Luận văn Nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2011

Trang 1  
TÓM TẮT  
Đề tài nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp  
Việt Nam giai đoạn 2006-2011, dựa trên việc phân tích dữ liệu tài chính của 250  
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu thu thập cho thấy  
các doanh nghiệp Việt Nam có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ ngắn hạn hơn nợ  
dài hạn trong cấu trúc nợ của mình.  
Kết quả phân tích thực nghiệm tìm thấy mối tương quan ngược chiều của tỷ  
suất sinh lợi và tính thanh khoản đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp; tốc độ tăng  
trưởng tương quan cùng chiều với cấu trúc vốn. Trong khi đó, tài sản hữu hình và  
qui mô doanh nghiệp lại có tác động hỗn hợp đến cấu trúc vốn: đề tài nhận thấy hai  
nhân tố này có tác động cùng chiều với nợ dài hạn và ngược chiều với nợ ngắn hạn.  
Nhân tố thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp có tương quan dương đối với nợ dài  
hạn, không có ý nghĩa thống kê với tổng nợ và nợ ngắn hạn. Ngoài ra, đề tài không  
tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa giữa hai biến rủi ro kinh doanh và đặc điểm của  
sản phẩm đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.  
Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số ý kiến để hoàn thiện cấu  
trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam bao gồm: cẩn trọng trong vấn đề lựa chọn  
nguồn tài trợ. Trong tình hình kinh tế biến động phức tạp như hiện nay, việc tận  
dụng tối đa các nguồn lực sẵn có là hợp lý để duy trì hoạt động lâu dài. Các doanh  
nghiệp cần xem xét cẩn trọng và bao quát toàn bộ tình hình hiện tại của chính  
doanh nghiệp mình để có thể đưa ra quyết định tài trợ chính xác.  
Do hạn chế về khả năng thu thập số liệu tác giả không thể đưa hết tất cả các  
nhân tố vào mô hình để khảo sát sự tác động của chúng đến cấu trúc vốn. Các biến  
xem xét vẫn chủ yếu là các biến số thuộc nội tại của doanh nghiệp mà chưa xem xét  
đến các biến số môi trường bên ngoài doanh nghiệp. Đây cũng là vấn đề cần nghiên  
cứu sâu thêm ở các nghiên cứu tiếp theo  
Trang 2  
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU  
“Các công ty lựa chọn cấu trúc vốn của mình như thế nào? … Chúng ta  
không biết được” (Stewart Myers, 1984: “How do firms choose their capital  
structure? ... We don‘t know”)  
Việc tìm hiểu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn doanh nghiệp là một  
trong những chủ đề quan trọng nhất trong lĩnh vực tài chính. Một số lý thuyết cấu  
trúc vốn đã được giới thiệu trong hơn 60 năm qua từ khi lý thuyết đột phá của  
Modigliani và Miller (1958) ra đời nhằm tìm lời giải đáp cho các vấn đề như: mối  
quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp, công ty lựa chọn cấu trúc vốn  
bằng cách nào và các công ty sẽ vay bao nhiêu so với phát hành cổ phần để mức  
đánh đổi giữa lợi ích từ vay nợ cao hơn chi phí trả lãi vay. Ba lý thuyết cấu trúc vốn  
đã được phát triển từ sau nghiên cứu của Modigliani và Miller (1958): giá trị của  
doanh nghiệp độc lập với các quyết định tài chính dựa trên một số giả định. Ba lý  
thuyết vốn đó là: lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết trật tự  
phân hạng. Các lý thuyết này là cơ sở để nhiều nghiên cứu thực nghiệm ra đời.  
Nghiên cứu thực nghiệm hiện có về vấn đề này được thực hiện phần lớn giới  
hạn ở Mỹ và một số các nước phát triển khác. Những vấn đề của sự lựa chọn cơ cấu  
vốn ở các nước đang phát triển đã có tuy nhiên, ít được chú ý.  
Giai đoạn 2006-2011 chứng kiến nhiều sự biến động của nền kinh tế Việt  
Nam khi mà tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ít nhiều gây ảnh  
hưởng tiêu cực đến hầu hết các công ty đang hoạt động: hàng loạt công ty giải thể  
hoặc hoạt động cầm chừng; doanh nghiệp khó tiếp cận vốn do các chính sách tín  
dụng thắt chặt, giá vốn cao …. Vấn đề tăng cường khả năng tiếp cận vốn của các  
doanh nghiệp liên tục xuất hiện trên các báo cho thấy sự quan tâm và tầm quan  
trọng của lĩnh vực tài chính doanh nghiệp. Hơn lúc nào hết, trong những giai đoạn  
khó khăn việc tăng cường tính hiệu quả của hoạt động tài chính doanh nghiệp là đòi  
hỏi cấp thiết nhằm hỗ trợ tốt nhất có thể cho kết quả hoạt động kinh doanh của các  
công ty Việt Nam.  
Trang 3  
Với mục đích tìm hiểu tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn của doanh  
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đầy khó khăn chung của nền kinh tế nhằm cung  
cấp thêm cơ sở cho việc xây dựng một cấu trúc vốn tối ưu, ứng phó với thách thức  
của cuộc khủng hoảng tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu này.  
1.1. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của  
doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2011. Dựa trên kết quả của các nghiên cứu  
thực nghiệm đã thực hiện trên thế giới, tác giả nhận thấy có một số các nhân tố có  
tác động đến việc lựa chọn giữa vay nợ và sử dụng vốn cổ phần của một doanh  
nghiệp, từ đó tác giả thực hiện đề tài này nhằm tìm hiểu các nhân tố nào có tác động  
đến cấu trúc của doanh nghiệp Việt Nam và mức độ tác động như thế nào.  
1.2. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu: 250 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai sàn  
giao dịch chứng khoán của Việt Nam: Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí  
Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.  
Dữ liệu tài chính của các doanh nghiệp được thu thập từ báo cáo tài chính  
cung cấp cho các sở giao dịch chứng khoán trong sáu năm từ 2006-2011.  
1.3. Phạm vi và hạn chế của nghiên cứu  
Phạm vi nghiên cứu: do hạn chế trong việc thu thập số liệu tác giả chỉ nghiên  
cứu các doanh nghiệp được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành  
phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.  
Hạn chế nghiên cứu: với mục tiêu tìm hiểu các nhân tố tác động đến cấu trúc  
của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2011, tác giả chỉ lựa chọn các  
công ty có cung cấp đầy đủ báo cáo tài chính giai đoạn 2006-2011, so với  
hơn 800 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường tính đến tháng 11/2012 và  
622.977 doanh nghiệp trên cả nước tính đến cuối năm 2011 (theo “Báo cáo  
thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2011” do Phòng Công nghiệp và  
Thương mại Việt Nam và Ngân hàng Thế giới tổ chức ngày 14/3/2012) thì  
Trang 4  
qui mô nghiên cứu còn hạn chế do đó sẽ có thể có sai biệt giữa mẫu quan sát  
và tổng thể thị trường.  
1.4. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phân tích định lượng. Tác giả sử dụng  
mô hình dữ liệu bảng để tập hợp số liệu tài chính, ứng dụng mô hình hồi qui  
kinh tế lượng để khảo sát sự ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ đòn bẩy  
trong doanh nghiệp. Tác giả sử dụng các chương trình SPSS và Excel để hỗ  
trợ tính toán trong nghiên cứu.  
Trang 5  
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU  
TRƯỚC ĐÂY  
Dựa trên cơ sở của các lý thuyết, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến  
hành để xác định các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Hầu hết  
các đề tài thực nghiệm đều dựa trên danh sách các nhân tố được đưa ra trong hai  
nghiên cứu: Titman và Wessels năm 1988, Harris và Raviv năm 1991. Năm 1991,  
Harris/Raviv đề xuất một số nhân tố tác động như sau: tài sản cố định, tấm chắn  
thuế phi nợ, cơ hội đầu tư, qui mô doanh nghiệp, biến động doanh thu, rủi ro riêng  
của doanh nghiệp, lợi nhuận, chi phí quảng cáo, chi phí R&D, và đặc điểm riêng  
của sản phẩm. Trong khi đó, Timan/Wessels (1988) thì thấy rằng không có tác động  
của tấm chắn thuế phi nợ, rủi ro kinh doanh, giá trị tài sản đảm bảo hoặc cơ hội phát  
triển đến tỷ lệ vay nợ.  
Trong nghiên cứu của Rajan/Zingales (1995), hai ông nhận thấy rằng các  
nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của hầu hết các nước G-7 đều giống nhau: cơ hội  
tăng trưởng, tỷ suất sinh lợi, tài sản hữu hình và qui mô doanh nghiệp. Sau đó,  
Frank/Goyal (2007) sử dụng dữ liệu COMPUSTAT của các doanh nghiệp tại Mỹ  
giai đoạn 1950-2003, tác giả cung cấp một danh sách 25 nhân tố tổng hợp từ các  
nghiên cứu trước đó và tìm thấy có sáu biến chính có khả năng giải thích đến 27%  
biến động của tỷ lệ vay nợ, trong khi 19 biến còn lại chỉ giải thích được 2% độ biến  
thiên của tỷ lệ vay nợ. Sáu biến đó là: cơ hội tăng trưởng, tỷ suất sinh lợi, tài sản  
hữu hình, qui mô doanh nghiệp, hệ số trung bình ngành và lạm phát mục tiêu. Dựa  
trên các kết quả nghiên cứu, tác giả chọn lọc và trình bày các kết quả nghiên cứu  
thực nghiệm có liên quan đến mô hình nghiên cứu như sau:  
2.1. Tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp  
Với các lý thuyết về cấu trúc vốn, mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi của  
doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính rất khác nhau. Theo lý thuyết MM một doanh  
nghiệp có khả năng sinh lời cao nên đi vay nhiều hơn để tận dụng lợi ích của tấm  
chắn thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, lý thuyết trật tự phân hạng lại đề xuất  
Trang 6  
rằng các doanh nghiệp nên sử dụng lợi nhuận giữ lại để đầu tư, sau đó mới sử dụng  
nợ và phát hành cổ phiếu là lựa chọn sau cùng. Lý thuyết chi phí đại diện thì lại đưa  
ra các gợi ý mâu thuẫn về tỷ lệ nợ: nếu chi phí đại diện của vốn cổ phần hướng đến  
một tỷ lệ nợ thấp thì chi phí đại diện của nợ cho thấy một khuynh hướng vay nợ cao  
hơn.  
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều cho thấy rằng đòn bẩy tài chính có  
quan hệ nghịch biến với tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp như: nghiên cứu dữ liệu  
của các doanh nghiệp Mỹ, Timan/Wessels (1988) và Friend/Lang (1988); nghiên  
cứu các doanh nghiệp Mỹ và Nhật Bản của Kester (1986); nghiên cứu tại các quốc  
gia phát triển của Rajan/Zingales (1995), Wald (1999); tại các quốc gia đang phát  
triển của Wiwattankantang (1999), Booth và cộng sự (2001) và Huang/Song (2002).  
2.2. Tài sản hữu hình  
Về mối quan hệ giữa tài sản hữu hình và đòn bẩy tài chính, các lý thuyết đều  
chỉ ra rằng có tương quan dương. Jensen/Meckling (1976) cho thấy nếu công ty có  
nhiều tài sản hữu hình thì có thể sử dụng làm tài sản đảm bảo, giúp làm giảm rủi ro  
cho các chủ nợ phải đối diện với vấn đề chi phí kiệt quệ tài chính. Vì vậy, tỷ lệ tài  
sản hữu hình cao thường được kỳ vọng là tỷ lệ nợ cũng sẽ cao.  
Các nghiên cứu thực nghiệm đều cho kết quả thống nhất với lý thuyết bao  
gồm: Marsh (1995), Long/Malitz (1985), Friend/Lang (1988), Rajan/Zingales  
(1995) và Wald (1999)  
2.3. Thuế thu nhập doanh nghiệp  
Tác động của thuế đã được đề cập từ lý thuyết của MM (1958). Hầu hết các  
nhà nghiên cứu đều cho rằng thuế có tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.  
Một công ty có mức thuế suất biên cao sẽ sử dụng nhiều nợ vay hơn để tận dụng lợi  
ích của tấm chắn thuế.  
2.4. Qui mô doanh nghiệp  
Nhiều nghiên cứu thấy rằng qui mô doanh nghiệp có tương quan dương với  
đòn bẩy tài chính. Marsh (1982) thấy rằng doanh nghiệp có qui mô lớn thường chọn  
nợ dài hạn trong khi doanh nghiệp có qui mô nhỏ lựa chọn nợ ngắn hạn. Doanh  
Trang 7  
nghiệp lớn sử dụng lợi thế qui mô để phát hành nợ. TANGma/Jensen (1983) và  
Rajan/Zingales (1995) thì lại tranh luận rằng các các doanh nghiệp lớn sẽ cung cấp  
nhiều thông tin cho các chủ nợ hơn doanh nghiệp nhỏ, vì thế tình trạng bất cân xứng  
thông tin ở các doanh nghiệp lớn thấp hơn nên họ sẽ phát hành nhiều cổ phần hơn  
do đó đòn bẩy tài chính thấp hơn. Ngoài ra, các công ty lớn thường đầu tư đa dạng,  
dòng vốn lưu động ổn định, khả năng phá sản thấp hơn so với các công ty nhỏ.  
Trong khi đó, nhiều nghiên cứu lý thuyết khác như Harris/Raviv (1990), Stulz  
(1990), Noe (1988) lại tìm thấy biến động cùng chiều giữa tỷ lệ vay nợ và qui mô  
doanh nghiệp.  
Các nghiên cứu thực nghiệm, Marsh (1982), Rajan/Zingales (1995), Wald  
(1999), Booth và cộng sự (2001), Huang/Song (2002) tìm thấy sự tương quan  
dương giữa qui mô và đòn bẩy. Rajan/Zingales (1995), Wald (1999) thấy rằng các  
doanh nghiệp lớn hơn ở Đức có khuynh hướng vay nợ ít hơn.  
2.5. Cơ hội tăng trưởng  
Các nghiên cứu về mối tương quan giữa tốc độ/cơ hội tăng trưởng với đòn  
bẩy tài chính cho kết quả không đồng nhất. Theo lý thuyết đánh đổi doanh nghiệp  
có nhiều cơ hội phát triển (thường là các doanh nghiệp có tỷ trọng tài sản vô hình  
cao) thì sử dụng nợ thấp hơn do tài sản vô hình không thể được sử dụng để làm tài  
sản đảm bảo như tài sản hữu hình. Tương tự, theo lý thuyết chi phí đại diện cơ hội  
tăng trưởng cao gợi ý kết quả kinh doanh khả quan, chính vì thế các cổ đông sẽ  
không muốn chia sẻ ưu thế này với các chủ nợ, do đó cơ hội tăng trưởng có tương  
quan âm với đòn bẩy tài chính. Trong khi với lý thuyết trật tự phân hạng thì doanh  
nghiệp có cơ hội tăng trưởng cao sẽ có nhu cầu vốn nhiều hơn, khi lợi nhuận giữ lại  
không đủ, phát hành nợ sẽ là lựa chọn thích hợp, do đó cơ hội tăng trưởng và đòn  
bẩy tài chính có tương quan dương.  
Tương tự lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm cũng không đưa ra kết quả  
đồng nhất. Titman/Wessels (1988), Kim/Sorensen (1986), Rajan/Zingales (1995) và  
tìm thấy mối tương quan âm. Trong khi Kester (1985), Huang/Song (2002) lại cho  
thấy mối tương quan dương.  
Trang 8  
2.6. Rủi ro kinh doanh  
Rủi ro kinh doanh là đại diện của khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính, do đó  
nó được kỳ vọng là có tương quan âm với đòn bẩy tài chính. Hầu hết các nghiên  
cứu thực nghiệm thống nhất với lập luận này. Nghiên cứu của Bradley và các cộng  
sự (1984), Titman/Wessels (1988), Frank/Goyal (2003) đều cho kết quả tương quan  
âm.  
2.7. Tính thanh khoản  
Tính thanh khoản có tác động đến quyết định cấu trúc vốn. Thứ nhất, các  
doanh nghiệp có tỷ lệ thanh khoản cao có thể sử dụng nhiều nợ vay do doanh  
nghiệp có thể trả các khoản nợ vay ngắn hạn khi đến hạn. Mặt khác, các doanh  
nghiệp có nhiều tài sản thanh khoản có thể sử dụng các tài sản này tài trợ cho các  
khoản đầu tư của mình.  
Nghiên cứu thực nghiệm của Rajan/Zingales (1995), Wald (1999) cho thấy  
có mối tương quan âm giữa tính thanh khoản và đòn bẩy tài chính.  
2.8. Đặc điểm riêng của sản phẩm  
Đặc điểm riêng của sản phẩm giúp phân biệt nó với các sản phẩm cùng loại  
khác trên thị trường, là dấu hiệu nhận diện của từng loại sản phẩm. Đặc điểm này  
được hình thành từ những đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh hay nguyên  
vật liệu hình thành nên chúng, ví dụ như phải sử dụng thiết bị chuyên biệt để sản  
xuất, chi phí nghiên cứu phát triển sản phẩm lớn. Khi doanh nghiệp bị phá sản, khả  
năng thu hồi vốn do thanh lý hàng tồn kho và các thiết bị máy móc thấp, do đó các  
chủ nợ sẽ e ngại trong vấn đề tài trợ.  
Nghiên cứu của Titman/Wessels (1988) cho kết quả tương quan âm giữa đòn  
bẩy tài chính và đặc điểm riêng của sản phẩm.  
Trang 9  
Bảng 2.1. Tóm tắt các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp  
Nhân tố  
Tiên đoán lý thuyết Kết quả thực nghiệm  
Tỷ suất sinh lợi của doanh  
nghiệp (ROA)  
+/-  
+
-
-
Tài sản hữu hình (TANG)  
Thuế thu nhập doanh nghiệp  
(TAX)  
+
+/-  
-
+
+
-
Qui mô doanh nghiệp (SIZE)  
Cơ hội tăng trưởng (GRO)  
Rủi ro kinh doanh (VOL)  
Tính thanh khoản (LIQ)  
-
-
-
-
Đặc điểm riêng của sản phẩm  
(UNI)  
-
-
Ghi chú: Dấu “+” thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa các nhân tố và đòn bẩy tài chính,  
dấu “-” thể hiện mối quan hệ ngược chiều giữa các nhân tố và đòn bẩy tài chính. Dấu “+/-” cho  
thấy có thể có cả tác động cùng chiều và ngược chiều – thể hiện sự không đồng nhất về ảnh hưởng  
của các nhân tố đến đòn bẩy tài chính trong các lý thuyết hoặc kết quả nghiên cứu thực nghiệm .  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Trang 10  
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1. Dữ liệu  
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 250 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết  
tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán  
Hà Nội, không bao gồm các các định chế tài chính như ngân hàng, công ty bảo hiểm  
hay các công ty chứng khoán, quỹ đầu tư. Dữ liệu được xây dựng từ các báo cáo tài  
chính (gồm bảng cân đối kế toán và bảng kết quả hoạt động kinh doanh). Các báo  
cáo tuân theo chuẩn mực của kế toán Việt Nam.  
Bảng 3.1. Số lượng các doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế trong mẫu  
quan sát  
Số lượng doanh  
STT  
Ngành kinh tế  
nghiệp quan sát  
1
2
Bất động sản và xây dựng  
Công nghiệp  
Nông nghiệp  
Hàng tiêu dùng  
Nguyên vật liệu  
Dịch vụ  
54  
36  
31  
29  
29  
27  
26  
9
3
4
5
6
7
Năng lượng  
Y tế  
8
9
Công nghệ  
7
10  
Viễn thông  
2
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ dữ liệu nghiên cứu  
Mẫu nghiên cứu bao gồm số liệu của 250 doanh nghiệp trong khoảng thời  
gian sáu năm (từ năm 2006-2011). Nguồn số liệu được thu thập từ các sở giao dịch  
chứng khoán là nguồn thông tin mà theo tác giả là đáng tin cậy vì: đối với các công  
Trang 11  
ty niêm yết, hoạt động quản trị tài chính, cung cấp thông tin phải hướng đến những  
chuẩn mực chung. Thực tế, các doanh nghiệp niêm yết trên cả hai Sở giao dịch  
chứng khoán tính đến thời điểm hiện nay cao hơn nhưng để đảm bảo tính cân đối  
của dữ liệu, tác giả chỉ chọn ra 250 doanh nghiệp có công bố đầy đủ báo cáo tài  
chính trong suốt giai đoạn nghiên cứu (2006-2011).  
3.2. Phương pháp nghiên cứu  
3.2.1. Mô hình kinh tế lượng  
Tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu kinh tế lượng. Phương pháp phân tích  
hồi qui bội, dựa trên nguyên tắc bình phương nhỏ nhất nhằm tìm ra mối quan hệ  
giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập. Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính  
bội dùng để kiểm nghiệm các giả thiết về mối tương quan giữa tỷ lệ nợ trên vốn chủ  
sở hữu và các nhân tố tác động đến nó.Tác giả dựa trên mô hình hồi quy mà tác giả  
Ali MustaTANG Abdullah al-Qudah đã sử dụng khi nghiên cứu các nhân tố tác  
động đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp than và khai thác công nghiệp Jordan  
(năm 2011)  
Mô hình hồi qui như sau:  
Y = αi + βnXn + εi  
Trong đó:  
Y
Xn  
βn  
αi  
: Biến phụ thuộc  
: Biến độc lập tác động đến biến phụ thuộc  
: Hệ số hồi qui  
: Hệ số tự do  
εi  
: Sai số ngẫu nhiên  
Trong mô hình hồi qui cụ thể của bài, cấu trúc vốn của doanh nghiệp được  
xem xét ở cả ngắn hạn và dài hạn. Do những giới hạn về khả năng thu thập dữ liệu  
của tác giả, cũng như đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam và các doanh nghiệp niêm  
yết, các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn bao gồm: (1) lợi nhuận, (2) tài sản hữu  
hình, (3) thuế thu nhập doanh nghiệp, (4) qui mô doanh nghiệp, (5) cơ hội tăng  
Trang 12  
trưởng, (6) rủi ro kinh doanh, (7) tính thanh khoản, (8) đặc điểm riêng của sản  
phẩm.  
3.2.2. Các biến trong mô hình và giả thiết về mối tương quan giữa biến phụ  
thuộc và biến độc lập  
Bảng 3.2. Các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu  
Phân loại  
Chỉ tiêu  
Công thức tính  
Tỷ số tổng nợ so với tài  
sản LEV (Leverage)  
Tổng nợ/ Tổng tài sản  
Các biến phụ thuộc –  
Cấu trúc vốn của  
doanh nghiệp  
Tỷ số nợ ngắn hạn so với  
tài sản STD (Short-term  
debt)  
Tỷ số nợ dài hạn so với tài  
sản LTD (Long-term debt)  
Tổng nợ ngắn hạn/ Tổng tài sản  
Tổng nợ dài hạn/ Tổng tài sản  
Lợi nhuận của doanh  
nghiệp (ROA)  
Lợi nhuận ròng sau thuế/ Tổng tài  
sản cuối kỳ  
(Bất động sản đầu tư + Tài sản cố  
định)/ Tổng tài sản  
Tài sản hữu hình (TANG)  
Thuế thu nhập doanh  
nghiệp (TAX)  
Số thuế doanh nghiệp phải nộp trong  
kỳ/ Lợi nhuận trước thuế  
Các biến độc lập - Các  
nhân tố ảnh hưởng đến  
cấu trúc vốn của  
Qui mô doanh nghiệp  
Ln (tổng tài sản cuối kỳ)  
(SIZE)  
doanh nghiệp  
[(Tổng tài sản(t) - Tổng tài sản (t-1)]/  
Tổng tài sản (t-1)  
Cơ hội tăng trưởng (GRO)  
% Biến động của EBIT/ % Biến  
Rủi ro kinh doanh (VOL)  
Tính thanh khoản (LIQ)  
động của doanh thu thuần  
Tài sản ngắn hạn/ Nợ ngắn hạn  
Đặc điểm riêng của sản  
phẩm (UNI)  
Giá vốn hàng bán/ Doanh thu thuần  
3.2.2.1. Các biến phụ thuộc  
Cấu trúc vốn được định nghĩa là một kết hợp giữa số lượng nợ ngắn hạn  
thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được dùng để tài  
trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp - là những quyết định liên quan đến:  
Trang 13  
Tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản lưu động và tài sản cố  
định). Bài nghiên cứu sử dụng các công thức sau để đo lường cấu trúc vốn:  
Tổng nợ  
Tỷ số tổng nợ so với tài sản  
=
LEV (Leverage)  
Tổng tài sản  
Tổng nợ ngắn hạn  
Tổng tài sản  
Tỷ số nợ ngắn hạn so với tài sản  
=
=
STD (Short-term debt)  
Tổng nợ dài hạn  
Tổng tài sản  
Tỷ số nợ dài hạn so với tài sản  
LTD (Long-term debt)  
3.2.2.2. Các biến độc lập  
Phần này sẽ trình bày công thức tính của mỗi biến và giả thiết về mối tương  
quan giữa chúng với biến phụ thuộc dựa trên các kết quả nghiên cứu thực nghiệm  
đã trình bày.  
a) Lợi nhuận của doanh nghiệp (ROA)  
Để đánh giá tác động của nhân tố lợi nhuận lên đòn bẩy tài chính, tác  
giả sử dụng tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và được tính như sau:  
Lợi nhuận ròng sau thuế  
ROA  
=
Tổng tài sản cuối kỳ  
Theo các nghiên cứu thực nghiệm, ROA có tương quan âm với tỷ lệ đòn bẩy  
tài chính. Do đó, ta có giả thuyết H1 như sau:  
H1: Tỷ suất sinh lợi có mối tương quan âm (-) với đòn bẩy tài chính.  
b) Tài sản hữu hình (TANG)  
Có nhiều cách để xác định tài sản hữu hình, chẳng hạn “tài sản cố  
định/ tổng tài sản” (Rajan và Zinggaless, 1995) hoặc là “(tài sản cố  
định+hàng tồn kho)/ tổng tài sản” (Hu Jun, 2008). Trong bài để đo  
lường nhân tố tài sản hữu hình của doanh nghiệp, tác giả sử dụng  
công thức:  
Trang 14  
Bất động sản đầu tư + Tài sản cố định  
Tổng tài sản  
TANG  
(tangible assets)  
=
Theo các nghiên cứu thực nghiệm, TANG có tương quan dương với tỷ lệ đòn  
bẩy tài chính. Do đó, ta có giả thuyết H2 như sau:  
H2: Tài sản hữu hình có mối tương quan âm (+) với đòn bẩy tài chính.  
c) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TAX)  
Bài nghiên cứu sử dụng khái niệm “thuế suất biên tế” để đại diện cho  
nhân tố thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đó, biến này được tính toán  
như sau:  
Số thuế doanh nghiệp phải nộp trong kỳ  
TAX  
=
Lợi nhuận trước thuế  
Giả thuyết H3 được xây dựng như sau:  
H3: Thuế thu nhập doanh nghiệp có mối tương quan âm (+) với  
đòn bẩy tài chính.  
d) Qui mô doanh nghiệp (SIZE)  
Qui mô doanh nghiệp thường được tính toán trong các nghiên cứu  
bằng logarit của doanh thu hoặc của tổng tài sản. Trong bài này qui  
mô doanh nghiệp được tính như sau:  
SIZE  
=
ln (tổng tài sản cuối kỳ)  
Các nghiên cứu thực nghiệm không thống nhất mối tương quan giữa  
qui mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính, do đó, ta có giả thiết H4:  
H4: Qui mô doanh nghiệp có mối tương quan dương (+) hoặc âm  
(-) với đòn bẩy tài chính.  
e) Cơ hội tăng trưởng (GRO)  
Cơ hội tăng trưởng thường được đo lường bằng chỉ số Tobin’s Q (giá  
trị thị trường/giá trị sổ sách của doanh nghiệp). Trong bài viết của  
Trang 15  
Huang/Song (2002), hai ông có nêu ra việc có thể sử dụng chỉ số tốc  
độ tăng trưởng để thay thế. Trong bài viết này, tác giả sử dụng tốc độ  
tăng trưởng của tài sản:  
Tổng tài sản(t) - Tổng tài sản (t-1)  
GRO  
=
Tổng tài sản (t-1)  
Nghiên cứu thực nghiệm cũng cho ra các kết quả đối lập về mối quan  
hệ giữa GRO với tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Ta có giả thiết H5:  
H5: cơ hội tăng trưởng có mối tương quan âm (-) hoặc dương (+)  
với đòn bẩy tài chính.  
f) Rủi ro kinh doanh (VOL)  
Có nhiều cách đo lường rủi ro kinh doanh, tác giả sử dụng công thức  
sau:  
% Biến động của EBIT  
% Biến động của doanh thu thuần  
VOL  
(Volatility)  
=
Các nghiên cứu thực nghiệm thống nhất mối quan hệ tương quan âm  
giữa rủi ro kinh doanh và đòn bẩy tài chính. Ta có giả thiết H6 như  
sau:  
H6: Rủi ro kinh doanh có mối tương quan âm (-) với đòn bẩy tài  
chính.  
g) Tính thanh khoản (LIQ)  
Tính thanh khoản là khả năng chuyển đổi thành tiền của một tài sản.  
Để đo lường nhân tố này, tác giả sử dụng công thức như sau:  
Tài sản ngắn hạn  
Nợ ngắn hạn  
LIQ  
(liquidity)  
=
Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mối tương quan ngược chiều của  
tính thanh khoản và đòn bẩy tài chính. Từ đó, ta có giả thiết H7:  
Trang 16  
H7: Tính thanh khoản có mối tương quan âm (-) với đòn bẩy tài  
chính.  
h) Đặc điểm riêng của sản phẩm (UNI)  
Đặc điểm riêng của sản phẩm có thể đo lường bằng tỷ lệ: giá vốn hàng  
bán/doanh thu thuần hoặc chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D)/  
doanh thu thuần. Trong bài nghiên cứu, do hạn chế trong vấn đề thu  
thập chi phí R&D nên tác giả sử dụng công thức:  
Giá vốn hàng bán  
Doanh thu thuần  
UNI  
(Uniqueness)  
=
Theo kết quả nghiên cứu của Titman/Wessels (1988) ta có giả thiết  
H8:  
H8: Đặc điểm riêng của sản phẩm có mối tương quan âm(-) với  
đòn bẩy tài chính.  
Bảng 3.3. Giả thuyết về mối tương quan giữa cấu trúc tài chính và các nhân tố  
tác động đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp  
Giả thuyết  
nghiên cứu  
Nhân tố tác động đến cấu trúc  
tài chính của doanh nghiệp  
Ký hiệu  
Giả thuyết  
H1  
H2  
H3  
H4  
H5  
H6  
H7  
H8  
Tỷ suất sinh lợi  
Tài sản hữu hình  
ROA  
TANG  
TAX  
SIZE  
GRO  
VOL  
LIQ  
-
+
Thuế TNDN  
+
Qui mô doanh nghiệp  
Cơ hội tăng trưởng  
Rủi ro kinh doanh  
Tính thanh khoản  
+/-  
+/-  
-
-
Đặc điểm riêng của sản phẩm  
UNI  
-
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Trang 17  
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM CÁC  
NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA  
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
4.1. Thống kê mô tả  
4.1.1. Thống kê mô tả biến phụ thuộc  
Bảng 4.1. Thống kê mô tả biến phụ thuộc  
LEV  
LTD  
1500  
STD  
N
Valid  
1500  
1500  
Missing  
0
0
0
Mean  
0.47386  
0.00582  
0.493508  
0.129384  
0.225409  
-0.06356  
0.063182  
-0.70221  
0.126281  
0.003781  
1.478187  
710.7902  
0.104703  
0.003743  
0.038811  
0
0.371121  
0.005214  
0.364986  
0.155746  
0.201941  
0.329279  
0.063182  
-0.24294  
0.126281  
0.003781  
1.467781  
556.6808  
Std. Error of Mean  
Median  
Mode  
Std. Deviation  
Skewness  
0.144968  
1.872058  
0.063182  
3.114679  
0.126281  
0
Std. Error of Skewness  
Kurtosis  
Std. Error of Kurtosis  
Minimum  
Maximum  
0.730233  
157.0546  
Sum  
a. Multiple modes exist. The smallest value is shown  
Nguồn: Tác giả tính toán từ chương trình SPSS  
Trang 18  
Với các dữ liệu quan sát của giai đoạn 2006-2011, ta nhận thấy các doanh  
nghiệp Việt Nam có khuynh hướng sử dụng tương đối nhiều nợ vay trong quyết  
định đầu tư của mình với tỷ lệ 47.36%. Điều này biểu thị rằng gần 50% giá trị tài  
sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi nguồn vốn vay. Rõ ràng điều này sẽ gây khó  
khăn cho doanh nghiệp trong trường hợp các thị trường cung cấp vốn gặp khó khăn  
về tài chính.  
Doanh nghiệp Việt Nam cũng có khuynh hướng sử dụng nhiều nợ ngắn hạn  
hơn nợ dài hạn trong cấu trúc vốn của mình, với tỷ lệ nợ ngắn hạn trung bình là  
37,11% và tỷ lệ nợ dài hạn trung bình là 10,47%. Trong đó, đáng chú ý là trường  
hợp công ty cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu Thủy sản CADOVIMEX có tỷ lệ  
LEV đạt đến 1.47 năm 2011; trong năm này khi tổng nợ phải trả của công ty lên đến  
gần 511 tỷ thì tổng tài sản lại chỉ đạt 346 tỷ, vốn chủ sở hữu giảm 165 tỷ (do kết quả  
hoạt động kinh doanh thua lỗ mang lại).  
4.1.2. Thống kê mô tả biến độc lập  
Bảng 4.2. Thống kê mô tả biến độc lập  
TANG  
1500  
0
GRO  
1500  
0
LIQ  
1500  
ROA  
1500  
N
Valid  
Missing  
0
0
Mean  
0.326  
0.006  
0.279  
0.378  
0.216  
0.807  
0.063  
0.029  
0.126  
0.006  
0.976  
0.421  
0.017  
0.231  
1.000  
0.643  
4.625  
0.063  
42.161  
0.126  
-0.709  
9.433  
2.727  
0.186  
1.547  
0.829  
7.199  
21.203  
0.063  
585.657  
0.126  
0.070  
220.251  
0.078  
0.002  
0.067  
0.041  
0.085  
-1.477  
0.063  
22.333  
0.126  
-0.885  
0.501  
Std. Error of Mean  
Median  
Mode  
Std. Deviation  
Skewness  
Std. Error of Skewness  
Kurtosis  
Std. Error of Kurtosis  
Minimum  
Maximum  
a. Multiple modes exist. The smallest value is shown  
Nguồn: Tác giả tính toán từ chương trình SPSS  
Trang 19  
Tài sản hữu hình TANG chiếm tỷ trọng trung bình là 32,6% trong tổng tài  
sản của doanh nghiệp. Công ty cổ phần thuỷ điện Nậm Mu (HJS) có tỷ trọng tài sản  
hữu hình cao nhất trong giai đoạn này là 0.9764 vào năm 2009.  
Tốc độ tăng trưởng của các công ty trong giai đoạn 2006-2011 đạt trung bình  
42,1%. Trong đó, có trường hợp Tổng Công ty cổ phần khoáng sản Na Rì Hamico  
(KSS) đạt tốc độ tăng trưởng đến 943% năm 2009.  
Tính thanh khoản của các công ty trong giai đoạn này cũng tương đối tốt,  
trung bình 2.727, thấp nhất là 0.07 (trường hợp công ty cổ phần tập đoàn Satra  
(SRB) năm 2006), cao nhất là 220.2511 (trường hợp công ty cổ phần Dịch vụ và  
xây dựng địa ốc Đất Xanh (DXG) năm 2006).  
Tỷ suất sinh lợi của tài sản đạt giá trị trung bình 0.078 biểu thị mức sinh lợi  
khoảng 7.8%. Với tỷ suất sinh lợi của tài sản cao nhất 50,1% vào năm 2009 dường  
như Công ty cổ phần cao su Đà Nẵng (DRC) là doanh nghiệp sử dụng hiệu quả  
nhất giá trị tài sản của mình. Trong năm này, với 785 tỷ tổng tài sản công ty đã tạo  
ra được 393 tỷ lợi nhuận.  
Bảng 4.3. Thống kê mô tả biến độc lập (tiếp theo)  
SIZE  
1500  
TAX  
1500  
0
UNI  
1500  
VOL  
1500  
N
Valid  
Missing  
0
0
0
Mean  
11.578  
0.029  
11.519  
10.382  
1.113  
9.225  
0.063  
120.016  
0.126  
9.786  
26.620  
0.152  
0.004  
0.140  
0.000  
0.145  
5.935  
0.063  
94.986  
0.126  
-0.277  
2.920  
0.883  
0.052  
0.826  
0.739  
2.022  
21.208  
0.063  
542.145  
0.126  
-17.005  
55.477  
2.672  
Std. Error of Mean  
Median  
3.327  
1.000  
Mode  
1.000  
Std. Deviation  
Skewness  
128.846  
-6.091  
0.063  
Std. Error of Skewness  
Kurtosis  
447.480  
0.126  
Std. Error of Kurtosis  
Minimum  
-3368.126  
2689.988  
Maximum  
a. Multiple modes exist. The smallest value is shown  
Nguồn: Tác giả tính toán từ chương trình SPSS  
Trang 20  
Qui mô doanh nghiệp trung bình đạt mức 11.578. Trong đó, công ty Cổ phần  
Thuỷ sản Mêkong (AAM) có qui mô lớn nhất 26.62. Công ty cổ phần Dịch vụ và  
xây dựng địa ốc Đất Xanh (DXG) có qui mô nhỏ nhất 9.76 năm 2006; tuy nhiên lại  
là công ty có tính thanh khoản tốt nhất trong cùng năm (đã nêu ở trên).  
Trong giai đoạn này thuế suất biên tế của các doanh nghiệp trong mẫu quan  
sát ở mức trung bình 11.58% thấp hơn thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp áp  
dụng trong cùng giai đoạn.  
Các chỉ số đặc điểm riêng của sản phẩm UNI và rủi ro kinh doanh VOL lần  
lượt đạt giá trị trung bình là 0.883 và 2.672.  
4.2. Ma trận tương quan  
Để chạy mô hình hồi quy giữa các biến độc lập và phụ thuộc nêu trên tác giả  
tiến hành phân tích xem các biến được lựa chọn này có sự tương quan với nhau hay  
không. Nếu có tác giả sẽ tiến hành điều chỉnh loại bớt biến có tương quan với nhau  
để kết quả mô hình hồi quy là đáng tin cậy. Bảng phân tích mối tương quan giữa  
các biến được thể hiện như sau:  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 54 trang yennguyen 11320 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nghiên cứu các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2011", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_nghien_cuu_cac_nhan_to_tac_dong_den_cau_truc_von_cu.pdf