Luận văn Phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt sử dụng mô hình Bert

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG  
---------------------------------------  
NGUYỄN DIỆU LINH  
PHÂN LOẠI CÂU HỎI PHÁP QUY TIẾNG VIỆT  
SỬ DỤNG MÔ HÌNH BERT  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT  
(Theo định hướng ứng dụng)  
HÀ NỘI – 2021  
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG  
---------------------------------------  
NGUYỄN DIỆU LINH  
PHÂN LOẠI CÂU HỎI PHÁP QUY TIẾNG VIỆT  
SỬ DỤNG MÔ HÌNH BERT  
Chuyên ngành  
: Khoa học máy tinh  
: 8.48.01.01  
Mã số  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT  
(Theo định hướng ứng dụng)  
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS. TS. NGÔ XUÂN BÁCH  
HÀ NỘI – 2021  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết  
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất  
kỳ công trình nào trước đây.  
Tác giả  
Nguyễn Diệu Linh  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Ngô Xuân Bách, bộ môn Khoa học máy  
tính, Khoa Công nghệ thông tin đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn cho em trong việc  
lựa chọn đề tài, thực hiện đề tài và viết báo cáo luận văn, giúp cho em có thể hoàn  
thành tốt luận văn này.  
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Công nghệ thông tin là  
những người giảng dạy em, đặc biệt các thầy cô trong khoa Sau đại học đã tận tình  
dạy dỗ và chỉ bảo em trong suốt 2 năm học .  
Em xin chân thành cảm ơn em Nguyễn Thị Minh Phương đã tham gia xây  
dựng kho ngữ liệu cho bài toán.  
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh  
động viên em những lúc khó khăn và giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và  
nghiên cứu, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em để có thể hoàn thành tốt luận văn của  
mình.  
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành nghiên cứu trong phạm vi và khả năng cho  
phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận  
được sự thông cảm của thầy cô và các bạn.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Hà Nội, 12/2020  
Nguyễn Diệu Linh  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT  
Viết tắt  
Tiếng Anh  
Tiếng Việt  
Bidirectional Encoder Representations Biểu diễn mã hóa hai chiều từ  
BERT  
CNN  
GRU  
LSTM  
MLM  
RNN  
SRM  
SVM  
from Transformers  
Transformer  
Convolutional Neural Network  
Gated Recurrent Units  
Mạng nơ-ron tích chập  
Cổng tái Unit  
Long-Short Term Memory  
Masked language modeling  
Recurrent Neural Network  
Structural rRisk rMinimization  
Support Vector machine  
Mạng bộ nhớ dài-ngắn  
Mô hình ngôn ngữ bị che  
Mạng nơ-ron hồi quy  
Cực tiểu hóa rủi ro có cấu trúc  
Máy vector hỗ trợ  
 
vi  
DANH MỤC HÌNH VẼ  
Hình 1-1 Mô hình giai đoạn huấn luyện ..................................................................9  
Hình 1-2 Mô hình giai đoạn phân lớp ....................................................................10  
Hình 1-3 Siêu phẳng phân chia dữ liệu học thành 2 lớp (+) và (-) với khoảng cách  
biên là lớn nhất. Các biên gần nhất (điểm được khoanh tròn) là các  
Support Vector.........................................................................................11  
Hình 1-4 Mô hình giai đoạn huấn luyện sử dụng mạng nơ-ron..............................12  
Hình 1-5 Mô hình giai đoạn phân lớp sử dụng mạng nơ-ron. ................................12  
Hình 1-6 Tế bào trang thái LSTM giống như một băng chuyền ...........................13  
Hình 1-7 LSTM focus f ..........................................................................................14  
Hình 1-8 LSTM focus I ..........................................................................................14  
Hình 1-9 LSTM focus c .........................................................................................15  
Hình 1-10 LSTM focus o ........................................................................................15  
Hình 2-1 Mô hinh giải pháp phân loại theo phân loại nhị phân .............................19  
Hình 2-2 Mô hình giải pháp phân loại theo phân loại đa nhãn...............................22  
Hình 2-3 Mô hình một mạng nơ-ron hồi quy..........................................................25  
Hình 2-4 Vanilla RNN, LSTM, GRU.....................................................................26  
Hình 2-5 Các bước của bài toán phân loại văn bản sử dụng mạng nơ-ron RNN. ..27  
Hình 2-6 Bên trái: Mạng nơ-ron ba lớp thông thướng. Bên phải: Một CNN sắp xếp  
theo nơ-ron của nó theo ba chiều ............................................................28  
Hình 2-7 Kiến trúc mô hình CNN dùng trong phân loại văn bản...........................30  
Hình 2-8 Kiến trúc của mô hình BERT .................................................................33  
Hình 2-9 Mô hình đại diện đầu vào của BERT .....................................................34  
Hình 2-10 Mô hình huấn luyện phân loại đa nhãn sử dụng mô hình Bert................35  
Hình 3-1 Mô hình xây dựng kho ngữ liệu. .............................................................38  
Hình 3-2 Biểu đồ kết quả thực nghiệm phân loại binary của 3 mô hình. .................48  
Hình 3-3 Biểu đồ kết quả thực nghiệm phân loại đa nhãn của 3 mô hình................54  
 
1
MỞ ĐẦU  
Ngày nay công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, hầu như đã xâm nhập  
toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu áp  
dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin vào cuộc sống ngày càng cao để giải quyết  
những vấn đề phức tạp như y tế, giáo dục, pháp luật.  
r
Với  
tin tràn  
của mạng Internet,  
Những hỏi đáp của người  
ngắn gọn, súc tích, chính  
đáp tự động ra đời  
r
nhu  
r
cầu  
trên  
hằng  
dùng  
xác  
đáp  
r
trao  
mọi  
ngày  
dưới  
nhất  
ứng  
r
đổi  
phương  
con  
r
và  
r
tìm  
r
r
r
r
r
r
kiếm  
tiện truyền  
người phải  
dạng truy vấn  
những gì mà họ  
nhu cầu này.  
Hệ thống  
việc tìm kiếm  
cách chính xác.  
ngôn ngữ tự nhiên  
Retrieval) và rút trích  
Phân loại câu hỏi là pha đầu tiên trong kiến trúc chung của một hệ thống hỏi  
r
thông  
r
tin  
r
của  
r
con  
r
người  
r
ngày  
r
càng  
r
cao,  
r
thông  
r
r
r
ngập  
r
r
r
r
r
thông,  
r
đặc  
r
biệt  
r
là sự  
r
r
phát  
r
triển  
r
rộng  
r
rãi  
r
r
r
r
r
r
r
r
xử  
r
lý  
r
một  
được  
mong  
r
lượng  
tìm kiếm  
muốn. Vì  
r
thông  
và  
vậy,  
r
tin  
r
khổng  
về một  
hệ  
r
lồ.  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
sẽ  
r
r
r
r
r
trả  
r
r
r
cách  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
thống  
r
hỏi  
r
r
r
r
r
r
nhằm  
r
r
r
r
r
r
hỏi-đáp  
tự động  
Hệ  
r
tự  
r
động  
r
là  
r
hệ  
r
thống  
một tập  
động  
r
được  
r
xây  
các  
quan  
tìm kiếm  
r
dựng  
tài liệu  
đến lĩnh  
thông  
r
nhằm  
r
mục  
r
đích thực  
r
r
r
r
r
hiện  
một  
r
r
r
r
r
r
câu  
r
trả  
r
lời  
r
từ  
r
r
r
lớn  
r
r
r
r
cho  
r
câu  
vực  
tin  
r
hỏi  
lớn  
r
đầu  
r
vào  
lý  
r
r
r
r
r
thống  
r
hỏi-đáp  
r
tự  
r
r
liên  
r
r
r
3
r
r
r
r
là xử  
r
r
r
r
r
r
(Natural  
thông  
r
Language  
r
Processing),  
r
r
r
r
r
(Information  
r
r
r
r
r
tin (Information  
r
r
Extraction).  
đáp, có nhiệm vụ tìm ra các thông tin cần thiết làm đầu vào cho quá trình xử lý của  
các pha sau (trích chọn tài liệu, trích xuất câu trả lời, v.v). Vì vậy phân loại câu hỏi  
là một bước quan trọng trong hệ thống hỏi đáp, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động  
của toàn bộ hệ thống. Nếu phân loại câu hỏi không tốt thì sẽ không thể tìm ra được  
câu trả lời.  
Văn  
nước,  
phương ban  
quan trọng trong  
r
bản  
trung  
hành  
r
pháp  
r
quy  
r
là  
r
văn  
cơ quan  
thẩm quyền  
r
bản  
quyền  
lập  
r
có  
r
các  
lực  
quy  
r
quy  
nhà  
của  
r
phạm  
r
pháp  
r
luật  
r
do  
r
các  
r
cơ  
r
quan quản  
r
r
r
r
lý  
r
nhà  
r
r
ở
r
r
ương,  
r
r
r
r
r
r
nước,  
r
cơ  
r
quan  
r
quản  
r
lý  
r
nhà  
r
nước  
r
ở
địa  
r
r
r
r
theo  
r
r
r
r
r
r
mình.  
r
Văn bản  
r
r
pháp  
r
quy  
r
có vai  
r
trò  
r
r
r
r
cuộc sống. Muốn hỏi đáp một vấn đề pháp luật cần phải tra cứu  
r
tìm kiếm rất nhiều tài liệu văn bản pháp luật liên quan. Vì vậy, để giúp cho việc rút  
ngắn thời gian tìm kiếm thì cần phân loại câu hỏi pháp quy theo các lĩnh vực pháp  
luật.  
 
2
Phân loại đa nhãn là phân loại văn bản, trong đó mỗi văn bản có thể thuộc  
một số chủ đề được xác định trước cùng một lúc. Một câu hỏi pháp quy thông  
thường có thể sẽ liên quan đến nhiều loại lĩnh vực pháp luật. Việc phân loại câu hỏi  
pháp quy tiếng Việt đặt ra là mỗi câu hỏi có thể thuộc một số lĩnh vực. Vì vậy, bài  
toán phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt là bài toán phân loại đa nhãn câu hỏi  
pháp quy tiếng Việt.  
Các phương pháp phổ biến hiện nay có rất nhiều phương pháp và cách tiếp  
cận để giải quyết bài toán phân loại câu hỏi. Gần đây có nhiều phương pháp học sâu  
sử dụng mạng nơ-ron phổ biến như mạng nơ-ron nhân chập (Convolutional Neural  
Network – CNN), mạng nơ-ron hồi quy (Recurrent Neural Network –RNN) cùng  
các biến thể của nó như LSTM (Long-Short Term Memory) và mô hình BERT.  
Mạng nơ-ron có ưu điểm là có thể tự động trích chọn được những thông tin  
cần thiết và học được ngữ nghĩa từ dữ liệu. Thông thường các mô hình truyền thống  
phải trích chọn đặc trưng một cách thủ công, mạng nơ-ron sẽ thực hiện tự động  
chọn ra các đặc trưng cần thiết. Điều này giúp việc chọn được các đặc trưng tốt hơn  
và đưa ra được kết quả tốt hơn.  
Mô hình BERT bản chất là một dạng mô hình huấn luyện trước, tận dụng các  
nguồn dữ liệu không có nhãn để học, sau đó dùng vào các bài toán khác.  
r
Mô  
việc tìm  
hiểu được)  
r
hình  
r
r
r
BERT  
đại diện  
thông qua  
r
đã  
r
thành  
r
công  
trong  
cảnh của  
r
trong  
r
việc  
r
cải  
r
thiện  
r
những  
r
công  
r
việc  
r
gần  
r
đây  
r
trong  
thể  
r
r
r
ra  
r
r
của  
r
từ  
r
r
không  
r
gian  
r
số  
r
(không  
r
gian  
r
mà  
r
máy  
r
tính  
r
có  
r
r
r
r
r
ngữ  
r
r
r
nó.  
Với mục đích đưa những tiến bộ công nghệ vào phục vụ cho cuộc sống,  
chúng tôi xin chọn đề tài nghiên cứu “Phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt sử  
dụng mô hình BERT”. Phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt là bài toán phân loại  
câu hỏi về pháp luật thành các lĩnh vực pháp lý, được phân vào một số loại ví dụ  
như: Công chứng, Dân sự, Hôn nhan và gia đình, Quốc tịch Việt Nam, v.v.  
Luận văn thực hiện mô hình hóa bài toán dưới dạng một bài toán phân lớp đa  
nhãn. Trong đó mỗi câu hỏi có thể thuộc một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau. Luận  
văn thực hiện phân loại câu hỏi sử dụng cách tiếp cận học máy giám sát, cụ thể là sử  
3
dụng một số mô hình truyền thống SVM và mô hình BERT[18, 6]. Kết quả thực  
nghiệm tốt nhất đạt được khi sử dụng mô hình BERT là 89,47% (độ đo F1).  
Nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương như sau:  
Chƣơng 1: Giới thiệu bài toán phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt :  
Trong chương này, luận văn giới thiệu bài toán phân loại câu hỏi, đặc điểm  
dữ liệu câu hỏi pháp quy, một số nghiên cứu liên quan, các phương pháp  
phân loại câu hỏi và kết luận chương.  
Chƣơng 2: Phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt sử dụng mô hình  
BERT : Trong chương 2, luận văn giới thiệu về bái toán phân loại đa nhãn  
câu hỏi tiếng Việt, giới thiệu một số mô hình học sâu, giới thiệu phương  
pháp BERT và trình bày mô hình phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt sử  
dụng mô hình BERT.  
Chƣơng 3: Thực nghiệm đánh giá : Chương này, luận văn trình bày tổng quan  
về kho ngữ liệu, cách thu thập, tiền xử lý, xây dựng tập nhãn và thống kê kho  
ngữ liệu; sử dụng các thư viện có sẵn cài đặt hệ thống phân loại câu hỏi và áp  
dụng phương pháp được đề xuất ở Chương 2; thực hiện huấn luyện hệ thống với  
bộ dữ liệu và tập nhãn đã xây dựng và tthống kê và đánh giá kết quả thực  
nghiệm.  
4
CHƢƠNG 1: BÀI TOÁN PHÂN LOẠI CÂU HỎI  
Trong chương 1, luận văn trình bày cái nhìn tổng quan về bài toán phân loại  
câu hỏi, bao gồm giới thiệu cơ bản về bài toán phân loại câu hỏi; đặc điểm của dữ  
liệu câu hỏi pháp quy; các nghiên cứu liên quan về phân loại câu hỏi; các phương  
pháp phân loại câu hỏi.  
1.1 Giới thiệu bài toán phân loại câu hỏi  
Hệ thống hỏi đáp là một hệ thống đóng vai trò phổ biến trong việc tìm kiếm  
thông tin nhanh chóng, chính xác và hiệu quả.  
r
Nhiệm  
muốn của người  
nhiên. Một trong các yếu tố đóng vai trò quan trọng trong  
r
vụ  
r
của  
r
nó  
r
là  
r
đưa  
r
ra  
r
câu  
r
trả lời  
r
r
đầy  
thể  
r
đủ  
r
và  
r
chính  
r
xác  
r
ứng  
r
với  
r
yêu  
r
cầu  
r
mong  
r
r
r
r
dùng  
r
và  
r
câu  
r
trả  
r
lời  
r
được  
r
r
hiện  
r
bằng  
r
ngôn  
r
ngữ  
r
tự  
r
hệ thống hỏi đáp là phân loại câu hỏi.  
Trước khi tìm ra được câu trả lời cho câu hỏi, hệ thống cần phải xác định  
được câu hỏi đó thuộc loại nào, hỏi về cái gì.  
Ví dụ:  
Câu hỏi “Ai là chủ tích nước Việt Nam năm 2010” là câu hỏi về  
“người” hay câu “Việt Nam có bao nhiêu người mặc bệnh covid-19”  
là câu hỏi về số lượng.  
Câu hỏi “ uy   nh của pháp luật v  ngh a vụ tài   n của v  ch ng  ối  
với người thứ ba khi ly hôn?” là câu hỏi về “hôn nhân và gia  ình”.  
Xác  
kiếm cần  
lớn các ứng  
các ứng viên  
kiểm tra toàn bộ các  
Vì vậy, phân loại câu  
r
định  
tìm  
viên  
là tên  
đoạn  
hỏi đóng  
r
được  
r
loại  
trả lời,  
trả lời.  
các  
văn  
r
câu  
nó  
Như  
thực  
bản  
vai trò  
r
hỏi  
r
không  
có thể  
dụ trên,  
“người”  
đâu  
r
chỉ  
r
có  
r
thể  
r
thu  
r
gọn  
r
phạm  
r
vi  
r
được  
r
không gian  
r
r
r
r
r
r
tìm  
r
r
r
r
câu  
r
r
r
r
còn  
r
r
r
tìm  
r
kiếm  
r
chính  
r
xác  
r
câu  
có  
r
trả  
r
lời  
r
trong  
quan  
r
một  
tâm  
tập  
r
r
r
r
r
r
r
r
ở
r
ví  
r
r
r
hệ thống  
r
r
trả  
r
lời  
r
r
thể  
r
chỉ  
r
r
đến  
r
r
r
r
r
r
r
r
thể  
r
là  
r
r
r
hay  
r
“số  
r
lư ng”  
r
mà  
trả  
r
không  
r
cần  
r
phải  
r
r
r
r
r
r
r
r
để  
r
tìm  
r
ở
r
có thể  
r
r
chứa  
r
câu  
r
r
lời hoặc  
r
r
không.  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
quan  
r
trọng  
r
trong  
r
hệ  
r
thống  
r
trả  
r
lời  
r
tự động.  
r
Bài toán phân loại câu hỏi thực chất có thể xem là bài toán phân lớp. Phân  
loại câu hỏi là việc gán các nhãn phân loại cho các câu hỏi dựa trên mức độ tương  
tự của câu hỏi đó so với các câu hỏi đã được gán nhãn trong tập huấn luyện. Nó ánh  
xạ một câu hỏi vào một chủ đề đã biết trong một tập hữu hạn các chủ đề dựa trên  
   
5
các đặc trưng của câu hỏi. Phân loại câu hỏi[1] nhận đầu vào là câu hỏi dưới dạng  
ngôn ngữ tự nhiên của người dùng, đưa ra nhãn phân loại cho câu hỏi đó, xem câu  
hỏi đó thuộc loại nào. Việc phân loại câu hỏi thường được thể hiện bằng cách gán  
cho câu hỏi một nhãn có sẵn theo tập nhãn cho trước.  
Bài toán phân loại câu hỏi có thể được mô tả như sau:  
Input:  
- Cho trước một các câu hỏi q.  
- Tập các chủ đề (phân loại) được định nghĩa                     .  
 
 
 
Tìm câu hỏi q thuộc chủ đề nào?  
Ví dụ: đối với tiếng Việt: “Cơ sở Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn  
Thông ở Hà Nội nằm ở đâu?” và tập nhãn đã có.  
Output:  
- Nhãn   của câu hỏi     
 
 
Ví dụ: Địa điểm  
Có rất nhiều kỹ thuật học máy và khái phá dữ liệu đã được áp dụng vào bài  
toán phân loại câu hỏi như: cây quyết định (decision tree)[19], Naïve Bayes[20], K-  
láng giềng gần nhất (KNN)[21], mạng nơron (neural network)(như mạng thần kinh  
tích chập Convolutional Neural Networks (CNNs)[7], mạng nơ-ron hồi quy  
Recurrent Neural Network (RNN)[17], v.v), v.v.  
1.2 Đặc điểm dữ liệu câu hỏi pháp quy  
Văn bản pháp quy là văn bản có các quy phạm pháp luật do các cơ quan quản  
lý nhà nước, ở trung ương, cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước ở  
địa phương ban hành theo thẩm quyền lập quy của mình. Văn bản pháp quy có vai trò  
quan trọng trong cuộc sống. Muốn hỏi đáp một vấn đề pháp luật cần phải tra cứu tìm  
kiếm rất nhiều tài liệu văn bản pháp luật liên quan. Vì vậy, để giúp cho việc rút ngắn  
thời gian tìm kiếm thì cần phân loại câu hỏi pháp quy theo các lĩnh vực pháp luật.  
Câu hỏi pháp quy có đặc điểm ý hỏi có thể liên quan đến một hoặc nhiều điều  
luật. Thông thường, câu hỏi chỉ phân theo một nhãn nhất định, nhưng với câu hỏi  
 
6
pháp quy thì một câu hỏi có thể có một hoặc nhiều hơn một nhãn do ý hỏi của câu hỏi  
có liên quan đến nhiều điều luật khác nhau mà không thể ghép chung làm một.  
Ví dụ: câu hỏi “Chi phí cho tổ chức công chứng với giao d ch v  quy n sử  
dụng  ất gắn li n với nhà ở?” có ý hỏi thuộc lĩnh vực “công chứng” và lĩnh vực  
“phí và lệ phí”.  
1.3 Một số nghiên cứu liên quan  
1.3.1 Một số nghiên cứu cho phân loại đa nhãn  
Nhóm nghiên cứu David Vilar, Maria Jose Castro và Emilio Sanchis[17] đã  
có nghiên cứu về phân loại đa nhãn sử dụng mô hình đa thức. Áp dụng các quy tắc  
phân loại đa nhãn, nhóm nghiên cứu đã xem xét nhiệm vụ phân loại văn bản. Trong  
đó, mỗi văn bản được gán một vectơ W chiều ứng với số lượng từ, trong đó W là  
kích thước của từ vựng. Biểu diễn này được gọi là túi của từ (bag-of-words). Nhóm  
nghiên cứu đã sử dụng phân loại Naive Bayes trong phần khởi tạo mô hình sự kiện  
đa thức của nó.  
Trong mô hình, họ đưa ra giả định rằng xác suất của sự kiện xảy ra (sự xuất  
hiện của từ) độc lập với ngữ cảnh và vị trí của từ trong văn bản mà nó xuất hiện, và  
do đó cách biểu diễn được chọn là phù hợp. Họ sử dụng phương pháp tiếp cận theo  
xác suất tích lũy sau bằng cách làm việc với xác suất thực sau để xử lý ngưỡng theo  
cách chính xác. Một khả năng để tính toán xác suất này theo cách có thể thống kê  
được số là đưa ra một phép toán tối đa trong quy tắc Bayes và sau đó đưa ra một hàm  
logarit và một hàm lũy thừa cho phép tính toán các xác suất một cách đáng tin cậy.  
Họ thực nghiệm đo hiệu quả các phương pháp theo thức tự tăng dần độ khó  
của nhiệm vụ. Trước tiên, họ xem xét vấn đề phân loại đơn nhãn đơn giản, tức là  
chỉ xem xét các mẫu có một nhãn lớp duy nhất. Họ nhận được tỷ lệ lỗi là 8,56%  
trong trường hợp này. Nếu họ đưa các mẫu không có nhãn vào để ước tính tốt hơn  
các thông số làm mịn, họ không nhận được bất kỳ sự cải thiện nào về tỷ lệ lỗi.  
Ngoài tỷ lệ lỗi, trong bài toán phân loại đa nhãn họ cũng tính đến độ đo  
precision/recall.  
   
7
Kết quả về phân loại văn bản với kho ngữ liệu Reuters-21578 của họ cho  
thấy cách tiếp cận xác suất tích lũy sau thực hiện tốt hơn các bộ phân loại nhị phân  
được sử dụng rộng rãi nhất.  
1.3.2 Một số nghiên cứu cho phân loại câu hỏi tiếng Việt  
Hiện nay đã có rất nhiều nghiên cứu phân loại câu hỏi tiếng Việt và đạt được  
một số thành tựu nhất định. Điển hình là một số các nghiên cứu về học sâu đạt kết  
quả khá tốt như:  
Phân loại câu hỏi không thành thật[8] được xuất bản năm 2019 sử dụng kiến  
trúc mạng nơ-ron hồi quy Recurrent Neural Network (RNN) như một Long Short-  
Term Memory (LSTM) và một Gated Recurrent Units (GRU). Họ sử dụng LSTM  
trên một vec-tơ từ được đào tạo để nắm bắt thông tin ngữ nghĩa và cú pháp. Việc sử  
dụng một vec-tơ từ được đào tạo trước cung cấp một số lợi thế. Một từ tương tự  
được nhóm lại với nhau. LSTM được sử dụng để tránh vấn đề vanishing gradient  
(gradient có giá trị nhỏ dần theo từng lớp khi thực hiện lan truyển ngược).  
Họ đã thực hiện nghiên cứu của mình bằng 7 bước: Bước 1: Khai thác dữ  
liệu. Bước 2: Mô tả dữ liệu. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng cách vẽ đồ thị và  
sử dụng pandas. Bước 3: Tiền xử lý dữ liệu. Bước 4: Word embedding. Họ thực  
hiện embedding layer như một sự kết hợp hai word embedding được đào tạo trước,  
GloVe, paragram, cùng với mạng nơ-ron. GloVe[9] là mô hình song tuyến tính với  
các mục tiêu bình phương nhỏ nhất có trọng số. Đào tạo mô hình này dựa trên quan  
sát đơn giản tỷ lệ của xác suất xảy ra đồng từ-từ. Paragram[10] là mô hình thành  
phần. Paragram mã hóa các chuỗi từ tùy ý thành một vectơ như Glove. Bước 5: Thử  
nghiệm với mô hình học giám sát. Họ thử nghiệm 3 thuật toán học giám sát:  
Multinomial Naïve Bayes, K-nearest, Logistic Regression. Bước 6: Thiết kế mạng  
nơ-ron. Họ sử dụng RNN để làm mô hình. RNN là một loại mạng thần kinh trong  
đó đầu ra từ bước trước được đưa vào làm đầu vào cho bước hiện tại. Mạng lưới nơ-  
ron của họ bao gồm lớp đầu vào, 5 lớp ẩn và 1 lớp đầu ra. Lớp đầu vào bao gồm 65  
nút. Lớp đầu vào này được kết nối với lớp nhúng. Lớp nhúng này được sử dụng để  
tạo đại diện vec-tơ của các từ. Trọng lượng của lớp nhúng được khởi tạo bằng cách  
 
8
ghép các phần nhúng của bên thứ ba (GloVe và paragram). Bước 7: Đào tạo mạng  
nơ-ron. Kết quả tốt nhất sử dụng mô hình RNN của họ là 69,13% với độ đo là F1.  
Nghiên cứu này cho kết quả thực nghiệm không quá tốt.  
Bên cạnh đó cũng có nghiên cứu về phân loại câu hỏi chuyên sâu sử dụng  
mạng thần kinh tích chập Convolutional Neural Networks (CNNs)[11] được xuất  
bản năm 2017. Ý tưởng chính của họ trong nghiên cứu này là mở rộng dựa trên  
công việc hiện có để tạo ra một CNN hai lớp đó là phân loại câu hỏi thành các danh  
mục chính và phụ của chúng. Vì đối số là các kết quả rất nhanh, thay vì tạo một  
mạng duy nhất có thể phân loại một ví dụ thành 50 lớp, họ tạo mạng riêng cho mỗi  
lớp chính và điều này giúp cung cấp cho lớp thứ cấp CNN một số thông tin trước về  
danh mục chính. Kiến trúc được đề xuất cho mạng nơ-ron tích chập bao gồm một  
lớp convolutional để học tìm hiểu một số bộ lọc để đạt được chiều cao nhất định.  
Trong mạng này, họ lấy từ bigram đến pent-gram. Điều này giúp họ tìm hiểu  
ý định của câu hỏi ở một mức độ lớn hơn. Tiếp theo, họ đã thêm một lớp gộp k-max  
(Kalchbrenner et al., 2014)[12]. Họ đã sử dụng nhóm tối đa 2 cho mạng của mình  
để tích lũy thêm thông tin từ các bộ lọc tích chập. Sau đó, họ hợp nhất tất cả các đầu  
ra gộp chung này để tạo thành một lớp được kết nối đầy đủ. Các CNN có xu hướng  
hoạt động tốt hơn khi các lớp được kết nối đầy đủ hơn được thêm vào cuối trước khi  
lớp softmax đầu ra [13, 14]. Do đó, họ thêm hai lớp với các nút ẩn N và N / 2 với  
các tiếp tuyến hyperbol là các hàm kích hoạt của chúng. Dropout 0,5 đã được sử  
dụng trong hai lớp này để tránh quá mức trong khi đào tạo. Họ đang sử dụng hai  
tầng CNN để phân loại các câu hỏi ở các cấp độ khác nhau - chính và phụ. Các câu  
hỏi được phân loại thành các loại chính của chúng theo CNN cấp 1 được chuyển  
đến CNN intier 2 thích hợp để xác định danh mục phụ của chúng. Nghiên cứu của  
họ cho kết quả tốt nhất với độ đo Accuracy là 90.43% với câu hỏi chính và 76,52%  
với câu hỏi phụ. Nhận thấy rằng kết quả nghiên cứu của họ khá tốt.  
Hiện nay có ít nghiên cứu về phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt.  
1.4 Các phƣơng pháp phân loại câu hỏi  
Hầu hết các cách tiếp cận bài toán phân loại câu hỏi thuộc 2 loại : tiếp cận  
dựa trên luật và tiếp cận dựa trên học máy.  
Tiếp  
r
cận  
r
dựa  
r
trên  
r
luật[3]  
r
là  
r
cách  
r
tiếp  
r
cận  
r
được  
r
cho  
r
là  
r
đơn  
r
giản  
r
nhất  
r
để  
r
phân  
r
loại  
r
câu  
r
hỏi. Trong  
r
r
cách  
r
tiếp  
r
cận này,  
r
r
việc  
r
phân  
r
loại  
r
câu hỏi  
r
r
dựa  
r
vào  
r
các luật  
r
r
ngữ  
r
pháp  
r
viết  
 
9
r
tay. Các luật này có được là do nghiên cứu và đề xuất từ các chuyên gia.  
tiếp cận này, một loạt các biểu thức chính quy (regular expression) được  
khớp với câu hỏi từ đó quyết định phân loại của câu hỏi và loại câu trả lời.  
Tiếp cận dựa trên học máy[3] là cách tiếp cận được sử dụng phổ  
giải quyết bài toán phân loại câu hỏi. Cách tiếp cận thay thế  
chuyên bằng một tập lớn các câu hỏi được gán dữ liệu  
tập này, bộ phân lớp sẽ được huấn luyện có  
r
Đối  
r
với  
r
cách  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
tạo  
r
ra để  
r
r
so  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
biến  
r
rộng rãi  
r
r
r
r
để  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
này  
r
sẽ  
r
r
r
các  
r
kiến  
Sử  
r
thức  
r
môn  
một  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
nhãn  
r
(tập  
r
r
r
mẫu).  
r
r
dụng  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
giám sát.  
r
Cách tiếp cận dựa trên học máy chia làm hai nhóm là nhóm các phương pháp  
học máy truyền thống và nhóm các phương pháp sử dụng mạng nơ-ron (Neural  
NetWork). Nhóm các phương pháp học máy truyền thống thường được sử dụng như  
là tính xác suất Naïve Bayes, Maximum Entropy, cây quyết định (decision Tree),  
lân cận (Nearest-Neighbors), Máy Vector hỗ trợ (Support Vector machine - SVM),  
K-nearest neighbors (KNN), v.v. Cách tiếp cận bằng học máy đã giải quyết được  
các hạn chế trong cách tiếp cận dựa trên luật.  
1.4.1 Phương pháp học máy truyền thống  
Với các phương pháp học máy truyền thống như SVM, KNN, cây quyết  
định, v.v thì quá trình phân loại dữ liệu văn bản (document, câu) thường gồm hai  
giai đoạn sau:  
Giai  
r
đoạn  
huấn luyện  
và áp dụng  
phân loại.  
r
huẩn  
gồm  
các  
r
luyện:  
các câu  
thuật toán  
r
Giai  
hỏi  
huấn  
r
đoạn  
đã được  
luyện  
r
huấn  
gán  
sẽ  
r
luyện  
nhãn,  
cho  
r
nhận  
sau  
ra đầu  
r
đầu  
khi  
ra  
r
vào  
xử  
là  
r
là  
lý  
một  
r
tập  
r
ngữ  
ngữ  
r
liệu  
liệu  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
tập  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
mô hình  
r
r
Ngữ liệu  
huấn luyện  
Tiền xử lý  
Vector hóa  
Trích chọn  
đặc trưng  
Mô hình  
phân loại  
Thuật toán  
huấn luyện  
Hình 1-1 Mô hình giai đoạn huấn luyện [2]  
 
10  
Giai  
r
đoạn  
người dùng  
dụng mô hình  
r
phân  
r
lớp:  
r
Giai  
r
đoạn  
r
phân  
tự nhiên,  
nhãn phân  
r
lớp  
r
nhận  
sau quá  
loại của  
r
đầu  
trình  
câu  
r
vào  
r
là  
tiền  
hỏi đầu  
r
câu  
r
hỏi  
lý và  
vào.  
r
của  
r
r
r
dưới  
r
dạng  
r
ngôn  
r
ngữ  
ra  
r
r
r
r
r
r
r
xử  
r
r
r
áp  
r
r
r
r
phân  
r
loại sẽ cho  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
Vector hóa  
Tiền xử lý  
Câu hỏi  
Trích chọn  
đặc trưng  
Sử dụng mô  
hình phân loại  
Nhãn cho  
câu hỏi  
Hình 1-2 Mô hình giai đoạn phân lớp [2]  
Mô hình SVM[3]  
Giải thuật máy vector hỗ trợ SVM ra đời từ lý thuyết học thống kê do Vapnik  
và Chervonenkis xây dựng năm 1995[4]. Đây là một giải thuật phân lớp phổ biến,  
nhiều trong lĩnh vực khai phá dữ liệu và nhận  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
có  
r
hiệu  
r
quả  
r
cao  
r
và  
r
đã  
r
được  
r
áp  
r
dụng  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
dạng.  
Giải thuật SVM thuộc nhóm giải thuật học máy có giám sát và được sử dụng  
trong các bài toán phân lớp và hồi quy, chủ yếu là bài toán phân lớp. SVM là một  
thuật toán phân loại nhị phân nhận dữ liệu đầu vào và phân loại chúng thành hai loại  
khác nhau.  
r
Với  
r
một  
r
bộ  
r
các  
r
dữ  
r
liệu  
mô  
r
huấn  
r
luyện  
r
thuộc  
r
hai  
r
loại  
r
cho  
r
trước,  
r
thuật  
r
toán  
hai  
r
huấn  
thể loại  
Phương  
cấu trúc SRM  
phương pháp phân  
r
luyện  
r
SVM  
r
xây  
r
dựng  
r
một  
r
r
hình SVM  
r
r
để  
r
phân loại  
r
r
các  
r
dữ  
r
liệu khác  
r
r
vào  
r
r
r
r
đó.  
r
pháp  
r
này  
r
thực  
r
hiện  
Risk  
sát không  
r
phân  
r
lớp  
r
dựa  
r
trên  
r
nguyên  
được  
vi. Các hàm công cụ của SVM  
r
lý  
r
Cực  
r
tiểu  
r
hóa  
r
rủi  
r
ro  
r
r
có  
r
r
r
r
(Structural  
lớp giám  
r
r
Minimization)  
r
[5],  
r
r
xem  
r
là  
r
một  
r
trong  
r
các  
r
r
r
r
r
r
r
tham số tinh  
r
r
r
cho phép tạo không gian chuyển đổi để xây dựng mặt phẳng phân lớp để phân chia  
các lớp ra thành các phần riêng biệt.  
SVM  
chúng thuộc  
dữ liệu là một  
r
cho  
r
trước  
các lớp  
điểm,  
r
một  
cho  
phương  
r
tập  
trước,  
pháp  
r
dữ  
r
liệu  
r
huấn  
r
luyện  
diễn trong  
tìm ra một  
r
bao  
r
gồm  
r
dữ  
r
liệu  
r
cùng  
r
với nhãn  
r
r
r
của  
r
r
r
r
r
r
r
được  
r
biểu  
r
r
r
không  
r
gian  
r
vector,  
r
trong  
r
đó  
mỗi  
r
r
r
r
r
r
r
r
này  
r
r
r
r
siêu  
r
phẳng quyết  
r
r
định  
r
tốt nhất  
r
11  
r
r
r
r
r
có  
(+)  
biên  
khoảng  
r
thể  
và  
hay  
cách  
càng chính  
Trong  
trong  
cần phải  
mới nhiều chiều  
mới.  
r
chia  
lớp (-).  
lề) của  
biên  
r
các  
Chất  
điểm  
càng  
xác.  
r
điểm  
lượng  
dữ  
lớn  
r
trên  
r
không  
của siêu  
liệu gần  
thì mặt  
r
gian  
r
này  
r
thành  
được  
mỗi  
r
hai  
quyết  
lớp  
r
lớp  
định  
đến  
r
riêng  
bởi  
mặt  
r
biệt  
khoảng  
phẳng này.  
r
tương  
cách  
Khi  
r
ứng  
r
là  
(gọi  
đó,  
r
lớp  
r
r
r
r
r
r
r
r
phẳng  
r
r
r
r
r
r
r
r
là  
r
r
r
r
r
r
r
r
nhất  
r
của  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
phẳng  
r
quyết  
r
định  
r
càng  
r
tốt,  
r
đồng  
r
thời  
r
việc phân  
r
loại  
r
r
r
r
nhiều  
r
trường  
gian  
các điểm  
hơn, để việc  
r
hợp,  
ban  
dữ  
phân  
r
không  
đầu được  
liệu trong  
tách chúng  
r
thể  
r
phân  
dùng  
không  
trở  
r
chia  
để mô  
gian  
nên dễ  
r
các  
tả  
ban  
dàng  
r
lớp  
một  
đầu  
hơn  
r
dữ  
vấn  
vào  
r
liệu  
đề.  
một  
trong  
r
một  
r
cách  
vậy,  
r
r
tuyến  
nhiều  
r
r
r
r
tính  
r
r
một  
r
không  
xạ  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
Vì  
r
khi  
r
r
r
ánh  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
không  
không  
r
gian  
gian  
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
r
Mục  
r
đích  
r
của  
r
phương  
r
pháp  
r
SVM  
r
là  
r
tìm  
r
được  
r
khoảng  
r
cách  
r
biên  
r
lớn  
r
nhất,  
r
điều  
r
này  
r
được mình  
r
r
họa  
r
như sau:  
r
Hình 1-3 Siêu phẳng phân chia dữ liệu học thành 2 lớp (+) và (-) với khoảng cách biên  
là lớn nhất. Các biên gần nhất (điểm đƣợc khoanh tròn) là các Support Vector[5]  
Đây là mô hình mạnh và chính xác nhất trong một số các mô hình nổi tiếng  
về phân lớp dữ liệu.  
1.4.2 Phương pháp sử dụng mạng nơ-ron  
Với phương pháp sử dụng mạng nơ-ron như LSTM, CNN, RNN, v.v thì quá  
trình phân loại dữ liệu văn bản cũng gồm hai giai đoạn:  
Giai  
huấn  
và đưa vào mạng nơ-ron  
r
đoạn  
r
huẩn  
r
luyện:  
r
Giai  
hỏi  
sẽ cho  
r
đoạn  
r
huấn  
r
luyện  
gán nhãn,  
ra là một  
r
nhận  
sau  
mô hình  
r
đầu  
khi biểu diễn dữ liệu  
phân loại.  
r
vào  
r
là  
r
tập  
r
ngữ liệu  
r
r
r
luyện  
r
gồm  
r
các câu  
r
r
r
đã  
r
được  
r
r
r
r
r
r
r
ra đầu  
r
r
r
r
r
r
r
r
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 74 trang yennguyen 23960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Phân loại câu hỏi pháp quy tiếng Việt sử dụng mô hình Bert", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_phan_loai_cau_hoi_phap_quy_tieng_viet_su_dung_mo_hi.pdf