Luận văn Quản lí đội ngũ giáo viên các trường Mầm non tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
La Nguyễn Ngọc Thanh  
QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG  
MẦM NON TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN,  
TỈNH SÓC TRĂNG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
La Nguyễn Ngọc Thanh  
QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG  
MẦM NON TẠI HUYỆN MỸ XUYÊN,  
TỈNH SÓC TRĂNG  
Chuyên ngành : Quản lí giáo dục  
Mã số  
: 8140114  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. NGUYỄN ĐỨC DANH  
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi tên La Nguyễn Ngọc Thanh, là học viên cao học chuyên ngành Quản lí  
giáo dục, Khóa 27 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi xin cam  
đoan rằng các thông tin về tài liệu tham khảo cho việc thực hiện luận văn đã được  
chỉ rõ nguồn gốc.  
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp,  
tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ cùng những lời động viên rất chân tình,  
quý báu của các cấp lãnh đạo, quý thầy cô, gia đình, bạn bè và anh, chị, em đồng  
nghiệp. Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng, tri ân sâu sắc và lời cảm ơn chân  
thành đến:  
TS. Nguyễn Đức Danh, đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn, dạy bảo và động viên  
trong suốt quá trình tôi thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn "Quản lí đội ngũ  
giáo viên các trường Mầm non tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng".  
Quý lãnh đạo các phòng, ban chức năng và khoa Khoa học Giáo dục Trường  
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; thầy, cô Khóa 27 (2016-2018) đã tận  
tình dìu dắt, truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm vô cùng quý báu và đã  
tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu.  
Quý lãnh đạo phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng;  
Cán bộ quản lí, các chị, các em và các bạn đồng nghiệp tại các trường Mầm non tại  
huyện Mỹ Xuyên đã tạo điều kiện giúp đỡ, dành thời gian để hỗ trợ, cung cấp các  
thông tin, số liệu cần thiết giúp cho tôi hoàn thành luận văn này.  
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá  
trình học tập và thực hiện luận văn này.  
Tuy đã có nhiều cố gắng trong suốt thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp  
nhưng tất nhiên luận văn sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót. Tôi rất mong nhận được  
sự góp ý của quý thầy, cô, chị em đồng nghiệp và các bạn.  
Sóc Trăng, tháng 5 năm 2019  
Tác giả luận văn  
La Nguyễn Ngọc Thanh  
 
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
 
2.2.4. Xử lí số liệu………………………………………………………60  
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ viết đầy đủ  
Chữ viết tắt  
Ghi chú  
CBQL  
CDNN  
CT-TW  
ĐNGV  
ĐNGVMN  
KT-XH  
MN  
Cán bộ quản lí  
Chức danh nghề nghiệp  
Chỉ thị - Trung ương  
Đội ngũ giáo viên  
Đội ngũ giáo viên Mầm non  
Kinh tế - Xã hội  
Mầm non  
NĐ-CP  
NG&CBQLGD  
NV  
Nghị định - Chính phủ  
Nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục  
Nhân viên  
GD  
Giáo dục  
GD&ĐT  
GV  
Giáo dục và Đào tạo  
Giáo viên  
GVMN  
HT  
Giáo viên Mầm non  
Hiệu trưởng  
PHT  
Phó Hiệu trưởng  
Trung bình  
TB  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
1
MỞ ĐẦU  
1. Lí do chọn đề tài  
Về lꢀ luận  
Thế giới, các quốc gia vẫn xem giáo dục là ưu tiên hàng đầu và cấp thiết. Theo  
N.Mandela để thay đổi cả thế giới người ta có thể sử dụng giáo dục vì giáo dục là  
vũ khí mạnh nhất. Ở nước Việt Nam ta, trong các quan điểm chỉ đạo phát triển  
giáo dục-đào tạo của Đảng, của Nhà nước và của ngành GD&ĐT đều rất coi trọng  
vai trò, vị trí của ĐNGV: Chỉ thị số 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư  
Trung ương Đảng, Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 về việc xây  
dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục. Đội ngũ  
GV là lực lượng nòng cốt, quan trọng nhất, là người quyết định đến chất lượng  
giáo dục.  
Về thꢁc tiễn  
Trên thực tế cho thấy rằng, chất lượng giáo dục vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp  
ứng được yêu cầu của đất nước là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân  
sự mất cân đối về ĐNGV vừa thiếu, vừa thừa, vừa yếu, vừa không đồng bộ. Sóc  
Trăng là một tỉnh thuộc khu vực Tây Nam Bộ, kinh tế phát triển chậm, trình độ  
dân trí thấp và chưa đồng đều, ngành GD&ĐT còn gặp nhiều khó khăn. Trong  
những năm qua, huyện Mỹ Xuyên đã tập trung chỉ đạo, thực hiện nhiều biện pháp  
quản lí có hiệu quả để xây dựng đội ngũ giáo viên và duy trì nề nếp, hoạt động,  
chuyên môn trong nhà trường ổn định, góp phần tạo nên chất lượng giáo dục của  
nhà trường ngày càng phát triển. Thời gian qua, các trường Mầm non đã có nhiều  
cố gắng trong công tác xây dựng và quản lí đội ngũ giáo viên và cán bộ QLGD với  
mục tiêu nâng cao năng lực GV, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo  
dục ở địa phương. Tuy vậy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số CBQL và  
GV thiếu năng động, sáng tạo; kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin còn nhiều  
hạn chế. Bên cạnh đó, dư âm từ việc đề bạt giữ chức vụ lãnh đạo QL chưa đáp ứng  
đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định mà đan xen vừa làm vừa học hỏi vừa nâng  
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đúc kết kinh nghiệm từ thực tiễn. Thấy  
 
2
được vị trí và tầm quan trọng của giáo dục nên trong chiến lược phát triển giáo  
dục, ngành GD&ĐT phải thực hiện đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ.  
Một trong những đổi mới cơ bản, quan trọng, cấp thiết của giáo dục hiện nay là  
đổi mới công tác quản lí giáo dục. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường MN  
tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo. Giáo dục mầm  
non là một cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu của giáo dục MN  
là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu  
tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát  
triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền  
tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối  
đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và  
cho việc học tập suốt đời. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi Hiệu trưởng và  
ĐNGV nhà trường phải có đầy đủ các kỹ năng cũng như nghiệp vụ chuyên môn  
cần thiết. Đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định trong việc chăm sóc giáo dục trẻ  
ở các trường MN. Vì vậy bất kỳ người quản lí nào không thể bỏ qua việc bồi  
dưỡng ĐNGV. Chúng ta đều biết rằng ĐNGV đóng vai trò quan trọng quyết định  
đến chất lượng giáo dục, chất lượng giáo viên có tốt thì chất lượng giáo dục mới  
tốt. Trường nhiều giáo viên giỏi thì mới có nhiều lớp đạt chất lượng cao. Đội ngũ  
giáo viên trong trường là nhân tố quyết định hiệu quả GD của các khối lớp. Từ  
nhận thức về vai trò của giáo viên như trên, với nhiệm vụ là người quản lí về nhân  
sự về tổ chức bộ máy của các đơn vị trên địa bàn huyện, tôi nhận thấy cần phải  
quan tâm đặc biệt tới công tác bồi dưỡng xây dựng ĐNGV nhằm nâng cao chất  
lượng giáo dục của huyện nhà và xem đó là đòi hỏi cấp bách cần được giải quyết.  
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay ngành GD&ĐT huyện cần  
phải có các giải pháp để tăng cường công tác quản lí đội ngũ giáo viên phù hợp  
với yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Từ những thuận lợi và khó  
khăn tôi đã chọn đề tài: "Quản lí đội ngũ giáo viên các trường Mầm non tại  
huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng" cho đề tài thạc sĩ chuyên ngành Quản lí giáo  
dục của bản thân.  
2. Mục đích nghiên cứu  
3
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí đội ngũ giáo viên MN, khảo sát và đánh  
giá thực trạng quản lí đội ngũ giáo viên tại các trường Mầm non huyện Mỹ Xuyên,  
tỉnh Sóc Trăng, từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả  
quản lí đội ngũ giáo viên ở các trường Mầm non này.  
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu  
3.1. Khách thể nghiên cứu  
Công tác quản lí đội ngũ giáo viên Mầm non.  
3.2. Đối tượng nghiên cứu  
Quản lí ĐNGV ở các trường Mầm non tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.  
4. Giả thuyết khoa học  
Công tác quản lí đội ngũ giáo viên ở các trường Mầm non huyện Mỹ Xuyên,  
tỉnh Sóc Trăng đã đạt được hiệu quả trong một số nội dung như quy hoạch, bồi  
dưỡng đội ngũ. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn một số bất cập trong việc tuyển  
dụng, sử dụng và đánh giá. Nếu việc khảo sát và đánh giá đúng thực trạng quản lí  
đội ngũ giáo viên ở các trường Mầm non huyện Mỹ Xuyên thì người nghiên cứu  
có thể đề xuất một số biện pháp quản lí cần thiết, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả  
quản lí đội ngũ giáo viên ở các trường Mầm non trên địa bàn huyện này.  
5. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về quản lí đội ngũ giáo viên ở trường Mầm non.  
Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lí đội ngũ giáo viên ở các trường Mầm  
non huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.  
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí đội ngũ giáo viên ở  
các trường Mầm non huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.  
6. Phạm vi nghiên cứu  
Luận văn sẽ triển khai nghiên cứu ở 10 trường Mầm non tại 01 thị trấn, 04 xã  
trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên bao gồm trường: Mầm non Sơn Ca; Mẫu giáo Bông  
Sen; Mẫu giáo Tham Đôn; Mẫu giáo 2-9 xã Đại Tâm; MN 1/6 xã Đại Tâm; Mầm  
non Họa Mi; Mầm non Hòa Tú 1; Mầm non Hòa Tú 2; Mẫu giáo Gia Hòa 1; Mẫu  
giáo Gia Hòa 2.  
4
Giới hạn nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về phẩm chất và  
năng lực của đội ngũ giáo viên các trường Mầm non tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc  
Trăng và tập trung vào một số nội dung như một số nội dung trong QL ĐNGV  
như:  
Công tác lập quy hoạch đội ngũ giáo viên;  
Công tác sử dụng đội ngũ giáo viên;  
Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên;  
Công tác kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên;  
Các cơ chế chính sách đối với giáo viên.  
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu  
7.1. Cơ sở phương pháp luận  
Các quan điểm phương pháp luận được vận dụng ở đề tài này gồm:  
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc  
Quan điểm hệ thống - cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện,  
trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối  
quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách  
tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa  
QL đội ngũ giáo viên với QL các hoạt động khác của nhà trường, cũng như xem  
xét công tác QL trong các trường Mầm non là một hệ thống. Trong đó, quản lí đội  
ngũ giáo viên là một hệ thống bao gồm các yếu tố cấu thành: quản lí công tác quy  
hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giáo viên, quản lí việc đãi ngộ, thu  
hút giáo viên. Quản lí đội ngũ giáo viên là một công tác quản lí quan trọng trong  
toàn bộ hệ thống quản lí chung của nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan  
điểm hệ thống - cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công  
tác QL đội ngũ giáo viên ở các trường Mầm non huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc  
Trăng.  
7.1.2. Quan điểm lịch sử - logic  
Quan điểm lịch sử - logic giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không  
gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính  
xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo  
5
trình tự phù hợp về sự hình thành và phát triển của công tác quản lí đội ngũ giáo  
viên nói chung, quản lí đội ngũ giáo viên mầm non nói riêng trên thế giới, tại Việt  
Nam và trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Từ đó, thể hiện mối tương  
quan logic chặt chẽ, khoa học.  
7.1.3. Quan điểm thực tiễn  
Quan điểm thực tiễn đòi hỏi nghiên cứu thực trạng QL ĐNGV ở các trường  
Mầm non huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xuất phát từ thực tiễn của công tác  
quản lí đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng nói chung và huyện  
Mỹ Xuyên nói riêng cần xuất phát từ thực tiễn và tôn trọng kết quả thực trạng đã  
khảo sát được để rút ra kết luận phù hợp. Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp tác  
động phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác QL ĐNGV phù hợp với thực  
tiễn.  
7.2. Các phương pháp nghiên cứu  
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận  
Phân tích, tổng hợp các tài liệu lí luận phục vụ cho vấn đề nghiên cứu đề tài  
như lí luận về quản lí, quản lí giáo dục, quản lí đội ngũ giáo viên.  
Phân loại hệ thống hóa các tài liệu lí luận có liên quan đến công tác quản lí  
đội ngũ giáo viên, đặc biệt là trong các trường Mầm non.  
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
7.2.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi  
Mục đích điều tra: người nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra để thu  
thập số liệu, dữ liệu về thực trạng công tác QL đội ngũ giáo viên ở các trường  
Mầm non huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng nhằm chứng minh cho giả thuyết  
nghiên cứu khoa học.  
Nội dung điều tra: Thực trạng công tác QL ĐNGV ở các trường Mầm non  
huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng theo các nội dung QL ĐNGV như quản lí công  
tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng GV, quản lí việc thu hút, đãi ngộ GV.  
Cách thức điều tra: Người nghiên cứu sử dụng hai loại phiếu điều tra dành  
cho 2 đối tượng là cán bộ quản lí nhà trường và đội ngũ giáo viên. Mục đích nhằm  
6
khảo sát thực trạng thực hiện các nội dung QL ĐNGV tại các trường Mầm non  
trên địa bàn huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhằm  
tìm hiểu sự hưởng ứng, chấp hành các chính sách quản lí của ĐNGV, mong muốn  
của GV với các nhà quản lí của mình.  
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn  
Mục đích phỏng vấn: nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong  
phiếu điều tra và thu thập thêm thông tin cho những vấn đề còn chưa được trả lời  
rõ ràng trong số liệu điều tra viết. Đây là phương pháp bổ trợ cho phương pháp  
điều tra bằng phiếu hỏi.  
Nội dung phỏng vấn: Một số nội dung về thực trạng chất lượng ĐNGV và  
công tác QL ĐNGV của hiệu trưởng ở các trường Mầm non huyện Mỹ Xuyên,  
tỉnh Sóc Trăng.  
Cách thức phỏng vấn: Tác giả đã chọn mẫu và phỏng vấn một số CBQL và  
một số GV ở các trường Mầm non huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Số lượng  
người nghiên cứu phỏng vấn bao gồm: 03 CBQL và 5 nhóm GV đang giảng dạy ở  
5 trường. Số liệu phỏng vấn sẽ dùng vào việc đối chiếu, so sánh để làm rõ kết quả  
điều tra về thực trạng quản lí đội ngũ GV ở các trường Mầm non huyện Mỹ  
Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.  
7.2.2.3. Phương pháp thống kê toán học  
Sau khi thu hồi phiếu điều tra bằng bảng hỏi, người nghiên cứu sử dụng phần  
mềm SPSS để xử lí số liệu thu được từ bảng hỏi (Statistical Package for the Social  
Sciences).  
8. Cấu trúc của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, đề cương gồm 3 chương:  
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề quản lí đội ngũ giáo viên các trường Mầm  
non.  
Chương 2: Thực trạng quản lí đội ngũ giáo viên các trường Mầm non tại huyện  
Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.  
7
Chương 3: Biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên các trường Mầm non tại huyện  
Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.  
Kết luận và kiến nghị.  
Danh mục tài liệu tham khảo.  
Phụ lục.  
Chương 1  
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN  
Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON  
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu  
Giáo dục mầm non giữ vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển của một  
cá nhân. Đây là giai đoạn nền tảng đặt tiền đề cho sự hình thành các phẩm chất sau  
này của con người. Lứa tuổi MN cần sự chăm sóc đặc biệt bởi giai đoạn lứa tuổi  
này trẻ thường bộc lộ các thiên hướng nếu giáo viên biết phát hiện và nuôi dưỡng  
những giá trị đó thì sẽ tạo điều kiện tốt cho trẻ phát triển sau này. Để làm được  
điều đó thì ngoài lòng mến trẻ, yêu nghề thì năng lực chuyên môn của GV quyết  
định rất lớn đến hiệu quả của hoạt động GD. Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên  
là chủ trương đúng đắn hiện nay của nhà nước đối với ngành giáo dục, đặc biệt là  
giáo dục mầm non. Tuy nhiên, công tác QL giáo viên và các hoạt động liên quan  
đến đội ngũ GVMN hiện nay chưa thực sự được quan tâm và đầu tư nhiều. Mặc dù  
đây là hoạt động cơ sở nền tảng cho mọi hoạt động khác trong môi trường sư  
phạm.  
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài  
Nhận thức được tầm quan trọng cấp học đầu đời của trẻ nên các quốc gia có  
nền GD phát triển đặc biệt quan tâm đến chất lượng của ĐNGV ở cấp học này từ  
khâu đào tạo chuyên môn đến các tố chất về nghề nghiệp và cả hồ sơ xin việc của  
họ.  
     
8
Dưới đây là một số cách thức quản lí và lựa chọn GVMN của các quốc gia  
trên thế giới:  
Pháp là quốc gia có quy trình tuyển chọn GVMN nghiêm ngặt. Ngoài việc  
đáp ứng về bằng cấp chuyên môn đúng chuẩn chương trình đào tạo thì các ứng cử  
viên cần phải trải qua các cuộc sát hạch mang tính sàng lọc rất cao như: Khả năng  
diễn xuất trước trẻ, khả năng bơi lội, sự nhanh lẹ ứng phó với các tình huống khẩn  
cấp trong trường học… chỉ những ứng viên nào vượt qua xuất sắc mới được nhận  
(Phiêu Linh, 2017).  
Mỹ là quốc gia có nền giáo dục phát triển. Hệ thống GDMN của Mỹ rất được  
quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của GV. Theo những  
nghiên cứu được tiến hành tại quốc gia này thì những đứa trẻ được học tại các cơ  
sở MN chất lượng cao thì lớn lên sẽ có tương lai tốt hơn. Về giáo viên, để tham gia  
giảng dạy tại các trường MN của Mỹ thì các ứng viên cần đáp ứng “Theo Cục  
Thống kê Lao động Mỹ, các giáo viên mầm non được tuyển dụng bởi chương trình  
liên bang Head Start, ít nhất phải có bằng Associate's degree. Giáo viên đạt trình  
độ này có các kỹ năng bao gồm sáng tạo trong học tập, quan sát trẻ em, giáo dục  
sức khỏe và dinh dưỡng, dạy chữ viết cho trẻ nhỏ và nắm bắt nhu cầu của trẻ đặc  
biệt” (Phiêu Linh, 2017). Về các chi phí cho học tập – theo trích dẫn của nguồn  
trên “Theo báo cáo của tổ chức nhận thức việc chăm sóc trẻ em của Mỹ (Child  
Care Aware of America, chi phí chăm sóc trẻ 4 tuổi tại các cơ sở được cấp phép  
"ngốn" tối thiểu 4.500 đô-la Mỹ/năm và cao nhất là 14.000 đôla Mỹ/năm của mỗi  
gia đình”. Như vậy có thể thấy các nguồn lực dành cho GD ở cấp học này tại Mỹ  
là rất lớn.  
Nhật Bản là quốc gia có nền GD phát triển cao. Quốc gia này chủ trương  
phát triển con người toàn diện nên mục tiêu GD của họ là hiện đại kế thừa và phát  
huy tối đa bản sắc văn hóa dân tộc. Giáo dục mầm non của Nhật là một điển hình.  
Từ nhỏ trẻ em đã phải học cách tự lập, biết tôn trọng bản thân và tôn trọng người  
khác. Giáo viên ở cấp học này ngoài các yêu cầu chuyên môn bắt buộc thì việc  
phải có các giấy phép do cơ quan quản lí nhà nước cấp là yêu cầu không thể thiếu  
(Phiêu Linh, 2017).  
9
Singapore là quốc gia Đông Nam Á đầu tư cho GDMN mạnh nhất với hơn  
900 triệu đô-la Singapore và đến năm 2022 ngân sách này sẽ được tăng gấp đôi.  
Đội ngũ giáo viên MN của nước này được áp dụng hình thức đào tạo như những  
bậc GV cao hơn. Quá trình tuyển chọn GV của quốc gia này cũng vô cùng khắt  
khe. Vì Singapore là quốc gia có dân số đến từ nhiều vùng và lãnh thổ khác nhau  
trên thế giới nên GVMN ở quốc đảo này ngoài chuyên môn thì yếu tố hiểu biết đa  
văn hóa rất được quan tâm. Theo quan điểm lãnh đạo của Singapore nếu “Thúc  
đẩy giáo dục sớm ở trẻ em sẽ giúp tăng tính linh hoạt của xã hội và duy trì một xã  
hội công bằng”. Từ quan điểm đó nên Viện phát triển Giáo dục Mầm non quốc gia  
(National Institute of Early Childhood Development/NIEC) tham gia đào đạo  
GVMN sẽ được đầu tư mạnh mẽ hơn. Sinh viên tốt nghiệp sẽ được căn cứ vào  
năng lực và các tố chất có thể được đào tạo tiếp để làm GV hoặc sẽ được đào tạo  
làm quản lí trường học.  
Có ý kiến cho rằng:“Tư cách lãnh đạo thật sự không nằm ở địa vị mà ở cách  
thức suy nghĩ và hành động của mỗi người: nó nằm trong chất cao thượng của  
mục đích và mục tiêu mà họ đặt ra cho chính mình”. Tầm nhìn các Tiểu Vương  
Quốc Ả Rập thống nhất (UAE) 2021, xem giáo dục hạng nhất, bởi vì: “Sự tiến bộ  
của các quốc gia, con người và nền văn minh đều bắt đầu với giáo dục. Tương lai  
của các quốc gia bắt đầu từ các trường học” (Maktoum, 2016, tr. 102).  
Từ những cách thức quản lí khác nhau bậc học Mầm non của các quốc gia và  
cách nhìn nhận về tầm quan trọng của giáo dục đầu đời dành cho trẻ của các học  
giả trên thế giới. Người nghiên cứu nhận thấy, các hoạt động liên quan đến công  
tác quản lí ĐNGVMN hiện nay ở nước ta cần có nhiều cách tiếp cận khác nhau  
nhằm cải tiến và nâng cao hoạt động giảng dạy cũng như quản lí ĐNGV ở bậc học  
này.  
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước  
Dân tộc Việt Nam đã có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, hình ảnh  
của người thầy/cô giáo luôn là hình tượng cao đẹp cho các thế hệ HS noi theo.  
Trong bức thư gửi cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, HS, sinh viên vào  
năm học mới ngày 15 tháng 10 năm 1968, Bác Hồ đã viết: “Nhiệm vụ của cô giáo,  
 
10  
thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng.  
Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ XHCN, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật  
chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ  
các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó”.  
Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao vai trò ĐNGV và công chức -  
viên chức QL giáo dục chính là người quyết định chất lượng giáo dục: “Anh chị  
em là đội tiên phong trong sự nghiệp tiêu diệt giặc dốt. Anh chị em chịu cực khổ,  
khó nhọc, hi sinh phấn đấu để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây  
đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, tr.220).  
Yêu cầu phát triển GD&ĐT trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đòi hỏi  
phải xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ giáo dục chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng  
đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu. Chất lượng của GD suy cho cùng trước hết  
là chất lượng của đội ngũ làm công tác giảng dạy, đây là yếu tố cơ bản quyết định  
đến sự thành bại của cải cách GD hiện nay. Cho nên, đổi mới, cải tiến chương  
trình giáo dục trước hết phải đổi mới công tác QL đội ngũ nhà giáo.  
Theo quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của Bộ GD&ĐT. Chiến lược phát  
triển KT-XH giai đoạn 2011-2020, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của  
Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua, đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục là quốc sách  
hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn  
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới  
cơ chế QL giáo dục, phát triển đội ngũ GV và CBQL là khâu then chốt (Bộ Giáo  
dục và Đào tạo, 2011).  
Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo  
dục và cán bộ phục vụ trong các cơ sở giáo dục ngày càng đông đảo, có phẩm chất  
đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được  
nâng cao. Tuy nhiên, công tác phát triển ĐNGV, cán bộ QL giáo dục đã bộc lộ  
những hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục. Cụ thể là:  
Sự phát triển ĐNGV không theo kịp với sự gia tăng quy mô và yêu cầu ngày  
càng cao về chất lượng GD, đặc biệt GD nghề nghiệp và GD đại học.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 195 trang yennguyen 12400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Quản lí đội ngũ giáo viên các trường Mầm non tại huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_quan_li_doi_ngu_giao_vien_cac_truong_mam_non_tai_hu.pdf