Luận văn Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ đề bất đẳng thức Lớp 10 ban Nâng cao

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC  
TRẦN TĂNG THẮNG  
PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH  
THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ BẤT ĐẲNG THỨC  
LỚP 10 BAN NÂNG CAO  
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN  
HÀ NỘI – 2017  
LỜI CẢM ƠN  
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin được trân  
trọng cảm ơn các thầy cô giáo, Hội đồng khoa học, Ban giám hiệu trường  
Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện  
thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành  
khóa học.  
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới  
TS. Nguyễn Đức Huy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá  
trình làm và hoàn thiện luận văn.  
Tác giả cũng xin cảm ơn sự quan tâm tạo điều kiện của các thầy cô giáo  
trong Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Toán Tin, trường THPT  
Nguyễn Khuyến, thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác  
giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.  
Lời cảm ơn chân thành của tác giả cũng xin được dành cho những người  
thân trong gia đình và bạn bè, đặc biệt là các bạn trong lớp Cao học Toán  
khóa 2015 - 2017 đã luôn quan tâm, cổ vũ, động viên, giúp đỡ để tác giả hoàn  
thành luận văn một cách tốt nhất.  
Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn chắc chắn không tránh khỏi  
những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các  
thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp.  
Xin trân trọng cảm ơn!  
Hà Nội, tháng 11 năm 2017  
Tác giả  
Trần Tăng Thắng  
i
 
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT  
AM - GM  
Bất đẳng thức trung bình  
cộng và trung bình nhân  
BĐT  
C - S  
CMR  
ĐC  
Bất đẳng thức  
Cauchy - Schwarz  
Chứng minh rằng  
Đối chứng  
GV  
Giáo viên  
HS  
Học sinh  
SĐC  
SGK  
STN  
TDST  
TĐC  
TN  
Sau đối chứng  
Sách giáo khoa  
Sau thực nghiệm  
Tư duy sáng tạo  
Trước đối chứng  
Thực nghiệm  
Tiến sĩ  
TS  
TTN  
THPT  
Trước thực nghiệm  
Trung học phổ thông  
ii  
 
MỤC LỤC  
iii  
iv  
v
DANH MỤC CÁC BẢNG  
vi  
 
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ  
vii  
 
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI (29-NQ/TW) về đổi  
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với quan điểm chỉ đạo: “Giáo dục  
và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của  
toàn dân; Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong  
các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Chuyển mạnh quá trình  
giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và  
phẩm chất người học; Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục  
nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [1].  
Để đáp ứng quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đặc  
biệt là đối với giáo dục phổ thông cần đổi mới theo định hướng phát triển  
năng lực và hình thành phẩm chất người học là phải khuyến khích học sinh tự  
học, sáng tạo, vận dụng kiến thức vào thực tiễn đồng thời phải áp dụng những  
phương pháp giáo dục hiện đại vào dạy học.  
̉
̉
Vơi hoc  
̣
sinh phô thông, tư duy sáng tạo (TDST) thê hiên  
n thưc tư câu truc lai cái đa biết, tim tòi, phát hiện điều chưa biết. Vơi  
̣ ̣  
TDST co đăc môn Toan viêc tim toi cac lơi  
́ ̀ ́ ̀  
̀
̣ ̣ ̣  
qua viêc vân  
́
dun  
môi môn hoc  
giai khac nhau hoăc  
̣
g kiê  
́
̣
́
̣
́
́
̃
́
̀
̃
trưng riêng, khi hoc  
̣
sang tao ra bai toan mơi la cach thê hiên cua TDST.  
̉
̣
̣
́
̉
̣
̣
̉
́
́
̀
́
́
̀
́
Bất đẳng thức (BĐT) là chủ đề xuất hiện từ rất sớm trong chương trình  
toán phổ thông, ngay từ lúc còn học ở tiểu học thì học sinh đã làm quen với  
BĐT với việc so sánh các số tự nhiên, các phân số... đồng thời BĐT xuất hiện  
trong tất cả các phân môn của toán học như đại số, hình học, số học, đặc biệt  
khái niệm về giới hạn trong phân môn giải tích được xây dựng dựa vào các  
đánh giá BĐT. Do đó, dạy học chủ đề BĐT là cơ hội tốt để phát triển TDST  
cho học sinh phổ thông.  
Đã có nhiều công trình nghiên cứu [6], [9], [11], [12], [15], [17], [22],  
[24], [28], [29] trong nước và ngoài nước đề cập tới về vấn đề lý luận và thực  
1
   
tiễn của việc phát triển TDST cho học sinh. Đồng thời tác giả cũng rất quan  
tâm tới lĩnh vực này và có những hướng nghiên cứu, tiếp cận mới với đề tài.  
Vì vậy, tác giả chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Phát triển tư duy sáng  
tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ đề bất đẳng thức lớp 10 ban nâng  
cao”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần phát triển  
TDST cho học sinh thông qua dạy học chủ đề BĐT lớp 10 ban nâng cao.  
3. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tư duy, TDST và phát triển TDST  
cho học sinh.  
Tìm hiểu thực trạng vấn đề dạy học phát triển TDST qua môn toán tại  
trường THPT Nguyễn Khuyến, thành phố Hải Phòng.  
Đề xuất một số biện pháp phát triển TDST cho học sinh thông qua dạy học  
chủ đề BĐT lớp 10 ban nâng cao.  
Thực nghiệm sư phạm để làm rõ tính tính khả thi và tính hiệu quả của các  
biện pháp đã đề xuất trong luận văn.  
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
Học sinh lơp 10 và giáo viên giảng dạy môn Toán tại trương THPT  
́
̀
Nguyễn Khuyến, thành phố Hải Phòng.  
Quá trình phát triển TDST cho học sinh thông qua dạy học chủ đề BĐT  
trong chương trình Đại số & Giải tích lớp 10 ban nâng cao.  
Thời gian: học kì 1 năm học 2016 - 2017.  
5. Giả thuyết khoa học  
Nếu dạy học chủ đề bất đẳng thức lớp 10 ban nâng cao theo hướng xây  
dựng các biện pháp đã đề xuất trong đề tài thì sẽ góp phần phát triển TDST  
cho học sinh.  
2
       
6. Phương pháp nghiên cứu  
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận  
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong quá trình nghiên  
cứu các tài liệu (sách, tài liệu, các công trình nghiên cứu: luận án, luận văn,  
bài báo khoa học) để xác định những vấn đề lý luận cho luận văn.  
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn  
+ Điều tra giáo dục: điều tra, khảo sát nhằm thu thập thông tin từ giáo  
viên và học sinh bằng cách sử dụng phiếu hỏi về thực trạng vấn đề dạy học  
phát triển TDST qua môn Toán tại trường THPT Nguyễn Khuyến, thành phố  
Hải Phòng.  
+ Quan sát sư phạm: quan sát các hoạt động của giáo viên và học sinh  
trong quá trình dạy và học.  
+ Thực nghiệm sư phạm: tiến hành thực nghiệm sư phạm để xem xét  
tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất trong luận văn.  
6.3. Phương pháp thống kê toán học  
Sử dụng các phần mềm thống kê toán học trong đó chủ yếu là phần mềm  
SPSS để xử lý số liệu điều tra khảo sát và thực nghiệm sư phạm.  
7. Đóng góp mới của luận văn  
Tác giả đã làm sáng tỏ những biểu hiện TDST cốt lõi trong môn Toán  
cần tập trung phát triển cho học sinh. Đồng thời tác giả cũng đã xác định được  
phương hướng chung để phát triển TDST cho học sinh thông qua môn Toán.  
Từ đó, tác giả đã phân tích, đánh giá được thực trạng vấn đề phát triển TDST  
cho học sinh trong hoạt động dạy học của giáo viên và học sinh nhà trường  
THPT Nguyễn Khuyến, thành phố Hải Phòng.  
Tác giả đã nghiên cứu và đề xuất được 6 biện pháp phát triển TDST cho  
học sinh thông qua dạy học chủ đề BĐT lớp 10 ban nâng cao. Đồng thời thiết  
kế được 3 giáo án dạy học chủ đề bất đẳng thức sử dụng các biện pháp đã đề  
xuất có tác dụng phát triển TDST cho học sinh.  
3
   
8. Cấu trúc của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn  
được chia thành 3 chương:  
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn vấn đề phát triển TDST cho học  
sinh trong dạy học môn Toán ở trường THPT.  
Chương 2: Một số biện pháp phát triển TDST cho học sinh thông qua  
dạy học chủ đề BĐT lớp 10 ban nâng cao.  
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.  
4
 
CHƯƠNG 1  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN  
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH  
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG THPT  
1.1. Cơ sở lý luận  
1.1.1. Tư duy  
1.1.1.1. Khái niệm về tư duy  
Theo từ điển tiếng Việt: “Tư duy là giai đoạn cao nhất của quá trình  
nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng  
những hình thức như biểu tượng, phán đoán và suy lý” [18].  
Theo từ điển triết học: “Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ  
chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới  
khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận” [23].  
Theo tâm lý học, tư duy là thuộc tính đặc biệt của vật chất có tổ chức cao  
(bộ não người). Tư duy phản ánh thế giới vật chất dưới dạng các hình ảnh lý  
tưởng: “Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối  
liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” [4].  
Tóm lại, có thể hiểu tư duy là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động nhận  
thức bậc cao ở con người. Cơ sở sinh lý của tư duy là sự hoạt động của vỏ đại  
não. Hoạt động tư duy đồng nghĩa với hoạt động trí tuệ. Mục tiêu của tư duy  
là tìm ra các triết lý, lý luận, phương pháp luận, phương pháp, giải pháp trong  
các tình huống hoạt động của con người.  
1.1.1.2. Đặc điểm của tư duy  
Qua việc nghiên cứu các tài liệu về tư duy [4], [7], [11], [16], [21], có  
thể hiểu tư duy gồm những đặc điểm sau:  
+ Tính có vấn đề của tư duy: Tư duy chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có  
vấn đề. Đó là những tình huống mà ở đó nẩy sinh những mục đích mới và  
những phương tiện, phương pháp hoạt động cũ đã có trước đây trở nên không  
5
         
đủ để đạt được mục đích đó. Nhưng muốn kích thích được tư duy thì hoàn  
cảnh có vấn đề phải được cá nhân nhận thức đầy đủ, được chuyển thành  
nhiệm vụ tư duy của cá nhân, nghĩa là cá nhân phải xác định được cái gì đã  
biết, cái gì chưa biết, cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm.  
+ Tính gián tiếp của tư duy: Tư duy phản ánh sự vật hiện tượng một các  
gián tiếp bằng ngôn ngữ, tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ. Các quy luật,  
quy tắc, các sự kiện các mối liên hệ và sự phụ thuộc được khái quát và diễn  
đạt trong các từ. Mặt khác những phát minh, những kết quả tư duy của người  
khác, cũng như kinh nghiệm cá nhân của con người đều là những công cụ để  
con người tìm hiểu thế giới xung quanh để giải quyết những vấn đề mới đối  
với họ. Ngoài ra những công cụ do con người tạo ra cũng giúp chúng ta hiểu  
biết được những hiện tượng có trong hiện thực mà không thể tri giác chúng  
một cách trực tiếp được.  
+ Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Tư duy có khả năng tách trừu  
tượng khỏi sự vật hiện tượng, những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể cá  
biệt, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật hiện  
tượng rồi trên cơ sở đó mà khái quát các sự vật và hiện tượng riêng lẻ khác  
nhau, nhưng có những thuộc tính bản chất thành một nhóm, một loại phạm  
trù, nói cách khác tư duy mang tính chất trừu tượng hoá và khái quát hoá.  
Nhờ đặc điểm này mà con người có thể nhìn vào tương lai.  
+ Tư duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Tư duy của con người gắn  
liền vơí ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện. Tư duy của con người  
không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ được, ngược lại ngôn ngữ cũng không  
thể có được nếu không dựa vào tư duy. Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với  
nhau nhưng không đồng nhất và tách rời nhau được.  
+ Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính: Mối quan hệ này  
là quan hệ hai chiều như tư duy được tiến hành trên cơ sở những tài liệu nhận  
thức cảm tính đem lại, kết quả tư duy được kiểm tra bằng thực tiễn dưới hình  
6
thức trực quan, ngược lại tư duy và kết quả của nó có ảnh hưởng đến quá trình  
nhận thức cảm tính.  
1.1.1.3. Các giai đoạn tư duy  
Dẫn theo tài liệu [29], K.K.Platonôv đã sơ đồ hóa các giai đoạn của một  
hành động (quá trình) tư duy qua sơ đồ sau:  
Sơ đồ 1.1. Các giai đoạn tư duy  
Theo đó, mỗi hành động tư duy diễn ra qua các giai đoạn bao gồm:  
+ Xác định được vấn đề, biểu đạt nó thành nhiệm vụ tư duy, hay nói  
cách khác là tìm được câu hỏi cần giải đáp;  
+ Huy động tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tưởng, hình thành giả thuyết  
về cách giải quyết vấn đề, cách trả lời câu hỏi;  
+ Xác minh giả thuyết trong thực tiễn, nếu giả thuyết đúng thì thực hiện  
tiếp bước sau, nếu giả thuyết sai thì phủ định nó và hình thành giả thuyết mới;  
+ Quyết định đánh giá kết quả, đưa ra sử dụng.  
Như vậy, có thể nói quá trình tư duy diễn ra theo các giai đoạn cho dù  
vấn đề tư duy nảy sinh từ đâu trong lý luận hay trong hoạt động thực tiễn thì  
cũng đều diễn ra theo quy trình kể trên.  
7
 
1.1.1.4. Các thao tác tư duy  
Dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu có liên quan [4], [6], [11], [12],  
[16], [22], [28], [30], các tác giả đều có điểm chung cho rằng các giai đoạn  
của tư duy mới chỉ phản ánh được cấu trúc bên ngoài của tư duy, còn nội  
dung bên trong của mỗi giai đoạn trong hành động tư duy lại là một quá trình  
diễn ra trên cơ sở những thao tác tư duy. Có thể nói các thao tác trí tuệ chính  
là các quy luật bên trong của tư duy và tư duy diễn ra thông qua các thao tác  
sau:  
+ Phân tích: là quá trình dùng trí óc để phân chia đối tượng nhận thức  
thành các bộ phận, các thành phần khác nhau từ đó vạch ra được những thuộc  
tính, những đặc điểm của đối tượng nhận thức hay xác định các bộ phận của  
một tổng thể bằng cách so sánh, phân loại, đối chiếu, làm cho tổng thể được  
hiển minh.  
+ Tổng hợp: là quá trình dùng trí óc để hợp nhất, sắp xếp hay kết hợp  
những bộ phận, những thành phần, những thuộc tính của đối tượng nhận thức  
đã được tách rời nhờ sự phân tích thành một chỉnh thể để từ đó nhận thức đối  
tượng một cách bao quát, toàn diện hơn.  
+ So sánh: là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác  
nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau  
giữa các đối tượng nhận thức.  
+ Trừu tượng hoá: là quá trình dùng trí óc để gạt bỏ những mặt, những  
thuộc tính không cần thiết về phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố  
cần thiết để tư duy.  
+ Đặc biệt hóa: là quá trình dùng trí óc chuyển từ cả một lớp đối tượng  
sang một đối tượng của lớp đó.  
+ Khái quát hoá: là quá trình dùng trí óc để bao quát nhiều đối tượng  
khác nhau thành một nhóm, một loại theo những thuộc tính chung nhất định.  
8
 
Tóm lại, các thao tác tư duy cơ bản được xem như quy luật bên trong của  
mỗi hành động tư duy. Trong thực tế tư duy, các thao tác đan chéo vào nhau  
mà không theo trình tự máy móc. Tuy nhiên, tùy theo từng nhiệm vụ tư duy,  
điều kiện tư duy, không phải mọi hành động tư duy cũng nhất thiết phải thực  
hiện tất cả các thao tác trên.  
1.1.2. Tư duy sáng tạo  
1.1.2.1. Khái niệm về sáng tạo  
Theo từ điển tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết cái  
mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào những cái đã có” [30].  
Theo từ điển triết học: “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người  
tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất” [23].  
Như vậy, có thể hiểu theo một cách thông thường: Sáng tạo, căn cứ vào  
những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, chọn lọc, tổng hợp lại để  
thành một hình tượng mới.  
1.1.2.2. Khái niệm tư duy sáng tạo  
Trong cuốn tài liệu [17], tác giả G.Polya quan niệm: “Một tư duy gọi là  
có hiệu quả nếu tư duy đó dẫn đến lời giải một bài toán cụ thể nào đó; có thể  
coi là sáng tạo nếu tư duy đó tạo ra những tư liệu, phương tiện giải các bài  
toán sau này; các bài toán vận dụng những tư liệu phương tiện này có số  
lượng càng lớn, có dạng muôn màu muôn vẻ, thì mức độ sáng tạo của tư duy  
càng cao”.  
Theo tài liệu [12], tác giả quan niệm: “Tính sáng tạo của tư duy thể hiện  
rõ nét ở khả năng tạo ra cái mới, phát hiện vấn đề mới, tìm ra hướng đi mới,  
tạo ra kết quả mới”.  
Trong tài liệu [27], tác giả cho rằng: “Tư duy sáng tạo là là một dan  
̣
g tư  
duy độc lập tao ra ý tưởng mơi độc đao có hiêu qua giai quyết vấn đề cao. Ý  
̣
̣
̉
̉
́
́
̉
tưởng mơi thê hiên ở chỗ phát hiên vấn đề mơi, tìm ra hương đi mơi tao ra kết  
̣
̣
̣
́
́
́
́
9
     
̉
qua mơi. Tinh độc đao của ý tưởng thê hiên ở giai pháp la, hiếm, không quen  
̣
̣
̉
̉
́
́
́
thuộc hoặc duy nhất”.  
Từ các khái niệm về TDST, tác giả nhận thấy mặc dù sáng tạo được giải  
thích ở các góc độ khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng  
TDST là một thuộc tính, một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người; hoạt  
động sáng tạo diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực; bản chất của sáng tạo  
là con người tìm ra cái mới, cái độc đáo và có giá trị xã hội. Đây là một điểm  
chung mà các tác giả đều nhấn mạnh nhưng được nhìn dưới nhiều góc độ  
khác nhau, có tác giả quan tâm đến cái mới của sản phẩm hoạt động, có tác  
giả lại quan tâm đến cách thức, đến quá trình tạo ra cái mới đó. Song cái mới  
cũng có nhiều mức độ, có cái mới đối với toàn xã hội, có cái mới chỉ đối với  
bản thân người tạo ra nó. Điểm chung nữa ở các tác giả là đều nhấn mạnh đến  
ý nghĩa xã hội của sản phẩm sáng tạo.  
Trong luận văn này, tác giả quan niệm: TDST là tư duy có khuynh  
hướng phát hiện và giải thích bản chất sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tưởng  
mới, cách giải quyết mới không theo tiền lệ đã có.  
1.1.2.3. Một số thành tố đặc trưng của tư duy sáng tạo  
Trong các công trình nghiên cứu về TDST [9], [13], [14], [17] đã có  
nhiều quan niệm về các đặc trưng của TDST. Các quan niệm đều tập trung  
cho rằng tính mềm dẻo, tính nhuần nhuyễn, tính độc đáo, tính nhạy cảm vấn  
đề, tính phê phán, tính độc lập, tính trau chuốt, khả năng giải quyết vấn đề  
theo cách mới là những đặc trưng của TDST.  
Trong đề tài này, tác giả thống nhất với quan điểm của các nhà nghiên  
cứu tâm lý học giáo dục trong cuốn tài liệu [13], cho rằng TDST được đặc  
trưng bởi các yếu tố chính như tính mềm dẻo (flexibility), tính nhuần nhuyễn  
(fluency), tính độc đáo (originality), tính trau chuốt (elaboration) và tính nhạy  
cảm (sensibility).  
a. Tính mềm dẻo (Flexibility)  
10  
 
Tính mềm dẻo là khả năng chủ thể biến đổi thông tin, kiến thức đã tiếp  
thu được một cách dễ dàng, nhanh chóng từ góc độ, quan niệm này sang góc  
độ quan niệm khác, chuyển đổi sơ đồ tư duy có sẵn trong đầu sang một hệ tư  
duy khác, chuyển đổi từ phương pháp cũ sang hệ thống phương pháp mới,  
chuyển đổi từ hành động trở thành thói quen sang một hành động mới, gạt bỏ  
sự cúng nhắc mà con người đã có để thay đổi sự nhận thức dưới một góc độ  
mới, thay đổi cả những thái độ đã cố hữu trong hoạt động tinh thần, trí tuệ.  
Tính mềm dẻo của tư duy có những đặc điểm sau:  
+ Biết phối hợp, kết hợp tổng quát các thao tác tư duy, các phương pháp  
suy luận.  
+ Dễ dàng chuyển từ giải pháp này sang giải pháp khác;  
+ Điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ nếu gặp trở ngại;  
+ Suy nghĩ không rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những  
tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có vào trong những điều kiện, hoàn cảnh  
mới trong đó có những yếu tố đã thay đổi;  
+ Có khả năng thoát khỏi ảnh hưởng kìm hãm của những kinh nghiệm,  
phương pháp, cách thức suy nghĩ đã có;  
+ Nhận ra vấn đề mới trong điều kiện đã quen thuộc, nhìn thấy chức  
năng mới của đối tượng đã quen biết.  
b. Tính nhuần nhuyễn (Fluency)  
Tính nhuần nhuyễn là năng lực tổ hợp, tạo ý tưởng mới, kết hợp các yếu  
tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, sự vật nhanh chóng.  
Tính nhuần nhuyễn được thể hiện ở các đặc trưng sau:  
+ Khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh khác nhau, có cái  
nhìn đa chiều, toàn diện đối với một vấn đề;  
+ Khả năng tìm được nhiều giải pháp cho một vấn đề từ đó sàng lọc các  
giải pháp để chọn được giải pháp tối ưu.  
c. Tính độc đáo (Originality)  
11  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 127 trang yennguyen 9920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học chủ đề bất đẳng thức Lớp 10 ban Nâng cao", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phat_trien_tu_duy_sang_tao_cho_hoc_sinh_thong_qua_d.pdf