Tóm tắt Luận án Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam

1
LỜI MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Mặc dù ngành bảo hiểm thương mại ở Việt Nam được bắt đầu hình thành từ năm 1965 với sự  
ra đời của Công ty bảo hiểm Việt Nam (Nay là Tập đoàn tài chính- bảo hiểm Bảo Việt), nhưng Việt  
Nam chỉ thực sự có thị trường bảo hiểm từ năm 1994 sau khi Nghị định 100/CP của Chính phủ được  
ban hành tháng 12 năm 1993. Với sự ra đời của hàng loạt các doanh nghiệp bảo hiểm, thị trường bảo  
hiểm Việt Nam đã trở nên sôi động hơn, từng bước đáp ứng được các nhu cầu về bảo hiểm của các tổ  
chức và cá nhân trong xã hội. Tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm hàng năm của thị trường  
trong những năm qua đều đạt từ 20% đến 30%. Tuy nhiên, mặc dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao,  
tiềm năng của thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng  
vẫn còn "bỏ ngỏ" lớn. Bên cạnh đó, sự tăng trưởng của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam  
cũng bộc lộ nhiều tồn tại như: cạnh tranh không lành mạnh diễn ra tràn lan, đặc biệt là giữa các  
doanh nghiệp bảo hiểm trong nước; chất lượng của dịch vụ bảo hiểm không cao và chưa được chú  
trọng; năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước yếu kém. Điều đó sẽ ảnh  
hưởng tới tốc độ tăng trưởng và sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt  
Nam trong thời gian tới.  
Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, là người trực tiếp công tác trong ngành bảo hiểm,  
Nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam”  
để nghiên cứu trong luận án của mình.  
Ngoài ra, cho đến nay ở Việt Nam, tuy đã có một số nghiên cứu ở các lĩnh vực riêng biệt,  
các chủ đề riêng biệt của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, nhưng chưa có nghiên cứu nào về  
toàn bộ thị trường này. Vì vậy, đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn; là tài  
liệu tham khảo cho các chuyên gia, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực bảo hiểm và những cá nhân  
khác có quan tâm.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ, thị  
trường bảo hiểm và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường bảo hiểm, luận án phân tích  
thực trạng hoạt động và phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam giai đoạn 2006-  
2010, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ thời  
gian tới.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm, bảo hiểm phi nhân thọ và  
thị trường bảo hiểm phi nhân thọ gắn liền với thực tiễn Việt Nam.  
Phạm vi nghiên cứu:  
- Nghiên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đối với hoạt động bảo hiểm gốc, chỉ nghiên cứu  
hoạt động tái bảo hiểm, hoạt động đầu tư tài chính trên giác độ hỗ trợ hoạt động bảo hiểm gốc.  
- Nghiên cứu toàn bộ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam, trong đó có nghiên cứu  
điển hình ở một số doanh nghiệp dẫn đầu thị trường.  
- Thời gian nghiên cứu tập trung giai đoạn 2006-2010 và một số năm trước đó để so sánh,  
phân tích.  
2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận án chủ yếu sử dụng tài liệu, số liệu đã được công bố từ các nguồn: Niên giám thống kê,  
Cục quản lý và giám sát bảo hiểm- Bộ tài chính, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, một số doanh nghiệp  
bảo hiểm như Bảo Việt, Bảo Minh, Bảo hiểm dầu khí (PVI), các bài báo, bài viết, công trình nghiên  
cứu được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ cho việc nghiên cứu.  
Luận án sử dụng phương pháp lập bảng biểu, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp,  
phương pháp phân tích trong nghiên cứu tổng quan tài liệu, từ đó rút ra những kết luận, những bài  
học đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam. Đây là những cơ sở về  
mặt lý luận và thực tiễn để luận án đề xuất các giải pháp phát triển thị trường.  
5. Những đóng góp của luận án  
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm thương mại, bảo  
hiểm phi nhân thọ và thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.  
- Nghiên cứu bài học kinh nghiệm của các nước về phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân  
thọ cho Việt Nam.  
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai  
đoạn 2006-2010.  
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam đến năm  
2020.  
6. Kết cấu luận án  
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có kết cấu ba chương:  
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ  
Chương 2: Thực trạng thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam (giai đoạn 2006-2010)  
Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam  
7. Tổng quan nghiên cứu  
Liên quan đến thị trường BHPNT và phát triển thị trường BHPNT, đã có các công trình  
nghiên cứu được công bố sau:  
1) Luận án "Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam" , năm  
2004, Phạm Thị Định  
Luận án tập trung nghiên cứu:  
- Những vấn đề lý luận chung về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm  
- Kinh nghiệm của các nước về quản lý hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm  
- Phân tích thực trạng hoạt động hoạt động đầu tư của các DNBH Nhà nước ở Việt nam bao  
gồm Bảo Việt, Bảo Minh và PVI  
- Đưa ra hệ thống các giải pháp phát triển hoạt động đầu tư của các DNBH nhà nước ở Việt  
Nam.  
Như vậy, đề tài chỉ nghiên cứu một mảng trong hoạt động kinh doanh của 3 DNBH là hoạt  
động đầu tư tài chính mà chưa nghiên cứu đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Luận án cũng giới  
hạn ở 3 DNBH lớn trên thị trường, không nghiên cứu cho toàn bộ thị trường và ở thời điểm cách đây  
7 năm.  
2) Luận án "Nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các doanh nghiệp bảo  
hiểm nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội nhập", 2007, Đoàn Minh Phụng.  
Luận án tập trung nghiên cứu:  
3
- Những vấn đề lý luận chung về bảo hiểm và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo  
hiểm  
- Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh BHPNT của các DNBH Nhà nước ở Việt Nam  
bao gồm Bảo Việt, Bảo Minh và PVI  
- Đưa ra hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả của các DNBH nhà nước ở Việt Nam.  
Như vậy, đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của ba DNBH nhà nước, không  
nghiên cứu cho toàn bộ thị trường và thời điểm cách đây 4 năm. Các vấn đề tổng quan của thị trường  
bảo hiểm, thị trường BHPNT (như các chủ thể trên thị trường, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát  
triển của thị trường...) không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.  
3) Đề tài "Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường  
bảo hiểm ở Việt Nam", 2011, PGS.TS Hoàng Trần Hậu và TS Hoàng Mạnh Cừ.  
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:  
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về thị trường bảo hiểm; công tác quản lý, giám  
sát Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm.  
- Phân tích thực tế hoạt động quản lý, giám sát của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm ở  
Việt Nam hiện nay.  
- Đề xuất hệ thống các giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giám sát  
Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm ở Việt Nam.  
Đề tài có những đóng góp mới quan trọng là nghiên cứu về rủi ro và đo lường rủi ro trong  
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm; nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề của công tác  
quản lý, giám sát Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm như: nguyên tắc, mô hình và nội dung quản  
lý, giám sát. Tuy nhiên, những vấn đề khác của thị trường, đặc biệt là về thị trường BHPNT, không  
thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.  
Như vậy, mặc dù đã có một số nghiên cứu có liên quan như trình bày trên, nhưng chưa có  
công trình nào nghiên cứu tổng thể về thị trường BHPNT và giải pháp phát triển thị trường BHPNT  
ở Việt Nam. Do đó, tác giả đã chọn đề tài "Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở  
Việt Nam".  
4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO  
HIỂM PHI NHÂN THỌ  
1.1 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ  
1.1.1 Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ  
1.1.1.1 Bảo hiểm phi nhân thọ trong ngành bảo hiểm thương mại  
Bảo hiểm thương mại (BHTM) là loại hình bảo hiểm hiện nay được triển khai rộng rãi ở khắp  
các nước trên thế giới. Sự ra đời và phát triển của BHTM gắn liền với cuộc đấu tranh để sinh tồn của  
con người trước những nguy cơ rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào gây thiệt hại không những về của  
cải vật chất mà còn đến cả tính mạng, sức khoẻ con ngưòi. Có thể lấy ví dụ: Rủi ro do tự nhiên gây ra  
như các hiện tượng bão lụt, động đất, núi lửa; rủi ro do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật như tai nạn  
phương tiện giao thông vận tải, tai nạn lao động; hay rủi ro do môi trường xã hội như hiện tượng  
trộm cắp. Để đối phó với các nguy cơ rủi ro có thể xảy ra gây thiệt hại cho con người, đã có nhiều  
biện pháp được sử dụng. Trên quan điểm quản lý rủi ro, các biện pháp này thành hai nhóm:  
- Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro. Bao gồm các biện pháp tránh né rủi ro, ngăn ngừa tổn  
thất và giảm thiểu tổn thất.  
- Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro. Bao gồm những biện pháp nhằm khắc phục những khó  
khăn về mặt tài chính do rủi ro bất ngờ gây ra, như đi vay, tích luỹ để dành, tương trợ nhau và bảo  
hiểm. Trong thực tế, các biện pháp này tồn tại song song nhau, trong đó bảo hiểm được coi là biện  
pháp hữu hiệu nhất.  
Hiện nay, có nhiều nghiên cứu khoa học về bảo hiểm đã đưa ra các quan niệm về BHTM.  
Các quan niệm dù định nghĩa BHTM theo những cách thức khác nhau nhưng đều thể hiện bản chất  
của bảo hiểm nói chung đó là sự san sẻ rủi ro của số đông các cá nhân và tổ chức trong xã hội thông  
qua hoạt động của các công ty bảo hiểm.  
Hiện nay trên thị trường BHTM đã có tới hàng trăm loại hình bảo hiểm và được phân chia  
thành các nhóm khác nhau tuỳ theo mục đích và ý nghĩa nghiên cứu. Ví dụ:  
- Căn cứ vào tính pháp lý, BHTM được chia thành: Bảo hiểm bắt buộc và Bảo hiểm tự  
nguyện.  
- Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm, BHTM được chia thành: Bảo hiểm tài sản,Bảo hiểm con  
người, và Bảo hiểm trách nhiêm dân sự:  
- Trong thực tế, các công ty bảo hiểm có thể phân loại BHTM để quản lý trên cơ sở lịch sử ra  
đời của các nghiệp vụ bảo hiểm. Với sự ra đời của bảo hiểm nhân thọ vào cuối thế kỷ XIX với kỹ  
thuật bảo hiểm riêng, BHTM được chia thành hai nhóm lớn, đó là: Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm  
phi nhân thọ.  
1.1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm phi nhân thọ  
Nhìn chung, bảo hiểm phi nhân thọ có những đặc điểm cơ bản sau:  
- Bảo hiểm phi nhân thọ chỉ nhận bảo hiểm cho những rủi ro mang tính chất thiệt hại mà  
không có tính chất tiết kiệm như trong BHNT.  
- Bảo hiểm phi nhân thọ có thời hạn bảo hiểm thường là ngắn từ 1 năm trở xuống.  
- Bảo hiểm con người phi nhân thọ áp dụng kỹ thuật phân chia trong việc quản lý quỹ tài  
chính bảo hiểm, khác với bảo hiểm nhân thọ áp dụng kỹ thuật tồn tích.  
5
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm phi nhân thọ  
- Bảo hiểm phi nhân thọ góp phần ổn định đời sống kinh tế, từ đó ổn định về mặt tinh thần,  
cho các cá nhân và tổ chức trong xã hội khi không may gặp phải rủi ro.  
- Bảo hiểm phi nhân thọ góp phần làm giảm “tổng rủi ro” của xã hội, đảm bảo cho xã hội có  
một quỹ tài chính đủ lớn và chủ động đối phó với rủi ro.  
- Bảo hiểm phi nhân thọ tạo điều kiện gần như tốt nhất cho sản xuất thông qua việc ổn định  
giá cả và cấu trúc giá.  
- Bảo hiểm phi nhân thọ là một kênh cung cấp vốn đáng kể cho nền kinh tế.  
- Bảo hiểm phi nhân thọ thực hiện các hoạt động giám sát tổn thất quan trọng, giúp phòng  
tránh và giảm thiểu rủi ro, tổn thất xảy ra cho toàn xã hội.  
Ngoài ra, còn có thể kể tới rất nhiều vai trò khác của bảo hiểm như góp phần tăng cường mối  
quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước, tạo công ăn việc làm, tăng GDP, góp phần đảm bảo an sinh  
xã hội [14]…  
1.1.3 Phân loại bảo hiểm phi nhân thọ  
Theo tiêu thức dựa trên đối tượng bảo hiểm, BHPNT được chia thành:  
1.1.3.1 Bảo hiểm tài sản  
1.1.3.2 Bảo hiểm tránh nhiệm dân sự (TNDS)  
1.1.3.3 Bảo hiểm con người phi nhân thọ  
1.2 THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI SỰ  
PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ  
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ  
Thị trường BHPNT là một phần của thị trường bảo hiểm nói chung. Vì vậy, theo quan điểm  
của luận án, xét ở một phạm vi cụ thể, thị trường BHPNT là nơi diễn ra các hoạt động liên quan đến  
việc mua và bán các sản phẩm BHPNT. Với việc đề cập tới các hoạt động liên quan đến việc mua và  
bán sản phẩm BHPNT, khái niệm thị trường BHPNT không chỉ dừng lại ở giới hạn khi HĐBH được  
ký kết mà bao gồm tất cả các hoạt động liên quan như: tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro, giám định  
bồi thường, công tác đề phòng hạn chế tổn thất.  
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) cũng như các loại thị trường khác, đều có những  
đặc trưng chung đó là:  
- Cung cầu về bảo hiểm luôn biến động:  
- Giá bảo hiểm phụ thuộc nhiều yếu tố:  
- Cạnh tranh và liên kết diễn ra liên tục:  
- Thị phần các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) trên thị trường luôn thay đổi:  
Bên cạnh những đặc điểm trên, thị trường BHPNT còn có những đặc điểm riêng là:  
- Thị trường BHPNT có đối tượng khách hàng rất rộng vì đối tượng bảo hiểm đa dạng bao  
gồm tài sản, trách nhiệm dân sự, con người và phải có số lượng lớn khách hàng tham gia bảo hiểm để  
đảm bảo quy luật số lớn.  
- Thị trường BHPNT là thị trường cung cấp sản phẩm liên quan đến rủi ro, đến sự bấp bênh.  
- Thị trường BHPNT là một thị trường đặc biệt cung cấp một loại dịch vụ đặc biệt, đó là dịch  
vụ “an toàn”.  
- Thị trường BHPNT ra đời muộn hơn so với các thị trường khác do nhu cầu bảo hiểm là một  
6
loại nhu cầu ở mức độ cao của con người.  
1.2.2 Phân loại thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ  
Theo các tiêu thức phân loại thị trường nói chung của hoạt động Marketing, thị trường  
BHPNT cũng có thể phân loại theo tiêu thức: địa lý, nhân khẩu học, tâm lý và hành vi người tiêu  
dùng.  
Trong thực tế của hoạt động kinh doanh BHPNT, các tiêu thức trên được vận dụng một cách  
tổng hợp để phân loại thị trường bảo hiểm. Một cách thông dụng, thị trường BHPNT thường được  
phân chia theo đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm. Theo đó thị trường BHPNT có thể được chia thành  
ba thị trường lớn là thị trường bảo hiểm tài sản, thị trường bảo hiểm TNDS và thị trường bảo hiểm  
con người phi nhân thọ. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ cũng có thể được chia thành các thị  
trường nhỏ hơn như thị trường bảo hiểm hàng hải, thị trường bảo hiểm xe cơ giới, thị trường bảo  
hiểm cháy nổ…Và nếu chia nhỏ hơn theo đặc điểm của từng sản phẩm bảo hiểm, từng nghiệp vụ bảo  
hiểm cụ thể.  
1.2.3 Các chủ thể tham gia thị trƣờng  
1.2.3.1 Người mua bảo hiểm  
Người mua bảo hiểm là những khách hàng trên thị trường bảo hiểm, Họ có nhu cầu về bảo  
hiểm, ký hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Trong lĩnh vực bảo hiểm,  
người mua còn gọi là người tham gia bảo hiểm.  
1.2.3.2 Người bán bảo hiểm  
Trên thị trường bảo hiểm, người cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các tổ chức và cá nhân trong  
xã hội là các doanh nghiệp hay tổ chức bảo hiểm. Họ còn được gọi bởi các tên khác như nhà bảo  
hiểm hay người bảo hiểm hay bên bảo hiểm. Sau đây, luận án gọi chung là doanh nghiệp bảo hiểm  
(DNBH).  
1.2.3.3 Trung gian bảo hiểm  
Để đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng, các DNBH thường sử dụng các kênh phân phối là:  
- Phân phối trực tiếp: Đây là lực lượng bán hàng trực tiếp của các DNBH. Họ là cán bộ, nhân  
viên của chính DNBH. Phân phối trực tiếp là kênh phân phối khá phổ biến trên thị trường BHPNT ở  
Việt Nam.  
- Phân phối gián tiếp: Đây là lực lượng bán hàng gián tiếp của các DNBH. Họ là những trung  
gian trên thị trường bảo hiểm bao gồm: Môi giới và đại lý bảo hiểm.  
1.2.3.4 Nhà tái bảo hiểm  
Tái bảo hiểm (TBH) là hoạt động không thể thiếu đối với DNBH gốc kinh doanh BHPNT.  
TBH không chỉ là một biện pháp quan trọng giúp các nhà bảo hiểm phân tán bớt rủi ro để ổn định  
hoạt động kinh doanh mà còn gián tiếp đảm bảo quyền lợi cho người được bảo hiểm và đảm bảo cho  
sự phát triển bền vững của toàn thị trường bảo hiểm.  
1.2.3.5 Cơ quan quản lý nhà nước  
Cũng như ở các lĩnh vực kinh doanh khác, kinh doanh bảo hiểm phải chịu sự quản lý của Nhà  
nước nhằm đảm bảo mọi hoạt động của thị trường tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật.  
1.2.4 Sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ  
1.2.4.1 Khái niệm và đặc điểm  
Từ các góc độ khác nhau, có thể đưa ra các định nghĩa khác nhau về sản phẩm bảo hiểm  
7
(SPBH). Tuy nhiên, xét trên góc độ quản trị kinh doanh, có thể định nghĩa một cách đơn giản: SPBH  
là sản phẩm mà DNBH bán. Như vậy, sản phẩm BHPNT là sản phẩm mà doanh nghiệp kinh doanh  
BHPNT bán trên thị trường.  
Nhìn chung các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cũng như các sản phẩm bảo hiểm nói chung  
có các đặc điểm cơ bản sau:  
- Là sản phẩm không định hình.  
- Là sản phẩm có hiệu quả “xê dịch”  
- Là sản phẩm “không mong đợi”  
- Là sản phẩm của “chu kỳ kinh doanh đảo ngược”  
- Là sản phẩm dễ bắt chước  
1.2.4.2 Các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ  
Theo đối tượng bảo hiểm, các sản phẩm BHPNT được chia thành 3 nhóm:  
- Nhóm các sản phẩm bảo hiểm tài sản  
- Nhóm các sản phẩm bảo hiểm TNDS  
- Nhóm các sản phẩm bảo hiểm con người (hay còn được gọi là bảo hiểm tai nạn cá nhân và  
chi phí y tế)  
Ngoài ra, tùy thuộc vào nội dung và ý nghĩa khi triển khai, các sản phẩm bảo hiểm có thể  
được chia thành: sản phẩm bảo hiểm bắt buộc và sản phẩm tự nguyện; sản phẩm bảo hiểm riêng lẻ  
và bảo hiểm trọn gói; hoặc phân chia sản phẩm bảo hiểm theo nhóm nghiệp vụ bảo hiểm như: bảo  
hiểm hàng hải, bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm máy bay…  
1.2.5 Các nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ  
1.2.5.1 Môi trường pháp lý  
Hoạt động của thị trường bảo hiểm không thể nằm ngoài khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc  
gia. Nó không chỉ đơn thuần là việc các công ty bảo hiểm trên thị trường phải tuân thủ theo các quy  
định của pháp luật, mà chính điều này đảm bảo cho các công ty được cạnh tranh một cách công bằng  
và lành mạnh trên thị trường, bảo đảm cho quyền lợi của người tham gia bảo hiểm, từ đó thúc đẩy thị  
trường phát triển.  
1.2.5.2 Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội  
Sự phát triển kinh tế của quốc gia là nhân tố quan trọng tiếp theo ảnh hưởng đến thị trường  
bảo hiểm phi nhân thọ. Trước hết kinh tế phát triển, tức các ngành sản xuất, dịch vụ phát triển, dẫn  
đến các nhu cầu về bảo hiểm cũng tăng. Ngoài ra, khi kinh tế phát triển, đời sống của người dân  
được nâng cao, nhu cầu về ăn ở mặc được đáp ứng đầy đủ, thì nhu cầu được bảo vệ trở nên quan  
trọng.  
Bên cạnh yếu tố kinh tế, các yếu tố văn hoá xã hội cũng có tác động đáng kể đến sự phát triển  
của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ như: dân số, trình độ dân trí, văn hóa tiêu dùng...  
1.2.5.3 Môi trường kinh tế quốc tế  
Xu hướng toàn cầu hoá đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay có sự ảnh hưởng lớn lao đến  
sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ. Việc mở cửa và hội nhập còn tạo nhiều cơ hội  
khác cho các công ty bảo hiểm trong nước như tiếp cận công nghệ bảo hiểm tiên tiến, tiếp cận thị  
trường nước ngoài. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo nhiều thách thức đối với sự phát triển của  
thị trường bảo hiểm trong nước như cạnh tranh khốc liệt hơn từ thị trường nước ngoài, mất sự bảo trợ  
của Nhà nước…  
8
1.2.5.4 Năng lực của DNBH  
Sự phát triển của thị trường BHPNT luôn gắn liền với năng lực của DNBH trong việc cung  
cấp các sản phẩm bảo hiểm ra thị trường. Năng lực của DNBH được thể hiện trên các mặt: năng lực  
tài chính; năng lực marketing; năng lực tổ chức, điều hành và trình độ cán bộ.  
1.2.5.5 Vai trò của Hiệp hội bảo hiểm  
Hiệp hội bảo hiểm có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường bảo hiểm.  
Hiệp hội trước hết là cầu nối giữa cơ quan quản lý Nhà nước với các DNBH. Bên cạnh đó, là tổ chức  
đại diện cho các DNBH, hiệp hội bảo hiểm có thể phát huy sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp  
nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm bảo  
hiểm mới, tổ chức đào tạo cho toàn thị trường. Hiệp hội còn là trung tâm cung cấp thông tin và tuyên  
truyền chung cho các DNBH.  
1.2.5.6 Điều kiện kinh tế và nhận thức của khách hàng  
Khi điều kiện kinh tế của con người càng nâng cao, nhu cầu của họ cũng tăng lên theo các  
cấp bậc. Vì nhu cầu về bảo hiểm nằm trong cấp độ nhu cầu “an toàn”, ở mức cao hơn nhu cầu cơ  
bản, nên khi điều kiện kinh tế còn thấp, người dân trước hết còn phải lo đến cái ăn, cái mặc sẽ không  
có điều kiện để lo đến việc mua bảo hiểm. Khi điều kiện kinh tế tốt hơn, người dân sẽ có điều kiện  
tài chính để mua bảo hiểm.  
Nhận thức về sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định  
lựa chọn sản phẩm bảo hiểm để thoả mãn nhu cầu. Đây là quy luật nói chung không chỉ riêng với sản  
phẩm bảo hiểm. Thậm chí bảo hiểm còn bị chi phối nhiều hơn bởi bảo hiểm là sản phẩm vô hình, là  
sản phẩm không mong đợi.  
1.2.6 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ  
1.2.6.1 Chỉ tiêu phản ánh năng lực của thị trường bảo hiểm  
- Số lượng các DNBH đang hoạt động kinh doanh trên thị trường  
(1.1)  
- Số lượng trung gian bảo hiểm  
- Số lượng các sản phẩm bảo hiểm  
- Quy mô vốn của thị trường  
(1.2)  
(1.3)  
(1.4)  
1.2.6.2 Chỉ tiêu phản ánh quy mô thị trường  
- Số lượng hợp đồng bảo hiểm  
- Số tiền bảo hiểm  
(1.5)  
(1.6)  
(1.7)  
- Doanh thu phí bảo hiểm  
1.2.6.3 Đóng góp của thị trường bảo hiểm vào các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước  
- Đóng góp vào GDP  
(1.9)  
- Tạo công ăn việc làm  
(1.10)  
(1.11)  
- Bù đắp thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra  
- Tái bảo hiểm nhằm phát triển quan hệ hợp tác quốc tế và bảo vệ thị trường trong nước:  
+ Phí nhượng (nhận) TBH  
(1.12)  
(1.13)  
(1.14)  
(1.15)  
+ Phí nhượng (nhận) TBH trong nước, và Phí nhượng (nhận)  
+ TBH ra nước ngoài.  
- Giá trị tái đầu tư trở lại nền kinh tế  
- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm  
9
+ Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí  
+ Hiệu quả theo doanh thu:  
+ Hiệu quả theo lợi nhuận:  
- Hiệu quả hoạt động đầu tư:  
(1.16)  
(1.17)  
(1.18)  
+ Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tài chính tổng hợp:  
+ Tỷ suất lợi nhuận đầu tư::  
(1.19)  
(1.20)  
Hệ thống các chỉ tiêu trên là các chỉ tiêu định lượng phản ánh sự phát triển của thị trường  
BHPNT. Tuy nhiên, mặc dù là các chỉ tiêu định lượng, nhưng đó là sự thể hiện kết quả phát triển của  
thị trường về mặt chất lượng.  
1.3 MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO  
HIỂM PHI NHÂN THỌ  
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu có đề cập tới sự phát triển của một số thị trường bảo hiểm  
trên thế giới như Mỹ, Pháp, Đài Loan, và đặc biệt là các nước Asean như Thái lan, Malaysia, luận án  
nhận thấy rằng muốn phát triển thị trường BHPNT cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:  
Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.  
Bao gồm các nội dung cơ bản sau:  
- Quy định về đăng ký và cấp giấy phép kinh doanh:  
- Quy định về nội dung hoạt động:  
- Quy định về vốn pháp định và các khoản ký quỹ:  
- Quy định về dự phòng nghiệp vụ, biên khả năng thanh toán  
- Quy định về biểu phí và hoa hồng bảo hiểm:  
- Các quy định khác  
Thứ hai, thiết lập được một cơ quan quản lý bảo hiểm với đầy đủ quyền lực để thực thi chức  
năng và quyền lực của mình, được sự thừa nhận và bảo vệ của pháp luật.  
Thứ ba, tạo sự cạnh tranh hợp lý cho thị trường bảo hiểm phi nhân thọ theo hướng đa dạng  
hoá về hình thức sở hữu, bảo đảm cơ cấu hài hoà giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và  
nước ngoài.  
Thứ tư, tạo cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động của các công ty bảo hiểm một cách có hiệu  
quả, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, đảm bảo thị trường phát triển bền vững.  
10  
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ Ở  
VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN 2006 -2010)  
2.1 KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƢỜNG  
BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM  
Do đặc điểm lịch sử của nước ta, sự hình thành và phát triển của thị trường BHPNT Việt  
Nam đến nay được chia và tóm tắt thành 4 giai đoạn:  
- Giai đoạn 1964-1974  
- Giai đoạn 1975-1993  
- Giai đoạn 1994- 2005  
- Giai đoạn 2006-2010  
2.2 TRỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM (GIAI ĐOẠN  
2006-2010)  
2.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam  
Giai đoạn 2006-2010 là giai đoạn mà tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam tiếp tục phát triển và  
tương đối ổn định mặc dù thế giới có nhiều biến đổi và bất ổn cả về mặt kinh tế và chính trị xã hội.  
Đây là những điều kiện tiền đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường BHPNT trong  
giai đoạn này cũng như những năm về sau. Một số chỉ tiêu quan trọng được luận án đề cập tới là:  
GDP, Sản xuất công nghiệp, Sản xuất nông nghiệp, Xuất nhập khẩu, Đầu tư phát triển, Dân số, Thu  
nhập dân cư, và Giáo dục.  
2.2.2 Thực trạng thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam  
2.2.2.1 Quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động thị trường  
a. Luật kinh doanh bảo hiểm  
b. Các Nghị định  
c. Các Thông tư  
d. Các đề án, chiến lược  
Ngoài ra, khi thực hiện kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm, các DNBH còn chịu sự điều  
chỉnh của các quy định pháp luật khác của Việt Nam như: Bộ Luật dân sự, Luật Hàng hải Việt Nam.  
2.2.2.2 Quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường BHPNT  
Theo quy định, Bộ tài chính là cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh  
doanh bảo hiểm nói chung, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, trong đó có các DNBH phi  
nhân thọ.  
Trước đây, Bộ Tài chính có Phòng quản lý bảo hiểm thuộc Vụ Tài chính Ngân hàng thực hiện  
chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm. Năm 2003, Phòng quản lý bảo hiểm được tách  
ra thành lập Vụ Bảo hiểm. Trước những yêu cầu mới, do sự phát triển nhanh chóng của thị trường  
bảo hiểm Việt Nam và xu hướng hội nhập quốc tế, năm 2009 Vụ bảo hiểm đã được chuyển thành  
Cục quản lý, giám sát bảo hiểm.  
2.2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ  
Luận án phân tích sự phát triển của thị trường BHPNT ở Việt Nam trên cơ sở hệ thống các  
chỉ tiêu được xây dựng ở chương 1. Do hạn chế về số liệu, có một số chỉ tiêu luận án không thể tính  
toán và phân tích được (Ví dụ: chỉ tiêu phản ánh quy mô thị trường như số lượng hợp đồng bảo hiểm,  
11  
số tiền bảo hiểm; chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh bảo hiểm và đầu tư tài chính như tỷ suất lợi  
nhuận trên vốn...). Tuy nhiên, việc không tính toán và phân tích được một số chỉ tiêu này có ảnh  
hưởng không đáng kể đến kết quả phân tích chung của luận án.  
(1) Năng lực của thị trường bảo hiểm  
- Số lượng các doanh nghiệp BHPNT hoạt động trên thị trường  
Nếu như trước năm 1994 ở Việt Nam chỉ có một doanh nghiệp BHPNT thì đến năm 2006 là  
22 doanh nghiệp. Năm 2008 thị trường vẫn tiếp tục được mở rộng và phát triển với sự tham gia thị  
trường của các DNBH như Công ty Cổ phần Bảo hiểm Hàng không, Bảo hiểm Than Khoáng sản.  
Đến năm 2010 số doanh nghiệp hoạt động trên thị trường là 30 doanh nghiệp, trong đó có 29 DNBH  
gốc và một doanh nghiệp TBH thuộc các thành phần kinh tế khác nhau: doanh nghiệp cổ phần,  
doanh nghiệp TNHH, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.  
Bảng 2.9 : Số lƣợng các DNBH trên thị trƣờng BHPNT (2006-2010)  
Năm  
2006  
21  
2007  
22  
2008  
27  
2009  
28  
2010  
29  
Số lƣợng DNBH gốc  
Số lƣợng doanh nghiệp TBH  
Tổng  
1
1
1
1
1
22  
23  
28  
29  
30  
(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
- Số lượng trung gian bảo hiểm  
Bên cạnh sự gia tăng về số lượng các DNBH, số lượng các trung gian bảo hiểm là đại lý và  
môi giới bảo hiểm cũng tăng lên. Nếu như năm 2004 số lượng doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là 6  
công ty, năm 2007 là 8 công ty, thì đến năm 2010 con số này là 11 công ty (trong đó có 6 công ty cổ  
phần trong nước và 4 công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài).  
Bảng 2.10: Số lƣợng các DNMGBH ở Việt Nam  
Năm  
2004  
2006  
2008  
2009  
2010  
6
8
8
10  
11  
Số lƣợng DNMGBH  
(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
Đại lý BHPNT cũng không ngừng được tăng lên và đa dạng hóa về hình thức, đặc biệt là đại  
lý tổ chức như ngân hàng, bưu điện, hội phụ nữ. Hầu hết các DNBH, dù ít hay nhiều, đều triển khai  
hoạt động Bancassurance, nhất là đối với các DNBH lớn như Bảo Việt, hay các DNBH thuộc ngân  
hàng như ABIC, BIC. Năm 2009 số lượng đại lý bảo hiểm phi nhân thọ là 37.561 người, tăng 3,69%  
so với năm 2008. Năm 2010 con số này là khoảng 42.000 người.  
- Số lượng các sản phẩm bảo hiểm triển khai trên thị trường  
Thị trường BHPNT Việt Nam đã triển khai được hầu hết các sản phẩm bảo hiểm cơ bản bao  
gồm cả bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm TNDS. Hiện nay theo phân loại của Cục  
quản lý, giám sát bảo hiểm và Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, các sản phẩm BHPNT được chia thành  
11 nhóm.  
Năm 2004 số lượng sản phẩm BHPNT được bán trên thị trường là 413 (trong đó chủ yếu là sản  
phẩm bảo hiểm tài sản với 290 sản phẩm), đến năm 2010 con số này đã tăng lên khoảng 620 sản phẩm.  
- Quy mô vốn của thị trường  
Quy mô vốn của các DNBH và thị trường càng tăng, năng lực tài chính của thị trường tăng và  
khả năng bảo vệ của thị trường đối với nền kinh tế xã hội cũng tăng lên. Số lượng bảng 2.12 cho  
thấy, năm 2004 vốn chủ sở hữu của thị trường là trên 3.000 tỷ đồng, đến năm 2010 là 11.027 tỷ đồng  
12  
tăng gấp 3,65 lần.  
Bảng 2.12: Quy mô vốn chủ sở hữu của thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ  
Năm  
2004  
2008  
2010  
3.020  
-
8.615  
2,85  
11.027  
3,65  
Quy mô vốn chủ sở hữu (tỷ đồng)  
Tăng so với năm 2004 (lần)  
(Nguồn: Ban bảo hiểm phi hàng hải, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
(2) Quy mô thị trường  
Bảng 2.13 cho thấy, doanh thu phí và tốc độ tăng doanh thu phí của toàn thị trường BHPNT  
Việt Nam giai đoạn 2006-2010. Tốc độ tăng doanh thu phí cao nhất là năm 2007 với 31%. Tính  
chung cho cả giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng bình quân năm của thị trường là 25,4%.  
Bảng 2.13: Doanh thu phí bảo hiểm thị trƣờng BHPNT (2006-2010)  
Năm  
2006  
6.381  
16  
2007  
8.360  
31  
2008  
10.887  
30  
2009  
13.644  
25  
2010  
17.052  
25  
Doanh thu phí bảo hiểm (tỷ đ)  
Tốc độ tăng (%)  
(Nguồn:Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
- Tạo công ăn việc làm  
Số liệu bảng 2.18 cho thấy, tổng số lao động làm việc trong lĩnh vực BHPNT là 83.017  
người, cán bộ nhân viên bảo hiểm là 17.017 người, đại lý bảo hiểm là 66.000 người.  
Bảng 2.18: Lao động làm việc trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ năm 2010  
Đơn vị: người  
Tổng số lao động  
Số lƣợng cán bộ, nhân viên  
Số lƣợng đại lý  
83.017  
17.017  
66.000  
(Nguồn: Dự thảo chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 2011-2020 )  
Ngành bảo hiểm đang được coi là một trong những ngành "nóng" thu hút lực lượng lao động  
lớn, có chất lượng cao. Điều này xuất phát từ việc số lượng các DNBH mới được cấp giấy phép hoạt  
động tăng lên; các DNBH đã thành lập thì mở rộng mạng lưới hoạt động đến khắp các tỉnh thành;  
thậm chí tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ chí Minh có tới 3 công ty thành viên của  
cùng một công ty bảo hiểm.  
- Bù đắp thiệt hại tài chính do rủi ro gây ra  
Với vai trò là "tấm lá chắn" cho nền kinh tế, thị trường BHPNT đã góp phần quan trọng trong  
việc bù đắp các thiệt hại tài chính cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội do rủi ro gây ra. Năm 2006  
số tiền bồi thường của toàn thị trường là 2.495 tỷ đồng; đến năm 2010 con số này là 6.384 tỷ đồng,  
tăng gấp gần 3 lần so với năm 2007 (bảng 2.19). Tỷ lệ bồi thường các năm nhìn chung dao động  
quanh con số 40%.  
Bảng 2.19: Tình hình bồi thƣờng bảo hiểm gốc toàn thị trƣờng (2006-2010)  
Năm  
STBT (tỷ đồng)  
2006  
2.495  
2007  
3.228  
2008  
4.511  
2009  
5.272  
2010  
6.384  
15,72  
39,09  
29,38  
38,62  
39,75  
41,43  
16,87  
38,64  
21,09  
37,44  
Tốc độ tăng (%)  
Tỷ lệ bồi thƣờng bq (%)  
(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
13  
- Bảo vệ hoạt động bảo hiểm gốc và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế thông qua hoạt động  
tái bảo hiểm  
Bảng 2.21: Tình hình nhƣợng TBH của thị trƣờng BHPNT (2006-2010)  
Năm  
2006  
2.491  
2007  
3.528  
2008  
4.220  
2009  
5.103  
2010  
6.314  
1. Tổng phí nhƣợng TBH (tỷ đ)  
1.1 Phí nhƣợng TBH ngoài nƣớc  
1.2 Phí nhƣợng TBH trong nƣớc  
2. Phí nhƣợng TBH /phí BH gốc  
(%)  
1.504  
987  
2.082  
1.446  
42,20  
2.603  
1.617  
38,76  
3.292  
1.811  
37,40  
4.128  
2.186  
37,03  
39,04  
23,57  
24,90  
23,91  
24,13  
24,20  
3. Tỷ lệ phí nhƣợng TBH ra ngoài  
nƣớc so với phí BH gốc (%)  
(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
Số liệu bảng 2.21 cho thấy, tổng phí nhượng TBH qua các năm là tăng dần, năm 2006 đạt  
2.491 tỷ đồng, đến năm 2010 con số này là 6.314 tỷ đồng. Trong đó phí bảo hiểm chủ yếu được  
nhượng tái ra nước ngoài. Năm 2010 phí nhượng tái ra nước ngoài là 4.128 tỷ đồng, chiếm 65,35%  
tổng phí nhượng tái, phí nhượng tái trong nước chỉ chiếm 34,65%. Tỷ lệ phí nhượng TBH ra nước  
ngoài của thị trường BHPNT trung bình trong 5 năm qua là 24,14%.  
Bảng 2.22 cho thấy tình hình nhận TBH của thị trường BHPNT. Năm 2010 phí nhận TBH là  
1.340 tỷ đồng, trong đó phần nhận từ trong nước là chủ yếu, 975 tỷ đồng chiếm 72,76%; phần nhận  
TBH từ nước ngoài là 365 tỷ đồng chiếm 27,24%.  
Bảng 2.22: Tình hình nhận TBH của thị trƣờng BHPNT (2006-2010)  
Đơn vị: tỷ đồng  
Năm  
2006  
557  
100  
457  
2007  
717  
147  
570  
2008  
787  
140  
647  
2009  
1.000  
179  
2010  
1.340  
365  
Tổng phí nhận TBH  
Phí nhận TBH ngoài nƣớc  
Phí nhận TBH trong nƣớc  
(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
821  
975  
- Giá trị tái đầu tư trở lại nền kinh tế  
Đầu tư tài chính là hoạt động không thể thiếu đối với các DNBH. Với nguồn vốn lớn từ vốn  
chủ sở hữu và các quỹ DPNVBH, các DNBH đang tham gia tích cực vào thị trường tài chính Việt  
Nam. Tổng giá trị đầu tư trở lại nền kinh tế của thị trường BHPNT năm 2007 là 11.125 tỷ đồng; đến  
năm 2010 là 23.000 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2007 (bảng 2.23). Phần lớn các DNBH đều đã  
thành lập Phòng đầu tư hoặc Ban đầu tư riêng biệt. Tính đến năm 2010, đã có Bảo Việt, Bảo Minh  
thành lập Công ty môi giới chứng khoán. Bên cạnh đó, Bảo Việt còn thành lập được ngân hàng, quỹ  
đầu tư, công ty đầu tư. Có thể nói thị trường BHPNT đã góp phần nhất định vào việc phát triển thị  
trường tài chính ở Việt Nam.  
Bảng 2.23: Giá trị đầu tƣ trở lại nền kinh tế của thị trƣờng BHPNT (2007-2010)  
Năm  
2007  
11.125  
-
2008  
15.179  
36,44  
2009  
17.585  
15,85  
2010  
23.000  
30,79  
Giá trị đầu tƣ (tỷ đồng)  
Tốc độ tăng (%)  
(Nguồn: Cục quản lý, giám sát bảo hiểm)  
14  
(4) Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm  
Sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm không thể tách rời với việc kinh doanh có  
hiệu quả của các DNBH. Xét về hiệu quả kinh doanh chung cho toàn bộ hoạt động kinh doanh (bao  
gồm cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động đầu tư và hoạt động khác), các DNBH đều có lãi.  
Tuy nhiên, nếu tính riêng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm  
2008 có đến 16 DNBH trong tổng số 25 doanh nghiệp hoạt động bị thua lỗ về nghiệp vụ bảo hiểm,  
tổng số lỗ nghiệp vụ bảo hiểm toàn thị trường là 163 tỷ đồng. Sang năm 2009, con số cũng không  
sáng sủa hơn với 10 doanh nghiệp có lãi, với số lãi của từng DNBH từ 1 tỷ đến 52 tỷ đồng, nhưng  
tổng thị trường lỗ nghiệp vụ bảo hiểm tới trên 200 tỷ đồng. Hậu quả là các doanh nghiệp BHPNT  
phải lấy lãi từ đầu tư tài chính bằng vốn chủ sở hữu, trong đó có thặng dư vốn phát hành cổ phiếu, và  
dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm để bù đắp. Từ đó cổ tức chia cho cổ đông thấp, kém hấp dẫn trên thị  
trường chứng khoán.  
Với tỷ lệ bồi thường chung của toàn thị trường trong 5 năm qua là 39,04% (so với Thái lan là  
50%), việc kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp không hiệu quả là một vấn đề lớn đặt ra cho  
thị trường BHPNT nước ta.  
2.2.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển của thị trường BHPNT  
a. Kết quả đạt được  
(1) Thị trường phát triển đáng kể, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển và ổn định nền  
kinh tế  
Thị trường BHPNT trong thời gian qua luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao so với tốc độ tăng  
GDP. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường giai đoạn 2006–2010 tăng bình quân 25%/năm. Khá  
cao so với các nước trong khu vực, như Thái lan là 10%.  
Thị trường BHPNT có đóng góp đáng kể trong việc khắc phục những thiệt hại do rủi ro gây  
ra cho các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Tổng số tiền bồi thường tăng liên tục qua các năm, năm  
2010 tổng số tiền bồi thường đạt 6.384 tỷ đồng. Bên cạnh đó, thị trường BHPNT tạo lập được nguồn  
vốn lớn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội với giá trị đầu tư trở lại cho nền kinh tế năm 2010 là  
23.000 tỷ đồng. Số lượng lao động trong ngành bảo hiểm trước năm 1999 chỉ có 30.000 người, đến  
năm 2009 đã lên tới 182.319 người và năm 2010 là trên 200.000 người (bao gồm cả BHNT và  
BHPNT).  
(2) Cấu trúc thị trường ngày càng được hoàn chỉnh hơn  
Năng lực “cung” của thị trường BHPNT từng bước tăng lên đáp ứng yêu cầu phát triển của  
thị trường. Trước năm 1993, thị trường chỉ có duy nhất Bảo Việt, thì đến hết năm 2010 trên thị  
trường đã có 28 DNBH gốc, 01 doanh nghiệp tái bảo hiểm và 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.  
Nội dung và lĩnh vực hoạt động của các DNBH được mở rộng; số lượng sản phẩm bảo hiểm gia tăng  
và chất lượng dịch vụ được dần cải thiện. Năng lực tài chính của thị trường tăng nhanh.  
Việc thành lập Cục quản lý, giám sát bảo hiểm Việt Nam cho thấy công tác quản lý nhà nước  
đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm được chú trọng, nhằm đảm bảo cho thị trường bảo hiểm Việt  
Nam phát triển theo đúng mục tiêu và định hướng của nhà nước đặt ra.  
Kể từ khi ra đời đến nay, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào  
việc phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam.  
(3) Thị trường bước đầu đã hội nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và quốc tế  
Việt Nam tích cực tham gia Diễn đàn các cơ quan quản lý bảo hiểm ASEAN. Mục tiêu của  
15  
Diễn đàn là điều phối hội nhập về lĩnh vực bảo hiểm, hài hòa môi trường pháp lý, thống nhất các chỉ  
tiêu tài chính để giám sát, kiểm tra các doanh nghiệp bảo hiểm trong khu vực ASEAN, thành lập Hội  
đồng cơ quan quốc gia về bảo hiểm xe quá cảnh giữa các nước ASEAN và Học viện bảo hiểm  
ASEAN, thúc đẩy trao đổi dịch vụ bảo hiểm, tái bảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong  
khối ASEAN.  
Thị trường bắt đầu thực hiện mở cửa sâu rộng hơn theo các cam kết hội nhập về tự do hóa  
thương mại và dịch vụ tài chính, các cam kết về lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm theo lộ trình trong các  
phương án đàm phán thương mại Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EU) và Hiệp định thương mại  
Việt Nam – Hoa Kỳ, cam kết WTO.  
(4) Môi trường pháp luật và quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm đã từng bước được  
cải tiến để đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường  
Hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta đã dần được hoàn  
thiện trong thời gian qua theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế. Sau 10 năm được ban hành, tháng  
10/2010 Luật Kinh doanh bảo hiểm đã được sửa đổi bổ sung với nhiều thay đổi quan trọng, tạo cơ sở  
pháp lý phát triển thị trường bảo hiểm trong thời gian tới.  
Bên cạnh hoàn thiện các quy định pháp luật, phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động  
kinh doanh bảo hiểm cũng được đổi mới, quản lý giám sát theo đúng quy định của pháp luật, theo  
hướng bảo vệ quyền tự chủ của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của khách hàng bảo hiểm và phù hợp  
với các chuẩn mực quốc tế.  
b. Những tồn tại  
(1) Quy mô thị trường còn nhỏ bé, chưa khai thác hết tiềm năng  
Tuy luôn đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm qua, song quy mô của thị trường  
bảo hiểm Việt Nam còn nhỏ. Tỷ lệ đóng góp của thị trường BHPNT vào GDP năm 2010 mới chỉ là  
1,05%; bằng một nửa so với mục tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt  
Nam giai đoạn 2003-2010; thấp hơn hầu hết các nước lân cận và trong khu vực như Trung Quốc  
1,5%, Thái Lan 2,0%, Malaysia 2,1%, Đài Loan 3,2%, Singapore 3,7%, Hồng Kông 5%.  
Nhìn chung, các DNBH trên thị trường mới chỉ kinh doanh theo kiểu “hớt váng” chứ chưa đi vào  
chiều sâu. Hầu hết các nghiệp vụ bảo hiểm còn bỏ ngỏ những bộ phận thị trường rất lớn (Bảng 2.26)  
Bảng 2.26: Tỷ trọng khai thác một số sản phẩm bảo hiểm so với tiềm năng năm 2010  
Loại sản phẩm bảo hiểm  
Tai nạn con người  
Tai nạn học sinh  
Tai nạn hành khách  
Vật chất thân xe  
Tỷ trọng khai thác so với tiềm năng  
12% số lao động làm việc trong các ngành kinh tế  
46% tổng số học sinh  
42% số lượng hành khách  
40% xe ô tô các loại  
TNDS bắt buộc chủ xe  
Xây lắp  
33% xe ô tô, mô tô, xe máy  
7% vốn đầu tư từ nguồn trong nước và 91%  
vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài  
41% tổng giá trị đầu tư cho ngành dầu khí  
>5% kim ngạch xuất khẩu  
Dầu khí  
Hàng xuất khẩu  
Hàng nhập khẩu  
Nông nghiệp  
>30% kim ngạch nhập khẩu  
0,1% giá trị sản lượng cây trồng, vật nuôi  
(Nguồn: Ban bảo hiểm phi nhân thọ, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)  
16  
(2) Thị trường đang tiềm ẩn những yếu tố rủi ro mất ổn định  
Thị trường BHPNT Việt Nam phát triển với tốc độ cao trong những năm qua nhưng cũng  
đang tiềm ẩn rủi ro mất ổn định thông qua số lượng các DNBH đang bị thua lỗ kinh doanh bảo hiểm.  
Theo Hiệp hội bảo hiểm Việt nam, bình quân trên thị trường có đến 80%-85% số lượng chi nhánh  
của mỗi doanh nghiệp BHPNT có kết quả kinh doanh là con số âm. Trên các diễn dàn, câu nói về thị  
trường bảo hiểm Việt nam "càng làm càng lỗ" đã trở thành quen thuộc. Xét trong thời gian ngắn việc  
lỗ này là có thể chấp nhận được, nhưng nếu tình trạng này kéo dài thì sự đổ vỡ của thị trường là điều  
có thể xảy ra và kéo theo những hậu quả khôn lường: DNBH mất khả năng chi trả, người mua bảo  
hiểm không được đền bù hoặc đền bù không đầy đủ, sản xuất kinh doanh, đời sống người dân không  
được ổn định kịp thời sau rủi ro...  
(3) Thị trường phát triển chưa cân đối và đồng bộ  
Thị trường BHPNT nước ta trong thời gian qua tăng trưởng nhanh nhưng phát triển chưa cân  
đối và đồng bộ, từ đó làm hạn chế vai trò của thị trường đối với sự phát triển chung của nền kinh tế  
nước nhà. Sự phát triển không cân đối và đồng bộ đó được thể hiện ở cả chiều rộng và chiều sâu:  
- Thị trường phát triển mới chỉ tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn. Đại bộ phận người dân ở  
khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa không có điều kiện được tiếp cận với các loại hình bảo hiểm.  
- Sản phẩm bảo hiểm tuy có nhiều nhưng khá giống nhau và vẫn còn thiếu trong một số lĩnh  
vực, khu vực của thị trường. Nhiều sản phẩm nhu cầu thị trường là lớn nhưng chưa đáp ứng được,  
nhất là các sản phẩm bảo hiểm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, phát triển nông  
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp như bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính,  
bảo hiểm nghề nghiệp y dược, luật sư…  
- Trên thị trường hiện nay có 30 DNBH, con số chưa phải là nhiều so với các nước trong khu  
vực (ví dụ Thái lan là 71 công ty bảo hiểm gốc và 2 công ty tái bảo hiểm), nhưng tình trạng DNBH  
chuyên ngành cạnh tranh không lành mạnh đang ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của thị  
trường.  
- Thị trường vẫn chưa có sự tham gia của các tổ chức bảo hiểm tương hỗ mặc dù đã có cơ sở  
pháp lý cho việc thành lập loại hình tổ chức bảo hiểm này. Trong khi đó, với đặc thù phương thức  
sản xuất và đặc thù văn hóa xã hội, hoạt động sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Việt Nam hoàn toàn  
phù hợp cho bảo hiểm tương hỗ hình thành và phát triển.  
- Thị trường bảo hiểm Việt Nam tuy mở cửa nhưng, điều này mới diễn ra theo một chiều từ  
bên ngoài vào. Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chỉ tập trung khai thác thị trường trong nước,  
chưa có kế hoạch thâm nhập thị trường nước ngoài, đặc biệt là trong khu vực ASEAN.  
- Mặc dù đã có 10 doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động trên thị trường BHPNT, song  
hoạt động của các doanh nghiệp này chủ yếu mới dừng lại ở việc thu xếp bảo hiểm, đặc biệt là các  
DNMGBH trong nước. Khối lượng dịch vụ khai thác qua môi giới bảo hiểm cũng còn chiếm tỷ trọng  
nhỏ.  
(4) Thị trường phát triển chưa mang tính chuyên nghiệp  
Thị trường BHPNT thời gian qua mới chỉ được chú trọng phát triển về mặt số lượng mà chưa  
được quan tâm đầy đủ về mặt chất lượng. Các DNBH chủ yếu cạnh tranh bằng cách hạ phí, mở rộng  
điều khoản thái quá, sử dụng sức ép hành chính để ép mua bảo hiểm và trả hoa hồng quá cao. Trong  
khi đó các biện pháp để nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm thông qua hoàn thiện các khâu khai  
thác, giám định bồi thường chưa được chú trọng đúng mức.  
17  
c. Nguyên nhân của những tồn tại  
Nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên là do:  
(1) Áp lực tăng trưởng nóng đối với một thị trường còn non trẻ  
Thị trường bảo hiểm nước ta trong thời gian vừa qua đã có sự tăng trưởng cả về số lượng  
DNBH, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, lực lượng đại lý bảo hiểm, số lượng sản phẩm, doanh thu  
phí bảo hiểm…rất lớn. Gia tăng quy mô hoạt động của thị trường bảo hiểm đòi hỏi sự phát triển  
tương ứng các nguồn lực nội tại và từ bên ngoài. Tuy nhiên, các nguồn lực đó (bao gồm nhân lực, tài  
chính, trình độ tổ chức, ứng dụng công nghệ thông tin, marketing) nguồn nhân lại hạn chế, không  
được chú ý ưu tiên hoặc vượt quá tầm giải quyết của một doanh nghiệp.  
(2) Nhận thức của người dân về bảo hiểm còn hạn chế trong khi các DNBH chưa chú trọng  
đến công tác thông tin truyên truyền  
Sản phẩm bảo hiểm vốn trừu tượng và phức tạp, kiến thức về bảo hiểm không phải là loại  
kiến thức có thể phổ cập trong dân chúng. Trong khi đó, tình trạng quan liêu trì trệ của các nhà bảo  
hiểm Việt Nam ít nhiều vẫn còn rơi rớt, công tác thông tin tuyên truyền không được chú trọng, cộng  
với sự non kém về trình độ, ý thức nghề nghiệp của nhiều đại lý, cán bộ bảo hiểm khiến không ít  
người có ấn tượng không phải là tốt về việc mua bảo hiểm.  
(3) Vai trò của Hiệp hội bảo hiểm chưa được phát huy đầy đủ  
Trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh là cần thiết. Điều đáng lo ngại là tình hình cạnh  
tranh không lành mạnh giữa các DNBH dưới nhiều mánh lới, thủ đoạn vẫn gia tăng như hạ phí bảo  
hiểm, tăng chi hoa hồng bảo hiểm, đôi khi còn dùng các áp lực hành chính để giành dịch vụ. Trong  
trường hợp này vai trò của Hiệp hội bảo hiểm chưa được phát huy đầy đủ. Đó là những thỏa thuận  
hợp tác chống cạnh tranh không lành mạnh chưa được bàn bạc ký kết giữa các doanh nghiệp thông  
qua Hiệp hội, hoặc ký kết được nhưng trong thực tế lại không được thực hiện.  
(4) Thị trường dịch vụ tài chính chưa đủ thuận lợi cho hoạt động đầu tư  
Môi trường đầu tư tài chính tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và nhiều rủi ro, nhất là trong thời  
gian vừa qua khi mà thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản phát triển quá nóng và biến  
động khôn lường… đã ảnh hưởng xấu tới hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm.  
(5) Khung khổ pháp lý chưa hoàn thiện; năng lực quản lý, giám sát của nhà nước còn hạn  
chế  
Hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm còn thiếu và chưa hoàn thiện.  
Quy định quản lý, giám sát thị trường còn nhiều bất cập. Năng lực quản lý, giám sát của cơ quan  
quản lý còn hạn chế, chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề nảy sinh, do đó còn bị động khi hướng cho  
thị trường BHPNT hoạt động ổn định và lành mạnh; kiểm tra, giám sát còn nặng nề về hành chính.  
(6) Nhiều cơ chế chính sách của nhà nước chưa hỗ trợ tích cực hoạt động kinh doanh của  
các DNBH  
Là một lĩnh vực kinh doanh đặc thù, hoạt động bảo hiểm mang tính xã hội và nhân văn lớn  
lao, nhưng các DNBH chưa có được những cơ chế hỗ trợ thích đáng như: các thủ tục về thuế nhà  
thầu phức tạp, sản phẩm bảo hiểm phải nộp thuế VAT như các sản phẩm hàng hoá khác (có nước  
không thu thuế VAT đối với dịch vụ bảo hiểm vì dịch vụ bảo hiểm không làm ra giá trị gia tăng),...  
Chế độ kế toán doanh nghiệp bảo hiểm được ban hành từ năm 1996, đến nay vẫn chưa được sửa đổi  
bổ sung triệt để để phù hợp với chế độ tài chính hiện hành.  
18  
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM  
PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM  
3.1 ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM  
GIAI ĐOẠN 2011-2020  
3.1.1 Những thuận lợi và khó khăn  
3.1.1.1 Thuận lợi  
Về kinh tế: Trong 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-  
2010, Việt Nam đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là  
những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt  
được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển,  
bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Nhiều mục tiêu chủ yếu của Chiến  
lược 2001-2010 đã được thực hiện, đạt bước phát triển mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản  
xuất. Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm. Đây là những điều kiện tiền  
đề hết sức quan trọng đối với sự phát triển của thị trường BHPNT ở tất cả các loại hình bảo  
hiểm: tài sản, TNDS, con người.  
Về văn hóa-xã hội: Trên cơ sở xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia  
đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực  
sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật; dự kiến đến năm 2020, chỉ số phát triển con người  
(HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ  
bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sĩ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn  
dân; lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao động xã hội; tỉ lệ hộ nghèo  
giảm bình quân 1,5- 2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được  
bảo đảm. Thực tế này sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của thị trường BHPNT nước ta.  
Về kinh tế quốc tế: Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nước nhà  
sẽ giúp các DNBH trong nước sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với các đối tác là tổ chức kinh doanh bảo  
hiểm nước ngoài có uy tín, có kinh nghiệm, có tiềm lực tài chính mạnh để hợp tác chuyển giao công  
nghệ, tăng cường năng lực tài chính, chuyển nhượng tái bảo hiểm và phát triển hoạt động kinh doanh  
3.1.1.2 Khó khăn  
Về kinh tế: Sự phát triển chưa đồng bộ, chưa có sự gắn kết giữa các mảng thị trường tài chính  
Việt Nam cũng sẽ có những tác động tiêu cực tới sự phát triển của thị trường BHPNT. Một khi chính  
sách lãi suất còn chưa ổn định; chính sách phát hành trái phiếu chính phủ (TPCP) còn bất cập; tổ  
chức niêm yết và giao dịch chứng khoán trên thị trường upcom chưa hiệu quả, thị trường TPCP chưa  
chuyên biệt hóa;... sẽ ảnh hưởng hoạt động đầu tư của các DNBH, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động  
kinh doanh bảo hiểm, đến kết quả và hiệu quả kinh doanh chung của DNBH.  
Về văn hóa xã hội: Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có một số mặt yếu kém chậm được khắc  
phục, nhất là về giáo dục, đào tạo và y tế; đạo đức, lối sống trong một bộ phận xã hội xuống cấp. Môi  
trường ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm nặng; tài nguyên, đất đai chưa được quản lý tốt, khai thác và sử  
dụng kém hiệu quả, chính sách đất đai có mặt chưa phù hợp. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng  
nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn cản trở sự phát triển. Nền tảng để Việt  
Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm  
19  
ẩn những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia. Những điều này sẽ  
tiềm ẩn những nguy cơ đe dọa tới sự ổn định và hiệu quả kinh doanh của các DNBH.  
Về kinh tế quốc tế: Việc thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường bảo hiểm nói  
chung, thị trường BHPNT nói riêng sẽ tạo áp lực cạnh tranh ngày càng tăng đối với các DNBH trong  
nước. Năng lực hoạt động của các DNBH trong nước còn nhiều hạn chế, khả năng tài chính chưa  
thực sự vững mạnh, công nghệ quản trị điều hành còn lạc hậu, trình độ đội ngũ cán bộ bảo hiểm chưa  
cao và thiếu kinh nghiệm thực tiễn,... là các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các DNBH này.  
3.1.2 Mục tiêu phát triển thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2011-2020  
Theo dự thảo Chiến lược, mục tiêu phát triển thị trường bảo hiểm nói chung, thị trường  
BHPNT nói riêng trong giai đoạn tới dự kiến đặt ra như sau:  
Mục tiêu chung:  
Chiến lược phát triển TTBH Việt Nam giai đoạn 2011-2020 cần đạt được các mục tiêu cơ bản sau:  
- Thị trường bảo hiểm tiếp tục phát triển toàn diện, bền vững, đóng góp quan trọng vào sự ổn  
định và tăng trưởng kinh tế đất nước; phát huy mạnh mẽ vai trò là tấm lá chắn an toàn của nền kinh  
tế-xã hội trước các nguy cơ rủi ro và là kênh huy động vốn hữu hiệu cho đầu tư phát triển.  
- Thị trường bảo hiểm phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn và định hướng phát triển  
kinh tế-xã hội của đất nước, đồng bộ với sự phát triển của các thị trường dịch vụ tài chính khác; tiếp  
cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, từng bước hội nhập với thị trường bảo hiểm trong khu  
vực và trên thế giới.  
- Nhà nước tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và thực hiện quản lý thị  
trường bảo hiểm bằng pháp luật, phát huy vai trò của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam nhằm tạo nền  
tảng và động lực cho các DNBH, DNMGBH phát triển.  
Mục tiêu cụ thể:  
- Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm, nâng cao tỷ trọng dịch vụ bảo hiểm  
trên GDP:  
Nâng tỷ trọng đóng góp của ngành bảo hiểm trong GDP lên khoảng 3% năm 2015 và 4%  
năm 2020. Theo như cơ cấu hiện nay, BHPNT sẽ đóng góp khoảng một nửa (1,5% vào năm 2015 và  
2% vào năm 2020)  
Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm đạt 18-20% trong giai đoạn  
2011-2020, trong đó: tăng trưởng bảo hiểm phi nhân thọ bình quân đạt 29-30%; tăng trưởng bảo  
hiểm nhân thọ bình quân đạt 16-18%; tăng trưởng môi giới bảo hiểm bình quân đạt 20-25%, tỷ trọng  
phí bảo hiểm (phi nhân thọ) được thu xếp qua môi giới chiếm 20%.  
- Ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội  
Đáp ứng yêu cầu bồi thường và trả tiền bảo hiểm nhanh chóng và đầy đủ, bảo đảm ổn định tài  
chính cho nền kinh tế và cuộc sống dân cư trước các rủi ro. Phấn đấu nâng tổng nguồn vốn đầu tư trở  
lại nền kinh tế đạt 150.000 tỷ đồng vào năm 2015 (tăng khoảng 2 lần so với năm 2010) và đạt  
300.000 tỷ đồng vào năm 2020 (tăng khoảng 3,5 lần so với năm 2010). Theo như cơ cấu trong những  
năm qua, thị trường BHPNT sẽ đóng góp khoảng gần 50%, còn lại là của thị trường BHNT.  
- Tạo thêm công ăn việc làm và tăng thu cho ngân sách nhà nước  
Tiếp tục mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm một cách sâu rộng, qua đó góp phần tạo  
thêm việc làm cho xã hội. Theo số liệu mà luận án có được từ Tổng thư ký Hiệp hội bảo hiểm Việt  
Nam, một số chỉ tiêu dự báo về thị trường BHPNT, trong đó có dự báo về nguồn nhân lực bảo hiểm  
20  
Việt Nam đến năm 2020 đạt tới hàng triệu người.  
Những con số dự báo trên, mặc dù còn đang trong dự thảo và là những số liệu, dữ liệu  
tham khảo của luận án, nhưng cũng cho thấy rằng những kỳ vọng vào sự phát triển của thị  
trường BHPNT Việt Nam trong thời gian tới từ những nhà quản lý nhà nước là rất lớn.  
3.2 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM  
3.2.1 Phát triển thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam phù hợp với các mục tiêu phát  
triển kinh tế chung của đất nƣớc  
Thị trường BHPNT là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Vì vậy sự phát triển của thị  
trường BHPNT phải đảm bảo theo các mục tiêu phát triển chung của đất nước là tất yếu khách quan.  
Điều đó được cụ thể hóa qua các nội dung sau:  
- Cần thiết có những quy định phù hợp để bảo vệ người tham gia bảo hiểm, thị trường trong  
nước, các DNBH trong nước cũng như nền kinh tế nước nhà như: quy định về đầu tư vốn ra nước  
ngoài, chuyển tài sản ra nước ngoài, lĩnh vực hoạt động của DNBH có vốn đầu tư nước ngoài...  
- Sự phát triển của thị trường BHPNT phải gắn với những mục tiêu kinh tế xã hội chung của  
đất nước. như: mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn, hoạt động xuất khẩu.  
- Ngoài ra để bảo vệ thị trường trong nước trước sự cạnh tranh của thị trường nước ngoài, các  
quy định về hàng rào kỹ thuật cần được nghiên cứu và áp dụng, đảm bảo lợi ích quốc gia và phát  
triển an toàn cho thị trường trong nước.  
3.2.2 Phát triển thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam ổn định và bền vững  
Sự tăng trưởng "nóng" đã trở thành tất yếu trong thời kỳ đầu thị trường hình thành không chỉ  
đối với riêng thị trường BHPNT mà là của nhiều thị trường khác ở nước ta như thị trường chứng  
khoán, thị trường bất động sản, thị trường tín dụng. Tuy nhiên, trải qua 17 năm hình thành và phát  
triển kể từ khi Nghị định 100/CP của Chính phỉ được ban hành vào cuối năm 1993, đã đến lúc thị  
trường bảo hiểm Việt Nam nói chung, đã đến lúc thị trường BHPNT bước vào thời kỳ phát triển ổn  
định và hiệu quả. Điều đó được thể hiện qua các nội dung sau:  
- Thị trường tiếp tục tăng trưởng, mở rộng ra các mảng thị trường còn đang bỏ ngỏ: thị  
trường nông thôn, vùng sâu, vùng xa; phát triển các sản phẩm bảo hiểm mới ...  
- Sự phát triển của thị trường phải gắn liền với tính hiệu quả kinh doanh của DNBH.  
3.2.3 Phát triển thị trƣờng bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam theo hƣớng chuyên nghiệp  
Phát triển thị trường BHPNT nước ta theo hướng chuyên nghiệp là một nội dung đóng góp  
quan trọng vào sự phát triển bền vững, lâu dài cho thị trường. Chính vì vậy, luận án đặc biệt nhấn  
mạnh nội dung này và tách thành một quan điểm định hướng riêng.  
Tính chuyên nghiệp của thị trường trước hết được thể hiện ở hoạt động của tất cả các chủ thể  
liên quan trên thị trường: hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động của DNBH, các trung gian bảo  
hiểm, và của khách hàng, hoạt động của Hiệp hội bảo hiểm. Đồng thời tính chuyên nghiệp của thị  
trường phải đảm bảo theo hướng công khai, minh bạch và tuân thủ theo các chuẩn mực quốc tế.  
3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ VIỆT NAM  
3.3.1 Hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm  
3.3.1.1 Ban hành đầy đủ các văn bản dưới luật bao gồm nghị định, thông tư hướng dẫn Luật kinh  
doanh bảo hiểm sửa đổi 2010  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang yennguyen 17560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_giai_phap_phat_trien_thi_truong_bao_hiem_phi.pdf