác.  
Ngoài ra, Thành phố còn là nơi có lực  
lượng lao động trực tiếp, có trình độ đào  
tạo và kinh nghiệm trong ngành du lịch lớn  
nhất nước.  
Với hơn 300 năm hình thành và phát  
triển, Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều  
công trình kiến trúc cổ như Nhà Rồng, đền  
Quốc Tổ, dinh Xã Tây, Nhà hát lớn, Bưu  
điện, hệ thống các ngôi chùa cổ (chùa Giác  
Lâm, chùa Bà Thiên Hậu, chùa Tổ Đình  
Giác Viên...), hệ thống các nhà thờ cổ (Đức  
Bà, Huyện Sỹ, Thông Tây Hội, Thủ  
Đức...). Nhìn chung, một trong những đặc  
trưng văn hoá của 300 năm lịch sử đất Sài  
Gòn - Gia Định, nơi hội tụ nhiều dòng chảy  
văn hoá, là “cơ cấu kiến trúc” Việt - Hoa -  
châu Âu. Một nền văn hoá kết hợp hài hoà  
giữa truyền thống dân tộc của người Việt  
với những nét đặc sắc của văn hoá phương  
Bắc và phương Tây.  
Một số di sản thiên nhiên, di sản văn  
hóa, các khu, điểm du lịch tiêu biểu có thể  
kể đến như Khu dự trữ sinh quyển Cần  
Giờ, Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi,  
Công viên Văn hóa Đầm Sen, Khu du lịch  
Văn hóa Suối Tiên, Làng Du lịch Bình  
Quới, Khu du lịch Vàm Sát, Bảo tàng  
thành phố, Dinh Thống Nhất, Bảo tàng  
Chứng tích Chiến tranh, Chợ Bến Thành,  
Bưu điện thành phố, Nhà thờ Đức Bà... (Sở  
Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh, 2016).  
3. Những thành tựu và những tồn tại  
của ngành du lịch Thành phố Hồ Chí  
Minh trong bối cảnh hội nhập  
3.1. Điểm qua một số thành tựu đã  
đạt được của Thành phố Hồ Chí Minh  
trong những năm gần đây  
Với những điều kiện như đã phân tích  
ở trên, thời gian qua, ngành du lịch Thành  
phố Hồ Chí Minh luôn giữ vị trí, vai trò  
2.4. Giao thông  
Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối  
giao thông của cả miền Nam bao gồm  
đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường  
không. Từ Thành phố đi Hà Nội có quốc lộ  
1A, Đường sắt Thống nhất và quốc lộ 13  
xuyên Đông Dương.  
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chỉ  
cách trung tâm Thành phố 7 km, là sân bay  
có lượng hành khách lớn nhất nước với  
hơn chục đường bay nội địa và quốc tế. Có  
các đường bay nội địa từ Thành phố tới  
Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Đà Nẵng, Hà Nội,  
Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Phú Quốc,  
Pleiku, Quy Nhơn, Rạch Giá, Vinh.  
Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội  
1.730 km, cách Tây Ninh 99km, Biên Hòa  
(Đồng Nai) 30km, Mỹ Tho 70km, Vũng  
Tàu 129km, Cần Thơ 168km, Đà Lạt  
308km, Buôn Ma Thuột 375km.  
130  
NGUYỄN HỒNG SƠN - LÊ NGỌC GIAO  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội  
của Thành phố và cả nước. Trong năm  
2013, với hơn 18 triệu lượt khách du lịch  
quốc tế và trong nước đến Thành phố Hồ  
Chí Minh, ngành du lịch thành phố đã tạo  
ra doanh thu khoảng 71.000 tỷ đồng (tương  
đương 3,5 tỷ USD), chiếm 11,6% tổng  
mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ  
trên địa bàn đồng thời chiếm 45% doanh  
thu du lịch của cả nước. Tỷ trọng đóng góp  
của du lịch vào GDP của Thành phố năm  
2013 đạt 11%.  
Năm 2014, tổng lượng khách quốc tế  
và trong nước đến Thành phố đạt 22 triệu  
lượt, mang lại tổng doanh thu du lịch (lữ  
hành, khách sạn, nhà hàng) hơn 86.000 tỷ  
đồng. Riêng 7 tháng đầu năm 2015, chỉ  
tính lượt khách quốc tế đến Thành phố đạt  
gần 2,5 triệu lượt khách (tăng 4% so với  
cùng kỳ), góp phần mang về tổng doanh  
thu du lịch 53.317 tỷ đồng.  
Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ  
Chí Minh, trong năm 2015, Thành phố đã  
đón hơn 19,3 triệu lượt khách du lịch trong  
nước và 4,6 triệu lượt khách du lịch quốc  
tế, chiếm khoảng 57% lượt khách quốc tế  
đến Việt Nam. Doanh thu từ du lịch của  
Thành phố trong năm 2015 đạt 94.600 tỷ  
đồng, tương đương 4,2 tỷ USD, chiếm  
9,88% GDP của Thành phố và 30,2%  
doanh thu du lịch của cả nước (Sở Du lịch  
Thành phố Hồ Chí Minh, 2016).  
Sau đây là số liệu thống kê của các chỉ  
tiêu chủ yếu, quan trọng trong ngành du  
lịch Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn  
2011 - 2015.  
Bảng 1. Thống kê số lượng khách du lịch quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn  
2011 – 2015  
Năm  
2011  
2012  
3.800.000  
8,50%  
2013  
4.109.000  
8,1%  
2014  
4.400.000  
7,08%  
2015  
4.600.000  
4,60%  
3.500.000  
12,90%  
Lượng khách  
% tăng trưởng  
Bảng 2. Thống kê số lượng khách quốc tế đến Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước giai  
đoạn 2011 – 2015  
Năm  
TP.HCM  
Việt Nam  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
3.500.000  
(58,3 %)  
3.800.000  
(55,8%)  
4.109.000  
(54,7%)  
4.400.000  
(56,4%)  
4.600.000  
(58,2%)  
6.000.000  
6.800.000  
7.500.000  
7.800.000  
7.900.000  
Bảng 3. Thống kê số lượng khách nội địa đến Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước giai  
đoạn 2011-2015  
Năm  
2011  
2012  
2013  
2014  
2015  
10.020.000  
(33,4%)  
12.500.000  
(38,4%)  
15.600.000  
(44,5%)  
17.600.000  
(45,7%)  
19.300.000  
(33,8%)  
TP.HCM  
Việt Nam  
30.000.000  
32.500.000  
35.000.000  
38.500.000  
57.000.000  
131  
pdf 7 trang yennguyen 20740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực trạng và định hướng phát triển du lịch bền vững tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_trang_va_dinh_huong_phat_trien_du_lich_ben_vung_tai_tha.pdf