Tóm tắt Luận án Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của nghiên cứu
Ngân hàng Phát triển Việt Nam (Việt Nam Development Bank) chính
thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2006, tiền thân là Quỹ Hỗ trợ Phát triển
Việt Nam. Việc chuyển từ Quỹ sang Ngân hàng xuất phát từ nhiều lý do cả về
yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế cũng như thực trạng hoạt động của
Quỹ. Sau năm năm hoạt động theo hình thức một ngân hàng, VDB đã có nhiều
nỗ lực trong việc tập trung các nguồn vốn trung và dài hạn huy động được ở
trong và ngoài nước để tài trợ cho các DAPT và các đối tượng đặc biệt trong
nền kinh tế. Vốn của ngân hàng góp phần đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và xóa đói giảm nghèo. Năm năm mặc dù là khoảng thời
gian chưa nhiều nếu so sánh với vòng đời của các dự án VDB tài trợ với thời
gian hoàn vốn trung bình từ 10 đến 20 năm, nhưng có thể nói đây là giai đoạn
ngân hàng hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động nghiệp vụ để phù hợp với
vai trò là công cụ của Chính phủ trong tài trợ phát triển. Do vậy, việc đánh giá
những đóng góp cũng như hạn chế của VDB trong hoạt động của ngân hàng
trong thời gian qua là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
trong thời gian tới. Điều này càng quan trọng hơn khi mà đến năm 2010, Việt
Nam trở thành quốc gia nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bình thấp, khi
đó các ưu đãi về vốn từ các Chính phủ và nhà tài trợ nước ngoài sẽ suy giảm mà
thay vào đó là các nguồn tài trợ theo điều kiện thị trường. Trong khi sự tài trợ từ
các nguồn vốn có nguồn gốc từ NSNN ngày càng hạn hẹp thì đòi hỏi VDB phải
tự chủ được trong cả hoạt động huy động vốn và hoạt động cấp tín dụng. Với
kết quả về vốn giải ngân hàng năm ở mức 4,2% so với tổng nhu cầu vốn của
nền kinh tế, tỷ lệ nợ xấu (theo quy định của VDB) ở mức 15% tổng dư nợ (nếu
tính theo chuẩn quốc tế thì mức này cao hơn gấp 3 lần), chênh lệch giữa doanh
thu từ lãi và chi phí trả lãi luôn đạt giá trị âm ở mức khoảng 2.000 tỷ đồng mỗi
2
năm…cho thấy nếu không có những điều chỉnh kịp thời từ cơ chế chính sách
đến hoạt động nghiệp vụ thì VDB sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào NSNN.
Xuất phát từ thực trạng hiệu quả hoạt động trên của VDB, tác giả chọn
vấn đề “Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu cho luận án.
2. Mục đích của nghiên cứu
(i) Nghiên cứu những cơ sở lý luận cơ bản về NHPT và vai trò của NHPT
đối với nền kinh tế, hoạt động của NHPT. Nghiên cứu các lý thuyết về hiệu quả
hoạt động của trung gian tài chính, xây dựng hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả xã
hội và hiệu quả tài chính của NHPT. Thêm nữa là đưa ra kinh nghiệm hoạt động
có hiệu quả của các NHPT trên thế giới để vận dụng phù hợp vào Việt Nam;
(ii) Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động của VDB. Qua đó, rút ra
các hạn chế trong hoạt động của ngân hàng và phân tích các nguyên nhân của
những hạn chế đó;
(iii) Đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VDB.
3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
o Những thay đổi trong chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Việt Nam
từ năm 1999 đến năm 2011
o Đánh giá hiệu quả hoạt động của VDB thông qua phân tích thực trạng
hiệu quả hoạt động của ngân hàng này từ năm 2006 đến năm 2010
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng đề tài tập trung nghiên cứu là hiệu quả hoạt động của NHPT.
Xuất phát từ mục tiêu hoạt động và đặc điểm của NHPT, luận án đưa ra quan
điểm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả
và nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của NHPT.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, luận án kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu. Duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương
pháp luận cần thiết. Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng nhiều phương pháp khoa
học khác, như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh....
3
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tham khảo và tiếp thu có chọn lọc
nhiều công trình khoa học liên quan tới nội dung luận án này; các công trình
này đã được công bố trên các phương tiện truyền thông trong và ngoài nước.
Nguồn số liệu tác giả sử dụng trong luận án là từ các Báo cáo thường niên
của Quỹ Hỗ trợ Phát triển (trước đây) và VDB (hiện nay). Đồng thời, để làm rõ
một số nội dung tác giả lấy kết quả từ các cuộc nghiên cứu đã được thực hiện
bởi VDB trong quá khứ.
5. Những điểm mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt lý luận
- Nếu các nghiên cứu trước thường chỉ nhắc đến sự cần thiết của thẩm định hiệu
quả kinh tế - xã hội các dự án cho vay khi ngân hàng phát triển (NHPT) ra
quyết định tài trợ, thì luận án đã phân tích cụ thể những thao tác cần thực hiện
khi thẩm định nội dung này, cũng như các yếu tố cần đo lường để tính toán các
chỉ tiêu hiệu quả kinh tế - xã hội cho từng dự án. Luận án đã chứng minh rằng
chỉ khi nào tính toán được hiệu quả kinh tế - xã hội thì mới cụ thể hóa được
những đóng góp của dự án đối với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của quốc gia,
chứ không phải chỉ dừng lại ở mức độ liệt kê kết quả xã hội như các công trình
nghiên cứu trước về NHPT.
- Trái với các nhận định đã có cho rằng NHPT là tổ chức hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận, luận án đã chứng minh rằng để NHPT thúc đẩy hiệu quả
phát triển nền kinh tế thông qua tài trợ cho các dự án phát triển thì NHPT không
thể hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, tuy đây không phải là mục tiêu cuối
cùng. Duy trì mức lợi nhuận tối thiểu không chỉ giúp ngân hàng huy động mọi
nguồn lực có chất lượng (vốn và nguồn nhân lực) mà còn đảm bảo sự an toàn
và bền vững cho hoạt động của NHPT.
- Luận án đã chứng minh sự tác động trực tiếp và sâu sắc của chính sách tín
dụng đầu tư phát triển của Nhà nước tới hoạt động tín dụng của NHPT về đối
tượng, hình thức, điều kiện tín dụng, hạn mức, hỗ trợ và quản lý rủi ro.
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
- Xuất phát từ thực tiễn hoạt động kém hiệu quả tại Ngân hàng Phát triển Việt
Nam (VDB), luận án đề xuất cần đa dạng hóa đối tượng tài trợ cho dự án phát
triển với đầu mối là VDB chứ không nên chỉ có một kênh duy nhất là VDB tài trợ
4
cho các dự án này. Với hạn chế về khả năng huy động vốn theo lãi suất thị trường
và để tận dụng những ưu thế trong hoạt động tín dụng của các trung gian tài chính
khác, việc tài trợ cho dự án nên có sự phối hợp giữa các tổ chức tín dụng, theo đó
VDB đứng ra bảo lãnh hoặc tài trợ những hạng mục có rủi ro lớn, thời gian hoàn
vốn dài hoặc khả năng sinh lời thấp, còn những hạng mục còn lại sẽ thu hút các
trung gian tài chính khác cấp tín dụng. Để làm được điều này thì cần bổ sung các
quy định giám sát và kiểm tra việc hạch toán giữa cho vay chính sách và cho vay
thương mại trong các tổ chức tín dụng tham gia tài trợ dự án.
- Để thấy được toàn diện những đóng góp của dự án đến sự phát triển kinh tế thì
VDB phải bổ sung và hướng dẫn cụ thể các bước thực hiện thẩm định hiệu quả
kinh tế - xã hội trong hoạt động thẩm định dự án tại VDB.
- Nếu các nghiên cứu trước không đề cấp đến vấn đề an toàn trong hoạt động
của VDB thì luận án đã cho thấy cơ chế quản lý rủi ro (gồm rủi ro tín dụng, rủi
ro tác nghiệp và rủi ro thị trường) tại VDB phải được thực hiện như các ngân
hàng thương mại và dần tuân theo các chuẩn mực quốc tế. Luận án cũng làm rõ
điều kiện tiên quyết để làm được điều này là sự thay đổi trong tư duy lãnh đạo
của bộ máy quản lý VDB và các quy định trong chính sách tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước. Trong thời gian tới, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần
đưa ra các quy định về an toàn vốn của VDB theo hướng áp dụng thống nhất
với các ngân hàng thương mại.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, bảng biểu, các hình vẽ minh hoạ và
danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung luận án được chia làm 3 chương như sau:
o Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của Ngân hàng
Phát triển
o Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát
triển Việt Nam
o Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng
Phát triển Việt Nam
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
1.1. Tổng quan về Ngân hàng Phát triển
1.1.1. Lịch sử phát triển và mục đích hoạt động của Ngân hàng Phát triển
Nhìn khái quát lịch sử phát triển của NHPT có thể nhận thấy trong bất kỳ
nền kinh tế nào, dù là nền kinh tế phát triển, đang phát triển hay kém phát triển,
luôn tồn tại các đối tượng khó có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng
thương mại do một số nguyên nhân, chẳng hạn nhu cầu vốn tài trợ lớn, thời
gian hoàn vốn dài, rủi ro lớn do đầu tư vào lĩnh sản phẩm mới hay vào các vùng
khó khăn…Tuy nhiên, các đối tượng này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế và xã hội nên không thể không được đầu tư.
Do vậy, đòi hỏi nền kinh tế phải có một loại hình trung gian tài chính chuyên tài
trợ cho các đối tượng này, đó là NHPT. Chính sách tín dụng đầu tư phát triển -
được ban hành theo sự chỉ đạo của Chính phủ ở các nước - chính là “kim chỉ
nam” cho hoạt động của các ngân hàng này. Do vậy, mục đích hoạt động của
NHPT là tài trợ cho các đối tượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã
hội của các quốc gia với định hướng là chính sách tín dụng đầu tư phát triển của
quốc gia trong từng thời kỳ.
1.1.2. Lý do ra đời và khái niệm về Ngân hàng Phát triển
Một cách khái quát, sự ra đời của NHPT ở các quốc gia do các nguyên
nhân sau đây:
o Cần có một tổ chức tài trợ vốn trung và dài hạn cho các DAPT
o Cần một tổ chức tài trợ có ưu đãi cho một số đối tượng đặc biệt trong
nền kinh tế
o Tổ chức tài trợ cần là ngân hàng để vốn được bảo toàn, quay vòng và
sinh lời
Ngân hàng phát triển là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là
tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển và các đối tượng đặc biệt
trong nền kinh tế.
6
NHPT là một công cụ của Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội. Tổ chức này sẽ đứng ra tập hợp các khoản vốn trung
và dài hạn trong và ngoài nước, sau đó tài trợ có trọng điểm và ưu đãi cho các
đối tượng nhất định trong nền kinh tế để đạt được một cách có hiệu quả các
mục tiêu Chính phủ đề ra trong từng thời kỳ nhất định.
1.1.3. Đặc điểm của Ngân hàng Phát triển
o NHPT thuộc sở hữu Nhà nước hoặc có mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ
o Mục tiêu tối cao/cuối cùng của NHPT là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế
- xã hội của các quốc gia
o NHPT tập trung huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trong và
ngoài nước
o NHPT tài trợ vốn lớn, thời gian sử dụng vốn dài và có ưu đãi cho các
DAPT
o Kết hợp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả tài chính của dự
án nhận tài trợ là nội dung thẩm định quan trọng của NHPT
o Trợ giúp kỹ thuật cho các đối tượng khách hàng là vai trò quan trọng
của NHPT
o NHPT là “cứu cánh tài trợ cuối cùng” đối với các đối tượng khách hàng
đặc biệt
o NHPT nhận được nhiều ưu đãi từ Chính phủ
1.1.4. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển
o Hoạt động huy động vốn: Vốn do Nhà nước cấp, huy động tiền gửi từ
dân cư, dự án và các tổ chức, đi vay…
o Hoạt động cấp tín dụng: cho vay, bảo lãnh
o Hoạt động hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
1.2. Hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển
1.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển
7
Hiệu quả hoạt động của NHPT chính là mối tương quan giữa lợi ích ngân
hàng đem lại với các hao phí ngân hàng phải bỏ ra để đạt được mục tiêu hỗ trợ
phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
Hiệu quả hoạt động của NHPT phải được xem xét trên hai giác độ là hiệu
quả kinh tế - xã hội tức là sự đóng góp của NHPT đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia và hiệu quả tài chính tức là khả năng sinh lời và an
toàn trong hoạt động của ngân hàng. Trong đó, khả năng sinh lời và an toàn được
coi là phương tiện và điều kiện để NHPT đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển
1.2.2.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh sự đóng góp của NHPT đối với sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của quốc gia
o Mức độ hoàn thành kế hoạch được giao hàng năm
o Mức độ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH
o Mức độ đóng góp vào đảm bảo an sinh xã hội, phát triển các vùng,
miền khó khăn và đặc biệt khó khăn
o Giá trị gia tăng cơ sở vật chất của nền kinh tế
o Giá trị đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế
o Số dự án thành công trên tổng số dự án được tài trợ bởi ngân hàng
1.2.2.2. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời và an toàn của NHPT
Khả năng sinh lời – đo lường bằng các chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận – có
vai trò quan trọng đối với NHPT, cụ thể:
o Thứ nhất, lợi nhuận đảm bảo khả năng đứng vững cho NHPT trên thị trường.
o Thứ hai, lợi nhuận đảm bảo khả năng tự chủ cho NHPT.
o Thứ ba, lợi nhuận đảm bảo cho NHPT thu hút được nguồn nhân lực có
kinh nghiệm và trung thành.
o Thứ tư, mục tiêu lợi nhuận thúc đẩy NHPT hoạt động có hiệu quả.
o Thứ năm, lợi nhuận là “chất xúc tác” khi NHPT kêu gọi sự tham gia
của các TCTD khác để cùng tài trợ cho dự án.
8
o Cuối cùng, lợi nhuận đảm bảo giá trị của NHPT trên thị trường.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động thông qua khả năng sinh lời và
an toàn của NHPT bao gồm:
o Lợi nhuận
o Chênh lệch lãi suất bình quân
o Hiệu suất sử dụng vốn
o Hệ số an toàn vốn – CAR
o Tỷ lệ nợ quá hạn (hoặc nợ xấu)
o Tỷ lệ sinh lời tài sản – ROA
o Tỷ lệ sinh lời vốn chủ hữu – ROE
1.2.3. Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển
o Chính sách tín dụng của Nhà nước cho đầu tư phát triển
o Các nhân tố thuộc về bản thân NHPT
- Khả năng huy động vốn trung và dài hạn phù hợp với hoạt động tài trợ
của ngân hàng
- Chính sách tín dụng của ngân hàng
- Năng lực của cán bộ ngân hàng
- Sự giám sát và kiểm tra của ngân hàng đối với khách hàng vay vốn sau
khi giải ngân
- Năng lực quản lý rủi ro của ngân hàng
Sự thành công của các dự án do NHPT tài trợ
o Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội
1.3. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động của một số Ngân hàng Phát
triển trên thế giới và bài học đối với Việt Nam
Trong phần này luận án phân tích kinh nghiệm hoạt động có hiệu quả của
NHPT Trung Quốc, Nhật Bản và NHPT Cộng đồng Mỹ. Từ đó, luận án rút ra
một số bài học kinh nghiệm cho NHPT Việt Nam.
9
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1. Khái quát về Ngân hàng phát triển Việt Nam
2.1.1. Quá trình hình thành và mô hình tổ chức của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam
VDB được thành lập đã đánh dấu sự ra đời của một trung gian tài chính
có quy mô lớn ở Việt Nam. Bên cạnh những đặc điểm cơ bản của một trung
gian tài chính giống như các tổ chức cùng loại khác, VDB mang những đặc
trưng nhất định khác biệt so với các trung gian tài chính khác.
Thứ nhất, VDB được đặt dưới sự quản lý của Chính phủ mà đại diện là
Bộ Tài chính. Tất cả các văn bản quy phạm pháp luận điều tiết hoạt động của
ngân hàng là do Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính ban hành. Trong khi đó
các trung gian tài chính còn lại trong nền kinh tế chịu sự kiểm soát về mặt pháp
lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).
Thứ hai, về các nghĩa vụ tài chính của VDB: ngân hàng được phép duy trì
tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 0%, không phải tham gia Bảo hiểm tiền gửi và được
Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán. Phần lớn các trung gian tài chính khác
đều không nhận được ưu đãi này.
Thứ ba, mục tiêu hoạt động tối cao/cuối cùng của VDB không phải là
lợi nhuận mà là mục tiêu hỗ trợ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước (VDB hoạt động vì mục tiêu phát triển). Lợi nhuận là công
cụ/phương tiện để VDB đạt được mục tiêu cuối cùng của mình. Trong khi đó,
đại đa số các trung gian tài chính còn lại trong nền kinh tế đều có mục tiêu
cuối cùng là tối đa hóa giá trị vốn chủ sở hữu thông qua tối đa hóa lợi nhuận.
Thứ tư, đối với hoạt động huy động vốn: VDB có lợi thế về các nguồn
vốn có nguồn gốc từ NSNN so với các trung gian tài chính khác như là vốn của
NSNN cấp cho dự án theo kế hoạch hàng năm, vốn ODA được Chính phủ giao;
được vay của Tiết kiệm bưu điện, Quỹ bảo hiểm xã hội, của các tổ chức tín
dụng trong nước; vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, tổ
10
chức và hiệp hội trong và ngoài nước; được Chính phủ bảo lãnh khi phát hành
trái phiếu trong và ngoài nước.
Thứ năm, VDB cho vay đối với các đối tượng khách hàng theo lãi suất
căn cứ vào lãi suất huy động vốn bình quân và chi phí quản lý của ngân hàng.
Thủ tướng
Chính phủ
Hội đồng quản lý
Bộ máy
điều hành
Ban kiểm soát
Sở Giao dịch
Chi nhánh ngân
Văn phòng đại
diện tại nước
ngoài
Văn phòng đại
diện trong nước
hàng tại địa
phương
Sơ đồ bộ máy tổ chức của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Nguồn: Trang web www.vdb.gov.vn
2.1.2. Chính sách tín dụng Nhà nước ở Việt Nam trong thời gian qua
Chính sách TDNN của Việt Nam trong thời gian qua được phản ánh trong
các văn bản của Chính phủ gồm: Nghị định 43 năm 1999, Nghị định 106 năm
2004, Nghị định 151 năm 2006 và mới nhất là Nghị định 75 năm 2011. Theo
các văn bản này, nội dung của chính sách TDNN có những thay đổi nhất định
theo đặc trưng của từng thời kỳ.
2.1.3. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
o Hoạt động huy động vốn
o Cho vay
o Bảo lãnh
o Hoạt động hỗ trợ sau đầu tư
2.2. Phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam giai đoạn từ 2006 đến 2010
2.2.1. Phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng
11
Về tình hình thực hiện các hoạt động
Đối với hoạt động huy động vốn
Tính trung bình năm năm từ năm 2006 đến năm 2010, số vốn ngân hàng
huy động mới bình quân tăng 19%/năm. 5 năm qua không kể số thu hồi nợ vay,
số vốn ngân hàng huy động thêm mới đạt khoảng 185 nghìn tỷ đồng, gấp 2 lần
so với thời kỳ hoạt động trước đó. Trong số các nguồn vốn ngân hàng huy động
trong nước thì nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất là từ phát hành trái phiếu Chính
phủ, bình quân giai đoạn này chiếm 50% doanh số huy động mới hàng năm.
Thêm nữa, với mục tiêu tìm kiếm các nguồn vốn có kỳ hạn phù hợp với kỳ hạn
của các dự án được tài trợ bởi ngân hàng, VDB đã ban đầu cân đối được giữa
kỳ hạn huy động và kỳ hạn sử dụng vốn, kỳ hạn các nguồn vốn của ngân hàng
thường ở mức từ 36 tháng đến 60 tháng.
Đối với hoạt động cấp tín dụng
o Hoạt động cho vay tín dụng đầu tư
Bảng 2.2: Kết quả cho vay tín dụng đầu tư
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Doanh số cho vay TDĐT
Dư nợ TDĐT 31/12
Doanh số thu nợ
9.870
46.351
5.667
21.877
60.166
8.104
11.436
63.171
8.592
19.686
72.686
10.425
27.895
87.308
13.200
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB
Tính chung vốn do VDB giải ngân giai đoạn 2006 – 2010 đạt khoảng
130.000 tỷ đồng, chiếm 1,8% GDP. Về cơ cấu tài trợ theo ngành kinh tế thì
chiếm tỷ trọng tài trợ lớn nhất là các ngành công nghiệp và xây dựng (trung
bình trên 80%/năm), sau đó là các ngành còn lại nằm trong danh mục đầu tư.
Dư nợ các dự án nhóm A chiếm 46% tổng dư nợ cho vay từ nguồn vốn
trong nước của VDB. Mức tăng trưởng dư nợ bình quân hàng năm khoảng 20%
đối với vốn trong nước (bao gồm cả dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất). Đến
cuối năm 2010, dư nợ cho vay vốn trong nước cao gấp 1,5 lần so với thời điểm
ngân hàng mới đi vào hoạt động vào giữa năm 2006. Vì vốn tài trợ của VDB
chỉ thực hiện đối với các hạng mục là tài sản cố định và vốn chỉ thực sự giải
ngân khi có khối lượng hoàn thành nên số vốn giải ngân qua các năm tương ứng
với giá trị tài sản tăng thêm cho nền kinh tế.
12
o Hoạt động cho vay lại vốn ODA
Bảng 2.4: Kết quả cho vay lại vốn ODA
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2006
4.850
2.090
44.761
Năm
2007
8.729
2.330
50.607
Năm
2008
7.802
3.413
54.622
Năm
Năm
2010
10.021
3.986
61.392
2009
8.069
3.918
55.114
Doanh số cho vay
Doanh số thu nợ gốc
Dư nợ đến 31/12
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB
Hiện nay, ngân hàng là tổ chức cho vay lại ODA lớn nhất của Chính phủ
với việc quản lý khoảng 80% tổng nguồn vốn ODA cho vay lại của cả nước.
Kết quả thực hiện hàng năm cho thấy VDB quản lý cho vay lại có hiệu quả với
tính chuyên nghiệp ngày càng được cải thiện. Hàng năm, các dự án ODA đã
mang lại cho ngân hàng nguồn thu từ phí quản lý khoảng gần 150 tỷ đồng.
o Hoạt động cho vay xuất khẩu
Từ năm 2007 đến nay, VDB luôn hoàn thành kế hoạch về cho vay xuất
khẩu hàng năm do Thủ tướng Chính phủ giao. Cụ thể, năm 2007, 2008 và 2009
ngân hàng đã hoàn thành lần lượt ở mức 115%, 128% và 161% kế hoạch được
giao. Doanh số cho vay tăng trưởng mạnh mẽ qua các năm, đặc biệt năm 2008
doanh số gấp 3 lần năm 2007 với sự tập trung vào cho vay đối với lĩnh vực
nông – lâm – thủy sản.
Bảng 2.5. Kết quả cho vay tín dụng xuất khẩu
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2006
8.200
8.400
3.000
Năm
2007
9.500
6.900
5.600
Năm
2008
27.275
19.539
13.336
Năm
2009
32.446
28.427
17.355
Năm
2010
20.200
21.450
16.105
Doanh số cho vay
Doanh số thu nợ gốc
Dư nợ đến 31/12
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB
o Hoạt động bảo lãnh doanh nghiệp vay vốn các NHTM
100% chi nhánh của ngân hàng có phát hành chứng thư bảo lãnh với
1.536 chứng thư bảo lãnh (trong đó 176 chứng thư cho dự án và 1.360 chứng
thư cho phương án) với tổng số tiền vay các NHTM 15.350 tỷ đồng. Dư nợ
nhận nợ bắt buộc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đến này là 47,7 tỷ đồng.
13
o Hoạt động hỗ trợ lãi suất sau đầu tư
Hỗ trợ sau đầu tư tăng trưởng rất nhanh qua các năm, số dự án tăng bình
quân 90%/năm, tổng số vốn theo hợp đồng hỗ trợ tăng bình quân 139%/năm, số
vốn thực cấp tăng bình quân 2,72 lần/năm.
Về tình hình nợ quá hạn
Khái quát tất cả các hoạt động cấp tín dụng thì nợ quá hạn bình quân hiện
nay của VDB là 6,3% trên dư nợ.
Bảng 2.7: Tình hình nợ quá hạn hàng năm
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
2006
3.220
103
Năm
2007
3.084
45
Năm
2008
3.254
98,6
Năm
2009
2.312
302
Năm
2010
3.351
2.588
613
Chỉ tiêu
Tín dụng đầu tư
Tín dụng xuất khẩu
Cho vay lại ODA
233
276
292
475
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Ban tín dụng Đầu tư và Ban Tín dụng
Xuất khẩu.
Về mức độ thành công của các dự án
VDB hiện đang quản lý cho vay TDĐT đối với 2.200 dự án với số vốn
vay theo hợp đồng tín dụng đã ký là khoảng 180 nghìn tỷ đồng, trong đó có
1.260 dự án mới ký hợp đồng giai đoạn 2006 – 2010. Trong đó, số dự án vừa
đạt được mục tiêu của chủ đầu tư vừa đảm bảo trả đủ và đúng hạn nợ cho ngân
hàng ước tính khoảng 315 dự án (tập trung vào một số lĩnh vực như là thủy
điện, hóa chất, an sinh xã hội…) như vậy là chiếm 14% tổng số dự án ngân
hàng quản lý.
Về lợi nhuận của ngân hàng
Bảng 2.8: Lợi nhuận hàng năm
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm
2006
4.465
4.012
453
Năm
2007
5.367
5.080
287
Năm
2008
8.149
7.034
1.116
Năm
2009
9.485
8.372
1.113
Năm
2010
11.063
10.678
385
Doanh thu
Chi phí
Lợi nhuận trước thuế
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB
14
Mặc dù hàng năm tốc độ tăng của chi phí cao hơn so với tốc độ tăng của
doanh thu nhưng lợi nhuận trước thuế của VDB vẫn duy trì giá trị dương khá
cao trong thời kỳ 2006 – 2009 với mức bình quân mỗi năm khoảng 839 tỷ đồng.
Tuy nhiên, giá trị này đã giảm đáng kể trong năm 2010 do chất lượng tín dụng
diễn biến theo chiều hướng xấu dẫn đến thu từ lãi giảm sút (giảm khoảng 64%
so với năm 2009).
2.2.2. Đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng
2.2.2.1. Thành công
Thứ nhất, hoạt động tín dụng xuất khẩu, cho vay lại vốn ODA cùng các
Quỹ quay vòng, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đạt và vượt mức kế hoạch Chính phủ
giao tính bình quân giai đoạn 2006 – 2010. Thành quả trên có được là do những
nỗ lực của ngân hàng trong huy động vốn phù hợp với nhu cầu của đối tượng
nhận tài trợ. VDB đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vốn giải ngân cho các dự án. Tính
chung trong giai đoạn 2006 – 2010, tổng vốn giải ngân của ngân hàng đạt
khoảng 130.000 tỷ đồng, bằng 1,8% GDP. Trong đó, tín dụng bằng nguồn vốn
trong nước chiếm 5,2% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội và bằng 1,2% GDP; tín
dụng bằng nguồn vốn nước ngoài chiếm 1,5% tổng vốn của toàn xã hội và bằng
0,6% GDP. Do vậy, từ khi còn là QHTPT đến nay, tỷ trọng đầu tư vốn trung và
dài hạn lớn nhất cho nền kinh tế vẫn là từ tổ chức này.
Đồ thị 2.2. Tỷ trọng vốn giải ngân của VDB so với
tổng vốn đầu tư của nền kinh tế
1000000.00
800000.00
600000.00
tổng vốn đầu tư
vốn của VDB
400000.00
200000.00
0.00
2006
2007
2008
2009
2010
Năm
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB và Tổng cục Thống kê.
15
Thứ hai, vốn tài trợ của VDB tác động ngày càng nhiều hơn tới tăng
trưởng kinh tế và xuất khẩu, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của
nền kinh tế.
- Vốn tài trợ của VDB góp phần gia tăng giá trị tài sản của nền kinh tế.
Trong thời gian qua, VDB đã đóng góp tích cực vào việc tăng cường cơ sở vật
chất, kỹ thuật cho nền kinh tế với tốc độ đáng kể. Tỷ lệ đóng góp của VDB
tương ứng qua các năm chiếm khoảng 7% tổng giá trị tài sản cố định tăng thêm
của cả nước. Nhờ có nguồn vốn dài hạn với lãi suất thấp, một số ngành như
điện lực, công nghiệp đóng tàu, đóng mới toa xe đường sắt có những bước tiến
vượt bậc, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế đất nước. Kết quả là
máy móc thiết bị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật được tăng cường không những nhiều
hơn về số lượng mà còn cao hơn về trình độ công nghệ và năng lực sản xuất.
- Vốn tài trợ của VDB góp phần đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và xóa đói giảm nghèo. Tỷ trọng tài trợ lớn nhất của VDB
là tài trợ cho lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Ngân hàng cấp tín dụng cho
hai lĩnh vực này với dư nợ bình quân 78%/năm tổng dư nợ của toàn ngân hàng,
lớn hơn mức đầu tư của tất cả các chủ thế khác trong nền kinh tế.
- Vốn tài trợ của VDB góp phần khuyến khích xuất khẩu các hàng hóa
sản xuất trong nước và gia tăng giá trị đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu hàng
năm của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng do VDB tài trợ tăng bình
quân 48% mỗi năm nên tỷ trong giữa kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng
được vay vốn của VDB so với tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng hàng
năm, bình quân giai đoạn này là 3,3%.
2.2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân
Thứ nhất, giải ngân tín dụng đầu tư không đạt kế hoạch được giao hàng
năm. Căn cứ theo số liệu trong bảng Kết quả giải ngân hàng năm có thể thấy rõ
được thực tế này, mức giải ngân đối với tín dụng đầu tư giai đoạn 2006 – 2010
đạt trung bình 84% so với kế hoạch được giao hàng năm, chiếm 4,2% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội, tăng không nhiều so với chỉ tiêu này của giai đoạn 2000 –
2005 là 3,6%. Thêm nữa, ngân hàng mới chỉ đáp ứng 37% nhu cầu vốn đầu tư
vào TSCĐ của các dự án.
16
Thứ hai, số dự án thành công so với số dự án được cấp tín dụng quá thấp
dẫn đến nguy cơ rủi ro tín dụng ở mức cao. Tính đến 31/12/2010, nợ quá hạn
đối với TDĐT và TDXK so với tổng dư nợ lần lượt là 4% và 17%, nhìn chung
nợ quá hạn tăng 25% so với trước năm 2006. Tỷ lệ nợ xấu bình quân giai đoạn
2006 – 2010 là 19% tính cho tất cả các khoản tín dụng tại ngân hàng. Số khách
hàng và số chi nhánh có nợ quá hạn tăng, quy mô nợ quá hạn tính bình quân
trên mỗi khách hàng cũng tăng lên nhanh chóng. Thêm nữa, việc trích lập dự
phòng rủi ro để bù đắp tổn thất đối với rủi ro tín dụng chưa được coi trọng và
tính toán chính xác phù hợp với chuẩn mực thống nhất. Dự phòng rủi ro không
đủ bù đắp tốn thất, số dự phòng trích lập luôn thấp hơn số dư nợ quá hạn. Trước
năm 2005, tỷ lệ trích lập Quỹ dự phòng rủi ro trên dư nợ mỗi năm là 0,2% trong
khi tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ bình quân là 4,2%/năm; giai đoạn 2006 –
2010, tỷ lệ trích lập là 0,5% trong khi tỷ lệ nợ quá hạn bình quân là 6,3%. Tính
đến ngày 31/12/2010, số nợ gốc và lãi quá hạn gấp khoảng 9 lần so với số dư
Quỹ dự phòng rủi ro. Do vậy dự phòng không đủ bù đắp rủi ro tín dụng, chỉ có
ý nghĩa thủ tục nên đã ảnh hưởng đến việc minh bạch tài chính và hạn chế độ
tín nhiệm của VDB trong huy động vốn.Công tác xử lý rủi ro chậm; trong 5
năm qua đã xử lý rủi ro cho 281 dự án (trong đó gia hạn nợ giai đoạn 2006 -
2007 là 35 dự án, các năm sau không có thống kê đầy đủ số liệu này do quan
niệm đó là biện pháp tín dụng), với tổng số tiền được xử lý theo các biện pháp
khoanh nợ, xóa nợ (gốc, lãi) và bán nợ là 1.900 tỷ đồng.
Thứ ba, khả năng tự chủ tài chính của ngân hàng thấp. Mặc dù tín dụng là
hoạt động chính của ngân hàng này nhưng doanh thu từ tín dụng còn thấp và
không tương xứng với tỷ trọng tài sản trong hoạt động này. Trong những năm
qua doanh thu từ lãi tín dụng chiếm bình quân 76% tổng doanh thu hàng năm,
trong đó tài sản có chiếm bình quân 82% tổng tài sản mỗi năm của VDB. Thêm
nữa, doanh thu của VDB phụ thuộc quá lớn vào NSNN và lãi từ tiền gửi.
Nguồn từ trợ cấp của NSNN (cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý) bình
quân giai đoạn 2006 – 2010 chiếm 28% tổng thu nhập hàng năm. Tuy nhiên,
việc cấp bù luôn không đủ do sự “eo hẹp” của NSNN, bình quân hàng năm giai
17
đoạn 2002 – 2005 thiếu khoảng 188 tỷ đồng/năm; giai đoạn 2006 – 2010 thiếu
khoảng 720 tỷ đồng/năm.
Bảng 2.12. Một số khoản doanh thu
Đơn vị: phần trăm (%)
Chỉ tiêu
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
Lãi cho vay
42
36
46
20
52
19
54
16
62
15
Cấp bù chênh lệch lãi
suấtvàphíquảnlý
Lãi tiền gửi
15
31
24
28
25
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB.
Tốc độ tăng chi phí trung bình hàng năm là 41%. Chiếm tỷ trọng lớn nhất là chi
phí huy động vốn với mức trung bình là 90% tổng chi phí của ngân hàng.
Bảng 2.13. Các khoản chi phí
Đơn vị: phần trăm (%)
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Chi phí huy động vốn
Dợ phòng RRTD
Chi phí quản lý
Chi phí khác
88
5
6
87
5
7
90
4
5
90
3
6
1
1
1
1
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB.
Tốc độ tăng của các chỉ số như tổng chi phí và tổng doanh thu bình quân
đầu người (cán bộ) của VDB có diễn biến không ổn định (thất thường), phản
ánh khả năng tạo doanh thu và khả năng quản lý chi phí của ngân hàng không
tốt. Tốc độ tăng chi phí bình quân đầu người lớn hơn rất nhiều (31%) so với tốc
độ tăng doanh thu bình quân đầu người (26%), tổng tài sản bình quân đầu người
thấp hơn chi phí quản lý bình quân đầu người. Vậy là số lượng cán bộ tăng lên
nhưng hiệu quả hoạt động không tăng.
18
Bảng 2.14. Tốc độ tăng chi phí và doanh thu bình quân đầu ngƣời
Đơn vị: phần trăm (%)
Chỉ tiêu
Năm Năm Năm Năm Năm
2006 2007
2008
36
49
25
45
2
2009 2010
Tốcđộ tăng chi phí/cán bộ
Tốcđộ tăng doanh thu/cán bộ
Tốc độ tăng tài sản/cán bộ
Tốc độ tăng chi phí quản lý/cán bộ
Tốc độ tăng cán bộ
25
26
12
-7
-12
-4
31
26
-4
6
40
31
-2
6
23
0,05
-17
36
9
9
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB.
Chi phí quản lý tăng nhưng chất lượng tín dụng không được cải thiện nên chi
phí trên tài sản và trên dư nợ hàng năm gia tăng nhanh, trung bình lần lượt mỗi
năm là 0,31% và 0,37% trong thời gian qua. Tỷ lệ giữa vốn huy động trên tổng
tài sản cao và gia tăng hàng năm cho thấy hoạt động của VDB phụ thuộc nhiều
vào các nguồn vốn bên ngoài và vai trò “tấm đệm cho sự phá sản” của vốn chủ
sở hữu khó phát huy được tác dụng khi ngân hàng gặp khó khăn về tài chính.
Mức tăng hàng năm của vốn chủ sở hữu quá nhỏ, trung bình dưới 0,5%/năm,
trong khi đó mức tăng trung bình hàng năm của dư nợ tín dụng ở mức trên
16%/năm. Tỷ lệ cho vay tăng nhanh trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản
có xu hướng giảm (năm 2006 là 10,8%, năm 2008: 7,7%, tăng lên 11,5% khi
được bổ sung vốn Điều lệ năm 2009 thêm 5.000 tỷ đồng, đến cuối năm 2010
giảm còn 8,8%). Các chỉ tiêu ROE và ROA rất thấp và không ổn định so với các
TCTD cùng quy mô trên thị trường.
Bảng 2.16. Tỷ lệ sinh lời trên tài sản và trên vốn chủ sở hữu
Đơn vị: phần trăm (%)
Chỉ tiêu
Năm
2006
6
Năm
2007
3,97
0,23
Năm
2008
13,92
0,73
Năm
2009
9,92
0,64
Năm
2010
10,05
0,68
ROE
ROA
0,4
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB.
19
Nguyên nhân làm giảm hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam
Nguyên nhân quan trọng nhất làm giảm hiệu quả hoạt động của VDB là
chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. Chính sách ngành, vùng và
lĩnh vực được cấp tín dụng còn thiếu cụ thể và dàn trải do chính sách quy hoạch
phát triển ngành, vùng, lĩnh vực chưa thực sự khoa học, các quy định về hiệu quả
tín dụng Nhà nước chưa rõ ràng, chính sách ưu đãi chưa được tính toán khoa học
cho từng đối tượng cấp tín dụng, các hình thức của TDNN chưa hợp lý.
Nguyên nhân thứ hai là năng lực huy động vốn của VDB có nhiều hạn
chế: các hình thức huy động vốn của ngân hàng đơn điệu, không ổn định và
chưa thực sự gắn với thị trường;VDB chưa tạo được lợi thế cạnh tranh về huy
động vốn trên thị trường tài chính trong và ngoài nước; sự yếu kém về công
nghệ thanh toán đã hạn chế VDB huy động nguồn tiền gửi thanh toán tiềm năng
và chi phí thấp.
Nguyên nhân thứ ba là chất lượng công tác thẩm định của VDB còn thấp:
bộ máy tổ chức thẩm định chưa phù hợp với yêu cầu của công tác thẩm định
trong giai đoạn mới; một số nội dung thẩm định quan trọng chưa được thực
hiện hoặc không thực hiện theo đúng các chuẩn mực (tài sản đảm bảo, hiệu quả
kinh tế - xã hội của dự án…).
Nguyên nhân thứ tư là năng lực quản lý rủi ro thấp: hiện nay tại VDB
chưa có bộ phận riêng biệt về quản lý rủi ro nói chung và quản lý rủi ro tín dụng
nói riêng; VDB chưa xây dựng được hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, chưa
có chế tài kiểm tra gắt gao và xử lý nghiêm việc triển khai thực hiện nên vẫn
không đạt được hiệu quả phòng ngừa như mong muốn; quy trình thực hiện xử
lý rủi ro trải qua quá nhiều khâu, cấp và nhiều thủ tục hành chính phức tạp, tốn
nhiều thời gian và công sức của cả ngân hàng và khách hàng; số tiền dự phòng
trích lập không có cơ sở khoa học và không phản ánh được tính chất của dự
phòng rủi ro là chống “sốc” cho các tổn thất tín dụng sau này; quy định về tài
sản đảm bảo hiện nay tiềm ẩn rủi ro tín dụng ở mức cao.
Nguyên nhân cuối cùng là cán bộ của VDB chưa đáp ứng được yêu cầu
công việc: Hiện nay đội ngũ cán bộ của VDB có hai mắt xích yếu nhất là cán bộ
tác nghiệp ở Hội sở chính và lãnh đạo các chi nhánh.
20
CHƢƠNG 3
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3.1. Định hướng về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trong thời
gian tới
i. Tín dụng Nhà nước phải phù hợp với yêu cầu của WTO
ii. Tín dụng Nhà nước cần mở rộng cân đối với nguồn vốn
iii. Tín dụng Nhà nước tạo động lực phát triển tín dụng thương mại.
3.2. Định hướng hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến
năm 2020
i. VDB là công cụ của Chính phủ nhằm hỗ trợ tăng trưởng và phát triển kinh tế
- xã hội thông qua thúc đẩy đầu tư phát triển và xuất khẩu theo sát chiến lược
phát triển KT-XH của đất nước
ii. Hoạt động năng động trên thị trường tài chính
iii. Giảm dần và tiến tới xóa bỏ ưu đãi qua lãi suất, chuyển sang ưu đãi ở thời
hạn cho vay, bảo đảm tiền vay và mức vốn cho vay
iv. Tổ chức và hoạt động của VDB được hoàn thiện phù hợp với điều kiện
trong nước và thông lệ quốc tế
v. Tập trung nâng cao chất lượng tín dụng, tăng cường kiểm tra, giám sát
vi. Tập trung xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ có tính chuyên nghiệp cao
3.3. Quan điểm về hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Thứ nhất, hỗ trợ về cho vay theo nghĩa VDB là cứu cánh cho vay cuối
cùng đối với các dự án
Thứ hai, hỗ trợ về công nghệ theo nghĩa VDB là “chất xúc tác” trong việc
tư vấn và tài trợ công nghệ cho các dự án
Thứ ba, hoạt động bảo lãnh tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và hỗ trợ
lãi suất sau đầu tư được coi là hoạt động chủ yếu của VDB
Thứ tư, VDB gia tăng các khoản cho vay dưới hình thức đồng tài trợ với các
NHTM và TCTD khác hoặc kêu gọi các TCTD tham gia tài trợ cho các dự án
hoặc hạng mục của dự án phù hợp với mục tiêu hoạt động của các tổ chức này.
3.4. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển
Việt Nam
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tom_tat_luan_an_nang_cao_hieu_qua_hoat_dong_cua_ngan_hang_ph.pdf

