Luận văn Hành động hỏi và hồi đáp trong tiểu thuyết "Mảnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc Trường

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VŨ ĐỨC DUY  
HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP TRONG  
TIỂU THUYẾT‘MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA’  
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG  
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC  
HÀ NỘI, 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
VŨ ĐỨC DUY  
HÀNH ĐỘNG HỎI VÀ HỒI ĐÁP TRONG  
TIỂU THUYẾT‘MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA’  
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG  
Ngành: Ngôn ngữ học  
Mã số: 8.22.90.20  
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
PGS.TS HÀ QUANG NĂNG  
HÀ NỘI, 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá  
nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hà Quang Năng  
Các số liệu sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được liệt kê  
trong các tài liệu tham khảo, không sao chép của người khác. Các kết luận  
nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận đến thực tiễn của vấn  
đề mà luận văn cần giải quyết.  
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.  
Học viên  
VŨ ĐỨC DUY  
MỤC LỤC  
PHỤ LỤC....................................................................................................... 80  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Từ xa xưa, nghiên cứu ngôn ngữ văn chương truyền thống mới chỉ dựa trên  
ngữ pháp và ngữ nghĩa, tức là đi sâu vào bình diện kết học, nghĩa học của câu chữ  
trong văn bản văn học mà bỏ qua mặt dụng học khi đi vào nghiên cứu các tác phẩm  
văn học. Đây là hướng đi của ngôn ngữ học cổ điển (ngôn ngữ học tiền ngữ  
dụng). Hạn chế của các phương pháp nghiên cứu truyền thống này là mới chỉ  
thấy được mô hình mã mà chưa thấy được mô hình suy ý, tách rời ngôn ngữ  
nhân vật khỏi ngữ cảnh rộng và hẹp nên không thấy được nhiều hơn những nghĩa  
nằm trên câu chữ trực tiếp. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta đã bỏ qua một  
mảng lớn nội dung tác phẩm, bao gồm các hành động ngôn ngữ (trực tiếp/gián  
tiếp), nghĩa hàm ẩn, hợp phần ngữ cảnh… là những nhân tố quan trọng kiến tạo  
nên cuộc giao tiếp hoàn chỉnh giữa các nhân vật trong tác phẩm và giữa nhà văn  
với bạn đọc. Nói một cách đơn giản, trong ngôn ngữ của nhân vật văn học và nhà  
văn khi tạo nên tác phẩm văn học còn rất nhiều điều nằm ngoài câu chữ mà ngôn  
ngữ học truyền thống đã bỏ qua hoặc chưa phát hiện ra. Những nội dung ngoài câu  
chữ này đóng vai trò không nhỏ giúp người đọc hiểu sâu hơn nội dung tác phẩm  
cũng như những điều nhà văn gửi gắm.  
Nghiên cứu ngôn ngữ văn học ngày nay áp dụng những thành tựu của ngữ  
dụng học để phát hiện thêm nhiều góc khuất đằng sau câu chữ. Chúng ta coi tác  
phẩm văn học là một diễn ngôn, tức là sản phẩm giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc.  
Trong đó bao gồm nhiều hành động ngôn ngữ giữa các nhân vật, thông qua nhiều  
cuộc thoại, đoạn thoại khác nhau. Bởi vậy, cần thiết phải dùng lí thuyết hội thoại  
trong ngữ dụng học nghiên cứu các cuộc thoại, đoạn thoại đó để thấy được vị thế,  
tính cách, dấu ấn thời đại, xã hội cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà  
văn và tư tưởng anh ta gửi gắm vào chúng. Một trong những lí thuyết quan trọng  
cần sử dụng khi nghiên cứu ngôn ngữ nhân vật văn học là “hành động hỏi và hồi  
đáp”. Bởi lẽ, nhờ sự tác động của ngữ cảnh và thông qua những chuyển hóa khác  
nhau mà hành động hỏi ngoài việc dùng để hỏi còn có thể thực hiện các hành động  
nói khác như: hứa hẹn, giãi bày, trách móc... và người trả lời (hồi đáp) có rất nhiều  
1
 
cách hồi đáp khác nhau. Việc nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp thực sự là cần  
thiết và được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm.  
Nguyễn Khắc Trường sinh năm 1946 là một nhà văn chuyên viết về thể  
loại tiểu thuyết và truyện ngắn, trong đó tác phẩm được xem là tiêu biểu nhất của  
ông đó là tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma. Đây là một cuốn tiểu  
thuyết tâm lý xã hội ra đời năm 1990 được coi là một trong những tác phẩm xuất  
sắc nhất của Nguyễn Khắc Trường viết về nông thôn Việt Nam. Với sự xuất hiện  
của các dòng họ trong tác phẩm: họ Trịnh, họ Vũ và trên 10 nhân vật khác đã tạo  
nên một bức tranh phong phú, đa dạng, mới mẻ của xã hội nông thôn những năm  
đầu thế kỉ XX, các cuộc thoại, đoạn thoại diễn ra giữa các nhân vật trong truyện  
với sự xuất hiện hàng loạt các hành động hỏi. Tuy nhiên, những hành động hỏi  
có khi để thực hiện mục đích hỏi nhưng có khi để thực hiện mục đích khác mà  
tác giả đã xây dựng để có những ẩn ý sâu xa, thể hiện tính cách từng nhân vật  
trong tiểu thuyết.  
Để thấy được phần nào bức tranh nông thôn Việt Nam trong những năm đầu  
thế kỉ XX, chúng tôi lựa chọn đề tài “Hành động hỏi và hồi đáp trong tiểu thuyết  
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường” tìm hiểu hành động hỏi  
và hồi đáp với hiệu lực ở lời khác nhau trong tác phẩm để từ đó thấy được mối quan  
hệ giữa những người giao tiếp trong cuộc thoại, tính cách của từng nhân vật, tài năng  
của tác giả trong việc xây dựng tính cách ấy. Bởi lẽ đối với tác phẩm văn học, hành  
động hỏi và hồi đáp là một trong những hành động phổ biến góp phần làm nên thành  
công của tác phẩm nói chung và về mặt ngôn ngữ được lựa chọn để sử dụng trong tác  
phẩm nói riêng.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
2.1. Những nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp  
Ngữ dụng học là một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới, đó là nghiên cứu  
việc sử dụng ngôn ngữ trong tình huống giao tiếp. Trong giao tiếp, câu nghi vấn là  
một trong bốn kiểu câu phân loại theo mục đích nói. Kiểu câu này được sử dụng  
khá phổ biến trong tiếng Việt. Ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây, vấn đề  
hành vi ngôn ngữ nói chung và hành động hỏi, hồi đáp hỏi nói riêng đã thu hút được  
2
sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học như: Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu,  
Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp …  
Khi nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp phải kể đến các công trình khoa  
học của một số tác giả như: Nguyễn Thị Thìn (1994), Câu nghi vấn tiếng Việt, một  
số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Hà Nội.  
Luận án đã đưa ra phương pháp miêu tả một số kiểu câu nghi vấn không dùng để  
hỏi; Nguyễn Thị Lương (1996), Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu  
thị các hành vi ngôn ngữ, Luận án PTS khoa học Ngữ văn, Hà Nội. Tác giả đã dựa  
vào bốn điều kiện thỏa mãn các hành vi ở lời của Searle (điều kiện mệnh đề, điều  
kiện chuẩn bị, điều kiện chân thành, điều kiện căn bản) để chỉ ra cơ sở xác định các  
hành vi gián tiếp có liên quan đến hành vi hỏi do tiểu từ tình thái dứt câu biểu thị;  
Đặng Thị Hảo Tâm (2003), Cơ sở lí giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ  
gián tiếp trong hội thoại, Luận án Tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội, đã chú trọng  
đến việc tìm ra cơ sở giải nghĩa hàm ẩn của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong  
hội thoại; Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa – Ngữ dụng câu hỏi chính danh, Luận án  
PTS khoa học Ngữ văn, Hà Nội; Lê Thị Thu Hoài (2013), Ngữ nghĩa - ngữ dụng  
câu hỏi tu từ tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Đại học KHXH&NV, Đại  
học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Việt Tiến (2002), Hỏi và câu hỏi theo quan điểm  
dụng học, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Bên cạnh đó, có một số công trình khoa học đi sâu vào nghiên cứu hành  
động hỏi trong các tác phẩm văn học như: Trần Thị Quế Quyên (2014), Hành động  
hỏi trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội;  
Nguyễn Thị Toan (2013), Hành động hỏi trong truyện ngắn của Nguyễn Công  
Hoan, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hải Phòng; Ngô Thùy Dương (2013), Hành động  
hỏi của nhân vật nữ trong một số tiểu thuyết của nhà văn Ma Văn Kháng, Luận văn  
Thạc sĩ, Đại học Hải Phòng, các luận văn này đã nghiên cứu hành động hỏi trong  
các tác phẩm văn học cụ thể để thấy được đặc điểm và chức năng ngữ dụng của  
hành động hỏi trong cách xây dựng truyện của tác giả, đồng thời khám phá thêm  
một nét mới trong phong cách xây dựng tính cách nhân vật của nhà văn dưới góc độ  
ngôn ngữ. Nếu như các tác giả nêu trên chỉ đi vào nghiên cứu hành động hỏi trong  
3
một số tác phẩm truyện ngắn thì tác giả Nguyễn Thị Dịu (2012) với đề tài Hành  
động hỏi và hồi đáp hỏi trong tác phẩm của nhà văn Nguyên Ngọc, Luận văn Thạc  
sĩ, Đại học Hải Phòng và tác giả Nguyễn Thị Hằng (2013) với đề tài Hành vi hỏi và  
hồi đáp hỏi trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hải  
Phòng lại nghiên cứu cả hành động hỏi và hồi đáp, làm rõ hơn đặc điểm các cuộc  
thoại hỏi - hồi đáp hỏi, chỉ ra những đặc điểm cơ bản trong việc xây dựng tính cách  
nhân vật và làm rõ được đặc điểm ngữ cảnh trong từng tác phẩm cụ thể.  
Tác giả Hà Thị Hồng Mai (2012) với đề tài Hành động hỏi trong ca dao của  
người Việt, Luận án Tiến sĩ, Đại học Vinh, lại không đi vào tìm hiểu hành động hỏi  
trong các tác phẩm văn xuôi mà đi vào tìm hiểu hành động hỏi trong ca dao của  
người Việt, đây là một góc mới trong việc tìm hiểu, nghiên cứu nét độc đáo của văn  
học dân gian nói chung và ca dao nói riêng. Đề tài đã làm rõ được các đặc điểm của  
hành động hỏi trong ca dao trên các phương diện: hình thức, nội dung, văn hóa ứng  
xử, trong đó nổi bật là phép lịch sự.  
Bên cạnh đó cũng có một số bài viết liên quan đến đề tài này như: Lê Đông  
(1985), Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ (số phụ); Nguyễn  
Chí Hoà (1993), Thử tìm hiểu phát ngôn hỏi và phát ngôn trả lời trong sự tương tác  
lẫn nhau giữa chúng trên bình diện giao tiếp, Tạp chí Ngôn ngữ, (số 1); Lê Đông  
(1994), Vai trò của thông tin tiền giả định trong cấu trúc ngữ nghĩa – ngữ dụng của  
câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ, (số 2); Nguyễn Đăng Sửu (1998), Một vài đặc điểm  
chung của câu nghi vấn (qua ngôn liệu một số ngôn ngữ), Kỉ yếu hội thảo Ngữ học  
trẻ; Nguyễn Thị Tuyết Mai (2001), Một số tiểu từ tình thái đứng cuối câu dùng để  
hỏi, Những vấn đề ngôn ngữ học, Kỉ yếu hội nghị khoa học, Viện Ngôn ngữ học.  
2.2. Những nghiên cứu về tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn  
Khắc Trường  
Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường là một tiểu  
thuyết mới, ra đời vào những năm đầu thế kỉ XX nhưng từ khi ra đời đến nay tác  
phẩm lại chiếm được vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại và để  
lại nhiều dấu ấn trong lòng bạn đọc. Chính vì lẽ đó, tác phẩm trở thành đối tượng  
nghiên cứu của rất nhiều công trình khoa học như:  
4
Tác giả Vũ Thị Thanh (2015), Văn hóa nông thôn trong tiểu thuyết Mảnh đất  
lắm người nhiều ma, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ và Văn hóa, Đại học Sư phạm 2.  
Ở đề tài này, tác giả đã đi sâu vào khám phá những nét văn hóa tiêu biểu, độc đáo  
và đặc sắc của vùng nông thôn Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX qua đó thấy  
được tài năng tìm tòi, sáng tạo của nhà văn Nguyễn Khắc Trường.  
Tác giả Trần Thị Thanh Xuân (2008), Nông thôn Việt Nam trong các tiểu  
thuyết từ năm 1986 đến năm 2000, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thành phố  
Hồ Chí Minh, đã đi vào nghiên cứu các tác phẩm của các tác giả như: Ma Văn  
Kháng, Lê Lựu, Khuất Quang Thụy, Chu Lai, Nguyễn Quang Thiều, Hồ Anh Thái,  
Hoàng Minh Tường, Nguyễn Khắc Trường,… và trong đó Mảnh đất lắm người  
nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường được phân tích, đi sâu, làm rõ để thấy  
được bức tranh nông thôn Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX.  
Tác giả Đỗ Thị Phương Thủy (2013), Quan niệm nghệ thuật về con người  
trong văn xuôi sau năm 1975 của Nguyễn Khắc Trường, Luận văn Thạc sĩ, Đại học  
Đà Nẵng, cũng cho chúng ta một cái nhìn mới về tác giả Nguyễn Khắc Trường  
trong việc đi vào từng khía cạnh, từng phương diện để đánh giá về con người trong  
một số tác phẩm văn xuôi của ông, nổi bật là tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều  
ma.  
Tác giả Dương Đức Thảo (2012) với đề tài Trường từ vựng - ngữ nghĩa và  
việc phân tích tác phẩm văn học (qua tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”  
của Nguyễn Khắc Trường), Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Hải Phòng, cho  
chúng ta thấy được sự độc đáo qua việc sử dụng ngôn từ, cụ thể ở đây là trường từ  
vựng - ngữ nghĩa trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, đây cũng là một  
đề tài có hướng mới khi đi vào tìm hiểu những nét độc đáo trong tác phẩm này.  
Điều đặc biệt, tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn  
Khắc Trường còn được chuyển thể thành phim Đất và người - một bộ phim tâm lý  
xã hội do Nguyễn Hữu Phần và Phạm Thanh Phong đạo diễn, ra mắt năm 2002  
được đông đảo người xem đón nhận và ghi lại những dấu ấn đặc biệt, đi cùng năm  
tháng.  
5
Như vậy, tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn  
Khắc Trường đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu nhưng chưa có  
một công trình nào dành riêng cho việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ  
thống về đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa  
những thành tựu của các tác giả đi trước, luận văn đi sâu nghiên cứu về đặc điểm  
hành động hỏi và hồi đáp trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác  
giả Nguyễn Khắc Trường.  
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
3.1. Mục đích nghiên cứu  
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là thông qua khảo sát hành động hỏi  
và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc  
Trường góp phần tìm hiểu tác phẩm dưới cái nhìn của ngôn ngữ học về vấn đề giao  
tiếp trong cuộc sống của người nông dân nói chung và giao tiếp ngôn ngữ trong tác  
phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma nói riêng. Từ đó, góp thêm một cái nhìn mới  
trong việc khẳng định vị trí vai trò của nhà văn Nguyễn Khắc Trường đối với nền  
văn học Việt Nam.  
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài giải quyết các nhiệm vụ sau:  
1/ Tổng quan được tình hình nghiên cứu.  
2/ Hệ thống hóa một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài.  
3/ Khảo sát đặc điểm hành động hỏi và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm  
người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.  
4/ Chỉ ra những đặc điểm đặc sắc qua hành động hỏi và hồi đáp trong tác  
phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tập trung khảo sát, nghiên cứu  
hành động hỏi và hồi đáp qua lời thoại của nhân vật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm  
người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường qua cuốn Tiểu thuyết Mảnh đất  
lắm người nhiều ma, NXB Văn hóa thông tin, 2012.  
6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng một số phương pháp chủ yếu:  
- Phương pháp thống kê, khảo sát: Phương pháp này được dùng trong việc  
thống kê, khảo sát tư liệu là các cuộc thoại có chứa hành động hỏi và hồi đáp trong  
tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.  
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phương pháp này dùng để xem xét,  
nghiên cứu các cuộc thoại được sử dụng, phân tích các ví dụ để làm rõ các khái  
niệm.  
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở những cứ liệu đã được phân  
tích, chúng tôi xem xét tìm ra đặc điểm nổi bật của hành động hỏi và hồi đáp trong  
tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn  
Đề tài đi sâu nghiên cứu hành động hỏi và hồi đáp trong lời thoại của nhân  
vật trong tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường  
– một hiện tượng văn học hiện đại dưới cái nhìn của lí thuyết ngữ dụng học kết hợp  
với một số kiến thức lí luận có tính chất liên ngành. Kết quả nghiên cứu của luận  
văn góp phần làm sáng rõ thêm lí thuyết hành động ngôn ngữ trong tác phẩm văn  
học thông qua một hành động ngôn ngữ cụ thể. Qua đó, chúng tôi mong muốn góp  
một cái nhìn mới trong việc khẳng định vị trí vai trò của nhà văn Nguyễn Khắc  
Trường đối với nền văn học Việt Nam đương đại. Bên cạnh đó, đây có thể là tài liệu  
tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy chuyên đề ngôn ngữ văn học đương  
đại Việt Nam trong các trường trung học, cao đẳng và đại học.  
7. Kết cấu của luận văn  
Luận văn ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,  
nội dung của luận văn gồm 3 chương:  
Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài  
Chương 2: Hành động hỏi trực tiếp và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm  
người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường  
Chương 3: Hành động hỏi gián tiếp và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm  
người nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường  
7
Chương 1  
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI  
1.1. Lý thuyết hội thoại  
1.1.1 Khái niệm hội thoại  
Hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến nhất, được nhiều ngành học quan  
tâm từ lâu, có nhiều quan niệm khác nhau về hội thoại. Dưới đây là quan niệm của  
một số tác giả:  
Đỗ Hữu Châu: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của  
ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Hội thoại  
là khái niệm dành cho mọi hình thức hội thoại khác nhau” [12, tr. 201].  
Nguyễn Thiện Giáp: “Hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ. Giao  
tiếp hội thoại luôn luôn có sự hài hòa giữa người nói và người nghe, chẳng những  
người nói và người nghe tác động lẫn nhau mà lời nói của từng người cũng tác  
động lẫn nhau” [19, tr. 63].  
Theo Hồ Lê thì “Hội thoại là hành vi thể hiện ngôn giao hai chiều, cụ thể và  
xác định, làm chuyển hóa vị thế của người thụ ngôn thành vị thế của người phát  
ngôn và ngược lại, đồng thời tạo ra sự liên kết hành vi phát ngôn với hành vi thụ  
ngôn tạo thành một thể thống nhất” [13, tr.13].  
Để tiện cho việc nghiên cứu, chúng tôi sử dụng khái niệm của Đỗ Hữu Châu.  
Ông đã đưa ra khái niệm “hội thoại” một cách bao quát rộng hơn, có thể áp dụng  
cho nhiều loại hình ngôn ngữ. Theo Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ  
học – Tập hai Ngữ dụng học, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 201, hội thoại có một  
số đặc điểm sau:  
Thứ nhất, đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian) ở đó diễn ra  
cuộc hội thoại. Thoại trường hội thoại có thể là công cộng hay riêng tư. Thoại  
trường không phải chỉ có nghĩa không gian – thời gian tuyệt đối mà gắn với khả  
năng can thiệp của những người thứ ba đối với cuộc hội thoại đang diễn ra.  
Thứ hai, ở số lượng người tham gia. Số lượng nhân vật hội thoại – còn gọi là  
đối tác hội thoại hay đối tác – thay đổi từ hai đến một số lượng lớn. Có những cuộc  
hội thoại tay đôi, tay ba (trilogeue) tay tư hoặc nhiều hơn nữa (đa thoại –  
8
     
polylogue). Những cuộc hội thoại như một cuộc hội nghị, một giờ học, một cuộc  
mít tinh… thì số lượng nhân vật không thể cố định được.  
Thứ ba, cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại. Sự thực,  
tiêu chí số lượng có quan hệ với tiêu chí cương vị và tư cách người tham gia. Cương  
vị và tư cách của người hội thoại rất khác nhau tùy theo các cuộc hội thoại, tựu  
trung có thể kể ra như sau: a) Tính chủ động hay thụ động của các đối tác. Trong  
hội thoại có vai nói và vai nghe. Cuộc hội thoại chủ động là hội thoại trong đó cả  
hai vai đều có quyền chủ động tham dự vào cuộc hội thoại như nhau theo nguyên  
tắc anh nói tôi nghe, tôi nói anh nghe; tôi và anh luôn phiên nhau nói và nghe.  
Cuộc hội thoại thụ động là cuộc hội thoại trong đó chỉ một người giữ cương vị  
vai nói, còn người kia (những người kia) chỉ nghe, không tham gia được vào hội  
thoại hoặc có tham gia vào thì cũng rất hạn chế, thường là chỉ để bày tỏ kết quả  
tiếp nhận của mình hoặc để yêu cầu người nói giải thích hoặc bổ sung thêm một  
thông tin nào đó cho nội dung diễn ngôn của người này. b) Sự có mặt hay vắng  
mặt của vai nghe trong hội thoại. Ví dụ: phát thanh, truyền hình… là những hình  
thức hội thoại mà người nghe vắng mặt. Trò chuyện tay đôi, tay ba, những cuộc  
hội nghị, mít tinh…v.v là những cuộc hội thoại trong đó người nghe có mặt. Hội  
thoại qua điện thoại có dạng đặc biệt: những người nói chuyện bằng điện thoại (trừ  
điện thoại tối tân có truyền hình) tuy không nhìn thấy nhau nhưng vẫn có mặt trong  
cuộc hội thoại…  
Thứ tư là các cuộc hội thoại khác nhau ở tính có đích hay không có đích.  
Những cuộc hội thoại như thương thuyết ngoại giao, hội thảo khoa học có đích  
được xác định trước rõ ràng. Những cuộc tán gẫu được xem là không có đích.  
Thứ năm, các cuộc hội thoại có thể khác nhau về tính có hình thức hay  
không có hình thức. Những cuộc thương nghị, hội thảo… là những cuộc hội thảo  
mà hình thức tổ chức khá chặt chẽ, trang trọng đến mức thành nghi lễ còn những  
chuyện trò đời thường không cần một hình thức nào cả.  
Cuối cùng là vấn đề ngữ vực. Do tính có hình thức hay không có hình thức  
mà các cuộc hội thoại có thể diễn ra ở một trong ba ngữ vực đã biết.  
9
1.1.2. Cấu trúc hội thoại  
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu (2009) trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, Tập  
hai, Nxb Giáo Dục, tr. 290, cho đến thời điểm hiện nay, trên thế giới tồn tại ba  
trường phái có quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại. Thứ nhất là trường phái  
phân tích hội thoại ở Mĩ (Conversation analysis) – Trường phái này cho rằng hội  
thoại có hai tổ chức cơ bản là lượt lời và cặp thoại. Thứ hai là trường phái phân tích  
diễn ngôn (discourse analysis) – Trường phái này dựa trên mô hình cấu trúc bậc  
(rank) chia hội thoại thành năm bậc như sau: I. Tương tác (Interaction); II. Đoạn  
thoại (Transaction); III. Cặp thoại (exchange); IV. Bước thoại (move); V. Hành  
động (act). Trong cấu trúc tầng bậc này, hành động (act) là đơn vị nhỏ nhất của  
cuộc thoại tức cuộc tương tác. Các hành động tạo nên bước thoại, các bước thoại tạo  
nên cặp thoại và đơn vị lớn nhất, bao trùm là cuộc thoại. Trong đó, ba đơn vị cuộc  
thoại, đoạn thoại, cặp thoại có tính chất lưỡng thoại (dialogal) có nghĩa là hình  
thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại. Hai đơn vị có tính chất đơn  
thoại, có nghĩa là do một người nói ra là tham thoại và hành động ngôn ngữ. Thứ ba  
là trường phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp – Trường phái này đã phân  
định các đơn vị cấu trúc hội thoại thành các đơn vị cơ bản: cuộc thoại, đoạn thoại,  
cặp trao đáp, hành động ngôn ngữ và tham thoại.  
Để tiện cho việc nghiên cứu, đề tài không đi sâu tìm hiểu các đơn vị cấu trúc  
của các trường phái khác mà chỉ xin trình bày một số đơn vị hội thoại theo trường  
phái lý thuyết hội thoại nhằm làm cơ sở lý thuyết cho đề tài. Ở phần này, đề tài đã  
sử dụng toàn bộ quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu (2010) trong cuốn Đại cương  
Ngôn ngữ học (Tập hai – Ngữ dụng học), NXB Giáo dục Việt Nam, về cuộc thoại,  
đoạn thoại, cặp thoại và tham thoại.  
1.1.2.1. Cuộc thoại  
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất. Có thể nói toàn bộ hoạt  
động ngôn ngữ của con người là một chuỗi dằng dặc những lời đối đáp. Để xác định  
một cuộc thoại, dựa vào các tiêu chí sau:  
Nhân vật hội thoại: theo tiêu chí này, một cuộc thoại được xác định bởi sự  
gặp mặt và sự chia tay của hai người hội thoại, nói chung một cuộc thoại được xác  
10  
định bởi sự đương diện liên tục của những người hội thoại. Khi số lượng hay tính  
chất của người hội thoại thay đổi thì chúng ta có cuộc thoại mới.  
Tính thống nhất về thời gian và địa điểm: Thời gian có thể ban ngày, ban  
đêm, chiều tối, hôm qua. Không gian có thể là một góc sân, một cuộc họp ở hội  
trường hay cuộc nói chuyện ở nhà riêng... Tiêu chí này chỉ có tính chất tương đối  
bởi vì trong quá trình hội thoại thời gian và không gian có thể thay đổi.  
Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: Đề tài là cái phạm vi hiện thực mà  
người nói đề cập đến. Chủ đề là cái chủ đích mà người nói, người nghe cùng đề cập  
đến trong toàn bộ cuộc thoại. Một cuộc thoại có độ dài ngắn khác nhau song đòi hỏi  
phải có sự thống nhất về đề tài – tức các nhân vật tham gia cuộc thoại phải cùng  
hướng đến một vấn đề, một cái đích chung. Theo Grice một cuộc thoại phải theo  
một hướng nhất định từ đầu cho đến khi kết thúc. Tuy nhiên, trên thực tế lại tồn tại  
rất nhiều cuộc thoại mà đề tài liên tục được thay đổi (điển hình là các cuộc tán gẫu).  
Do tính chất không chặt chẽ của các tiêu chí trên, C. K. Orecchioni đã đưa ra một  
định nghĩa mềm dẻo hơn về cuộc thoại: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện  
cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong  
một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về  
một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng”.  
1.1.2.2. Đoạn thoại  
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ  
với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng. Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề, về  
ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích. Tiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại là sự thực  
hiện một quan hệ lập luận trong đoạn thoại đó. Cấu trúc tổng quát của một cuộc  
thoại có thể là: Đoạn thoại mở thoại, thân cuộc thoại và đoạn thoại kết thúc. Trong  
đó: Đoạn thoại mở thoại: Mang tính chất “đưa đẩy”, có chức năng mở ra cuộc thoại  
và nêu đề tài diễn ngôn; Đoạn thân thoại: Là đoạn thoại phản ánh nội dung chính  
của cuôc thoại; Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại có chức năng tổng kết, kết luận về  
chủ đề hội thoại. Để kết thúc chúng ta có thể đưa ra những lời hứa hẹn, cảm ơn,  
chúc mừng, xin lỗi, từ biệt ...  
11  
1.1.2.3. Cặp thoại (Cặp trao đáp)  
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, với chúng, cuộc trao đổi, tức cuộc  
hội thoại chính thức được tiến hành. Vì cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của  
cuộc thoại do các tham thoại tạo nên, có thể căn cứ vào số lượng các tham thoại để  
phân loại các cặp thoại:  
Cặp thoại một tham thoại: thực tế, về nguyên tắc, cặp thoại ít nhất phải có hai  
tham thoại của hai nhân vật, tuy nhiên khi chúng ta nói đến các cặp thoại một tham  
thoại là nhắc đến những trường hợp tham thoại Sp1 không được Sp2 hưởng ứng hồi  
đáp bằng một hành vi tương ứng. Ví dụ như: Sp1: Hôm nay em đẹp quá!/ Sp2:…  
Chúng ta gọi những trường hợp này là cặp thoại hẫng. Tuy nhiên, không phải cặp  
thoại hẫng chỉ xảy ra khi một trong hai nhân vật hội thoại tỏ ra không thích thú với  
tham thoại của người kia. Có những trường hợp như: Sp1: Chào em! Em là học sinh  
mới vào lớp?/ Sp2: Vâng! Tham thoại Chào em! Không có tham thoại hồi đáp tương  
ứng của Sp2. Sp2 chỉ hồi đáp tham thoại hỏi của Sp1. Đây cũng là một dạng của tham  
thoại hẫng.  
Cặp thoại hai tham thoại: Cặp thoại này còn được gọi là cặp thoại đôi. Trong  
đó tham thoại thứ nhất được gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai là tham  
thoại hồi đáp. Ví dụ: Sp1: Đi đâu đấy?/Sp2: Đi học.  
Cặp ba tham thoại: Cặp thoại này còn được gọi là cặp thoại ba. Về nguyên  
tắc cặp thoại đủ hai tham thoại đã hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong thực tế những tham  
thoại như vậy thường tỏ ra “cụt lủn”, “ông chẳng bà chuộc”… nên ta thường gặp  
các cặp thoại ba như: Sp1: Đi đâu đấy?/Sp2: Đi nhận phần thưởng đây./Sp1: Xin  
chúc mừng.  
Bên cạnh đó, căn cứ vào tính chất của những tham thoại hồi đáp, có thể chia cặp  
thoại thành những cặp thoại tích cực và cặp thoại tiêu cực. Thông thường một cặp thoại  
ít khi kéo dài đến 5, 6 tham thoại. Tuy nhiên, sự có mặt các tham thoại tiêu cực làm cho  
cấu trúc và chức năng của các cặp thoại trở nên phức tạp, khó miêu tả.  
1.1.2.4. Tham thoại  
Theo Đỗ Hữu Châu, tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại  
vào một cặp thoại nhất định. Một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại mà cũng có  
thể nhỏ hơn tham thoại (một tham thoại gồm nhiều lượt lời). Ví dụ:  
12  
(1) – Sp1: Chào!  
(2) – Sp2: Chào!  
(3) – Sp1: Thế nào? Bình thường chứ?  
(4) – Sp2: Bình thường. Cám ơn. Còn cậu thế nào?  
(5) – Sp1: Cám ơn, mình cũng bình thường. Đi đâu mà hớt hơ hớt hải thế?  
(6) – Sp2: Mình đi tìm Thắng. Cậu ấy sắp đi Nha Trang.  
(1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng; (3) và (4) là  
một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi. (4) là một lượt  
lời gồm 3 tham thoại, một tham thoại đáp, một tham thoại cám ơn, một tham thoại  
hỏi. Mỗi cặp thoại như trên do hai tham thoại tạo thành.  
Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo  
nên. Theo trường phái Geneve, một tham thoại có một hành vi chủ hướng (CH), và  
có thể có một hoặc một số hành vi phụ thuộc (PT) [12, tr. 317]. Cấu trúc của tham  
thoại có thể là:  
CH  
PT  
CH  
CH  
CH  
CH  
PT  
PT  
PT  
PT  
Hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và  
quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại. Hành vi phụ thuộc có nhiều  
chức năng khác nhau. Ví dụ:  
- Sp1: Xin lỗi! Anh có biết đồng chí Thuận ở đâu không ạ? Anh Thuận dạy  
khoa Toán ấy mà.  
CH là hành vi hỏi và Sp2 khi nghe tham thoại này chắc chắn sẽ đáp lại bằng  
câu trả lời biết hay không biết chỗ ở của Thuận. Tuy nhiên cũng có những trường  
hợp tham thoại chỉ có PT nhưng người đối thoại lại hồi đáp theo CH ẩn. Ví dụ: Sp1:  
Tắc đường ở Cầu Giấy đến hơn một tiếng. / Sp2: Không sao. Cuộc họp vẫn chưa  
bắt đầu đâu.  
13  
CH của tham thoại của Sp1 là hành vi xin lỗi vì đến trễ nhưng gián tiếp. Bởi  
vậy, Sp2 hồi đáp cho chính CH đó, không hồi đáp cho hành vi PT. Đây là vấn đề  
của các hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại.  
1.1.3. Vấn đề lịch sự và quan hệ liên cá nhân trong hội thoại  
1.1.3.1. Vấn đề lịch sự  
Lịch sự là những chiến lược nhằm duy trì hay thay đổi quan hệ liên cá  
nhân. Nó có chức năng gìn giữ sự cân bằng xã hội và quan hệ bè bạn, những quan  
hệ này khiến chúng ta có thể tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết  
là cộng tác với chúng ta. Phép lịch sự liên quan tới tất cả các phương diện của diễn  
ngôn: bị chi phối bởi các quy tắc (ở đây không có nghĩa là những công thức hoàn  
toàn đã trở thành thói quen), xuất hiện trong địa hạt quan hệ liên cá nhân, chúng  
có chức năng gìn giữ tính chất hài hòa quan hệ đó (ở mức thấp nhất là giải tỏa  
những xung đột tiềm tàng, tốt hơn nữa là làm cho người này trở thành càng dễ  
chịu đối với người kia thì càng tốt [12, tr. 256].  
Khi hội thoại, các đối tác đều mong muốn giữ được thể diện cho cả mình và  
người nghe. Vì vậy, khi thực hiện một hành động ở lời nào có khả năng làm mất thể  
diện của đối tác thì người nói tìm cách làm dịu tác động đe dọa thể diện của nó bằng  
những hành động cứu vãn thể diện hay giữ thể diện. Chẳng hạn, khi chê một người  
nào đó tức là xúc phạm thể diện dương tính của người đó, người ta thường sử dụng  
đến những yếu tố làm giảm sự xúc phạm thể diện như rào đón, nói giảm nói tránh,  
dùng hành động gián tiếp (hỏi, tường thuật, cầu khiến).  
Tuy nhiên, ranh giới giữa các hành động đe dọa thể diện và các hành động  
giữ thể diện nhiều khi không phải dễ phân biệt. Có khi một hành động tôn vinh thể  
diện lại trở thành một hành động đe dọa thể diện. Cho nên, để đảm bảo được phép  
lịch sự khi giao tiếp phải thực hiện chiến lược lịch sự qua những phép lịch sự dương  
tính và lịch sự âm tính.  
Phép lịch sự là tập hợp những phương tiện mà người nói vận dụng để điều  
phối các thể diện giao tiếp. Phải tôn trọng lãnh địa của người nói nhưng cũng phải  
làm sao cho lãnh địa của mình không bị xúc phạm. Bởi vậy, phép lịch sự là rất cần  
thiết và là chuẩn mực mà người nói luôn hướng tới. Lịch sự gắn với văn hóa của  
14  
từng dân tộc nên việc nghiên cứu sự thể diện của phép lịch sự trong ngôn ngữ chính  
là đi vào những đặc trưng văn hóa của từng dân tộc.  
1.1.3.2. Quan hệ liên cá nhân  
Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự  
phát, nhận trong giao tiếp. Còn quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong  
tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau. Quan hệ  
liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai trục, trục tung là vị thế  
xã hội còn gọi là trục quyền uy, trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách còn  
được gọi là trục thân cận.  
Trục hoành (trục khoảng cách, trục thân cận): Thể hiện khoảng cách tình  
cảm gần gũi thân tình hay xa lạ giữa những người hội thoại với nhau, nó có thể  
điều chỉnh được. Những quan hệ trên trục này gọi là quan hệ ngang. Có những  
dấu hiệu phi lời, kèm lời và bằng lời để đánh dấu mức độ quan hệ này giữa  
những người hội thoại.  
Trục tung (trục quyền uy, trục vị thế): Thể hiện vị thế xã hội giữa những  
người tham gia giao tiếp với nhau. Những quan hệ trên trục này gọi tắt là quan hệ  
dọc. Những quan hệ chính về vị thế cũng biểu hiện qua các dấu hiệu phi lời, kèm lời  
và những dấu hiệu ngôn ngữ. Các dấu hiệu ngôn ngữ bao gồm: các nghi thức xưng  
hô, tổ chức các lượt lời, tổ chức cấu trúc của tương tác hội thoại, các hành động  
ngôn ngữ. Sự không bình đẳng về vị thế, trước hết là những vấn đề của ngữ cảnh:  
tuổi tác, giới tính, địa vị, vai trò trong hội thoại, sự làm chủ ngôn ngữ...  
Vị thế xã hội và mức độ thân cận có ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung,  
hình thức và cả quá trình giao tiếp. Vị thế xã hội không đồng nhất với vị thế giao  
tiếp (vai trò, vị thế của nhân vật tham gia hội thoại).  
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình  
thức diễn ngôn, do đó, xưng hô chịu áp lực rất mạnh từ quan hệ này. Qua việc sử  
dụng từ xưng hô mà vai nghe biết được vai nói xác định quan hệ vị thế và quan hệ  
xã hội với mình như thế nào. Các từ xưng hô trong tiếng Việt chịu áp lực rất mạnh  
của quan hệ liên cá nhân. Qua các từ xưng hô, người nghe có thể nhận biết được  
người nói đã xác định quan hệ dọc hay quan hệ ngang trong giao tiếp như thế nào  
15  
để hồi đáp cho phù hợp. Từ xưng hô cũng phần nào phản ánh đặc điểm tính cách,  
văn hóa giao tiếp của nhân vật. Vì vậy, khi nghiên cứu về hành động hỏi và hồi đáp  
trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường vấn đề  
xưng hô không thể không nói đến. Vấn đề này được xem xét qua cuộc thoại trực  
tiếp, gián tiếp và cặp thoại hẫng trong chương 2 và chương 3 của luận văn.  
1.2. Lý thuyết hành động ngôn ngữ  
Để khái quát những vấn đề cơ bản nhất về lý thuyết hành động ngôn ngữ,  
chúng tôi đã tổng hợp trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2, Nxb Giáo dục  
của tác giả Đỗ Hữu Châu, từ trang 111 đến trang 145 làm căn cứ nghiên cứu. Cụ thể  
các lý thuyết được khái quát như sau:  
1.2.1. Khái niệm hành động ngôn ngữ  
Theo J.Austin, trong cùng một hành động ngôn ngữ có hành động ở lời, hành  
động tạo lời và hành động mượn lời. Nhờ đưa ra tiêu chí phân biệt này, J.Austin đã  
điều chỉnh một cách sâu sắc mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói.  
Lý thuyết hành động ngôn ngữ do J.Austin đề xướng vào những năm 60 của  
thế kỉ XX, về sau được các nhà ngôn ngữ kế tục thành công trong đó, tiêu biểu là  
J.Searle. Tác giả này đã chỉ ra hạn chế trong lý thuyết của J.Austin là chưa phân biệt  
được sự khác nhau giữa hành động ngôn ngữ và động từ biểu hiện ngôn ngữ.  
J.Searle đã đưa ra những tiêu chí cơ bản làm nền tảng cho sự phân biệt các hành vi  
ở lời và trên cơ sở đó, ông đã nêu ra tới mười hai phương diện mà các hành động có  
thể khác nhau. Trong các tiêu chí đó, ông chọn ba tiêu chí cơ bản để phân loại các  
hành động tại lời: Đích của hành động ngôn trung; Hướng của sự ăn khớp giữa lời –  
hiện thực; Trạng thái tâm lí được biểu hiện.  
Xu hướng nghiên cứu hiện nay là chấp nhận lý thuyết và cách phân loại của  
J.Searle nhiều hơn cả. Hành động ngôn ngữ là một phạm trù phổ quát mang tính  
nhân loại và hành động hỏi cụ thể cũng mang tính phổ quát. Đề tài của chúng tôi  
chọn cách quan niệm về hành động ngôn ngữ của J.Searle làm cơ sở tiền đề để đi  
vào tìm hiểu các hành động hỏi và hồi đáp trong tác phẩm Mảnh đất lắm người  
nhiều ma của tác giả Nguyễn Khắc Trường.  
16  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 106 trang yennguyen 23060 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Hành động hỏi và hồi đáp trong tiểu thuyết "Mảnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc Trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_hanh_dong_hoi_va_hoi_dap_trong_tieu_thuyet_manh_dat.pdf