Luận văn Từ trường của vi cấu trúc từ với biến thiên từ trường lớn

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
BÙI VIẾT CHUNG  
TỪ TRƯỜNG CỦA VI CẤU TRÚC TỪ VỚI  
BIẾN THIÊN TỪ TRƯỜNG LỚN  
̃ ̀  
̣ ̣ ̣ ̣  
LUÂN VĂN THAC SI VꢀT LIÊU VA LINH KIÊN NANO  
HÀ NỘI - 2016  
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ  
BÙI VIẾT CHUNG  
TỪ TRƯỜNG CỦA VI CẤU TRÚC TỪ VỚI  
BIẾN THIÊN TỪ TRƯỜNG LỚN  
Chuyên ngành:Vật liệu và linh kiện nano  
Mã số: Chuyên nghành đào tạo thí điểm  
̃ ̀  
̣ ̣ ̣ ̣  
LUÂN VĂN THAC SI VꢀT LIÊU VA LINH KIÊN NANO  
Cán bộ hướng dẫn: PGS. TS. Phạm Đức Thắng  
HÀ NỘI - 2016  
LỜI CẢM ƠN  
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc bởi sự hướng  
dẫn tận tình của PGS. TS. Phạm Đức Thắng. Thầy đã tạo điều kiện cho mọi hoạt  
động nghiên cứu của tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Tôi xin được chân  
thành cảm ơn ThS. Lê Việt Cường đã giúp đỡ và có các trao đổi nhiệt tình, xin  
được cảm ơn CN. Nguyễn Doãn Thành, TS. Bùi Đình Tú và các đồng nghiệp  
công tác tại Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ nano, trường Đại học Công nghệ  
(Đại học Quốc gia Hà Nội) đã động viên và hỗ trợ tôi trong thời gian qua.  
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tại  
trường THCS Nhân Chính, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội nơi  
tôi công tác.  
̣ ̣  
Luận văn được hoan thanh vơi sư hỗ trợ môt phần từ đề tài 103.02-  
̀
̀
́
2015.80 của Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia.  
Sau cùng, tôi muốn gửi tình cảm yêu thương nhất và sự biết ơn tới bố, mẹ,  
cũng như tất cả những người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, động  
viên để tôi vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nội dung nghiên cứu trong bản  
luận văn này.  
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2016  
Bùi Viết Chung  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi đã thực hiện.  
Các kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực, các tài liệu tham khảo được  
trích dẫn đầy đủ.  
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2016  
Học viên  
Bùi Viết Chung  
DANH MỤC HÌNH ẢNH  
MỤC LỤC  
1
MỞ ĐẦU  
Nam châm và từ trường là những thành phần quan trọng trong nhiều thiết  
bị kỹ thuật. Ngày nay, nam châm được sử dụng trong nhiều động cơ ô tô, các  
đầu đọc và ghi thông tin trong lĩnh vực máy tính. Với sự phát triển của công  
nghệ nano, nhu cầu về các nam châm mạnh và tạo ra được từ trường không đồng  
nhất (biến thiên) lớn trong không gian nhỏ hơn ngày càng nhiều.  
Cho đến nay việc phân tách các đối tượng từ tính và phi từ tính cũng như  
các truyền động sử dụng lực từ thông thường sử dụng từ trường được tạo ra bởi  
các cuộn solenoid, các nam châm điện và các nam châm siêu dẫn. Gần đây, một  
số nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc sử dụng các nam châm vĩnh cửu  
để tạo ra từ trường lớn thay thế các nam châm truyền thống. Từ trường lớn này  
được tạo ra phù hợp với đặc điểm dị hướng từ mạnh của các vật liệu được sử  
dụng để làm nam châm vĩnh cửu, thường là hợp chất của vật liệu đất hiếm và  
kim loại chuyển tiếp. Tuy nhiên, từ trường đồng nhất không phải là thuận lợi vì  
các phân tách sử dụng từ tính đòi hỏi nguồn từ trường có cường độ lớn và biến  
thiên mạnh. Bởi vì lực từ tác dụng lên các đối tượng tỉ lệ thuận với độ cảm từ  
của đối tượng, cảm ứng từ và độ biến thiên của cảm ứng từ. Cụ thể, một phần tử  
(đối tượng) từ tính khi được đặt trong một môi trường từ không đồng nhất sẽ  
chịu tác dụng của lực từ cho bởi công thức sau:  
푉∆  
휇0  
⃗
⃗⃗ ⃗⃗  
퐵. ∇퐵  
퐹 =  
푚
với V là thể tích của phần tử từ, ∆χ là sự chênh lệch độ thẩm từ của phần tử từ  
(χp) và môi trường (χm), B là độ lớn của từ trường.  
Tùy thuộc vào giá trị của ∆χ mà phần tử từ sẽ chịu tác dụng của lực hút  
hay lực đẩy do từ trường tác động. Nếu ∆χ > 0 thì các phần tử sẽ chịu tác động  
của lực hút và bị hút về những vị trí có lực hút mạnh nhất (thường là các cạnh  
của nam châm), trong khi các phần tử sẽ bị đẩy ra xa khỏi nguồn từ trường tới  
những vị trí có lực đẩy nhỏ nhất nếu ∆χ < 0.  
Ngoài ra, khi ở trong dung dịch và được nhỏ lên các cấu trúc từ, các phần  
tử còn chịu tác động của các lực khác như: trọng lực (Fg), lực đẩy Archimedes  
(FA), lực kéo của dòng chất lỏng… vì thế các phần tử thường có xu hướng di  
chuyển (magnetophoresis) tới những vị trí ổn định nơi mà tổng các lực tác động  
lên phần tử có xu hướng cân bằng. Việc tính toán các lực tác dụng lên phần tử từ  
cho phép chúng ta xác định và tiên đoán được cách mà phần tử từ di chuyển và  
3
   
vị trí ổn định của chúng khi được đặt vào môi trường từ. Do đó, để tăng được  
hiệu quả của phân tách từ tính, bên cạnh các yêu cầu khác thì giá trị của tích  
⃗⃗ ⃗⃗  
퐵∇퐵 cao cũng được yêu cầu.  
Theo dự đoán với các kỹ thuật chế tạo các hệ thống vi cơ điện tử và các vi  
nam châm ngày nay, các cấu trúc từ vĩnh cửu có thể tích hợp được trong các hệ  
thống phân tích vi lưu, do đó mở rộng các khả năng ứng dụng của nam châm.  
Một thực tế rõ ràng là các hệ thống phân tách từ này khá phức tạp, đắt tiền và  
cần nhiều công đoạn cũng như thời gian để chế tạo. Do đó, các phương pháp  
thiết kế lý thuyết được sử dụng để thu được mô hình hệ thống tối ưu trước khi  
chế tạo. Công việc đầu tiên và quan trọng nhất của quá trình thiết kế lý thuyết  
này là mô phỏng từ trường. Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu lý  
thuyết và mô phỏng từ trường của một số cấu trúc từ kích thước micro-nano, có  
tính từ cứng và dị hướng từ lớn theo một trục. Tại viền của các nam châm, từ  
trường (B) rất mạnh và biến thiên (B) lớn được tạo ra, với tích giá trị (BB) có  
thể đạt 103 – 105 T2/m.  
4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN  
1.1. Từ trường và các đại lượng cơ bản  
Từ trường là môi trường vật chất đặc biệt bao quanh điện tích chuyển  
động và tác dụng lực lên điện tích chuyển động trong nó. Từ trường có thể sinh  
ra bằng hai cách: sử dụng các cuộn dây có dòng điện chạy trong dây dẫn hoặc  
nam châm vĩnh cửu. Trong các nam châm vĩnh cửu không có các dòng điện theo  
nghĩa thông thường mà chỉ có chuyển động quỹ đạo và chuyển động spin của  
điện tử. Đó cũng chính là nguồn gốc cơ bản của hiện tượng từ trong vật liệu.  
⃗⃗  
Cảm ứng từ 퐵 là đại lượng véctơ, đặc trưng cho từ trường về phương diện  
tác dụng lực.  
⃗⃗  
Cường độ từ trường hay còn gọi là véctơ cường độ từ trường 퐻 đặc trưng  
cho độ mạnh yếu của từ trường. Trong chân không hoặc không khí, cường độ từ  
trường H có chiều giống như chiều của cảm ứng từ B. Chúng liên kết với nhau  
bởi phương trình [1, 2]:  
⃗⃗  
⃗⃗  
(1. 1)  
퐵 = 휇0퐻  
với µ0 = 4×10-7 N.A-2 là độ từ thẩm của chân không.  
⃗⃗⃗  
Trong các vật liệu từ, mỗi vật liệu từ có một từ trường nội tại (từ độ) 푀  
⃗⃗  
nên khi được đặt trong từ trường ngoài 퐻, cảm ứng từ B sẽ bao gồm cả thành  
⃗⃗  
⃗⃗⃗  
phần của từ trường ngoài 퐻, và từ độ 푀 bên trong vật liệu:  
⃗⃗ ⃗⃗ ⃗⃗⃗  
퐵 = 휇0(퐻 + 푀)  
(1. 2)  
Độ cảm từ thiết lập mối quan hệ giữa M và H theo phương trình sau:  
⃗⃗⃗  
⃗⃗  
(1. 3)  
(1. 4)  
푀 = 퐻  
Từ các phương trình trên, chúng ta có thể thấy:  
⃗⃗  
⃗⃗ ⃗⃗⃗  
⃗⃗  
⃗⃗  
⃗⃗  
퐵 = 휇0(퐻 + 푀) = 휇0(1 + )퐻 = 휇0휇푟퐻 = 휇퐻  
với µr = 휇/휇0 là độ từ thẩm tương đối của vật liệu so với chân không.  
1.2. Các phương trình cơ bản của từ trường tĩnh  
Như chúng ta đã biết điện trường và từ trường đồng thời tồn tại trong  
không gian tạo thành một trường thống nhất gọi là trường điện từ. Vì vậy để mô  
tả về trường điện từ, Maxwell đã nêu ra một hệ thống các phương trình sau [20]:  
5
   
- Dạng vi phân:  
(1. 5)  
(1. 6)  
⃗⃗  
∇ ∙ 퐷 = 휌  
⃗⃗  
∇ ∙ 퐵 = 0  
(1. 7)  
(1. 8)  
⃗⃗  
휕퐵  
⃗⃗  
∇ × 퐸 = −  
휕푡  
⃗⃗  
휕퐷  
⃗⃗  
⃗
∇ × 퐻 = 퐽 +  
휕푡  
- Dạng tích phân:  
(1. 9)  
⃗⃗ ⃗  
∮ 퐷푑푆 = ∫ 휌푑푉  
푆
푉
(1. 10)  
⃗⃗ ⃗  
∮ 퐵푑푆 = 0  
푆
(1. 11)  
(1. 12)  
푑
⃗
⃗⃗  
⃗⃗ ⃗  
∮ 퐸 푑푙 = − 퐵푑푆  
푑푡  
퐶
푑
∮ 퐻푑푙 = ∫ 퐽푑푆 + ∫ 퐷푑푆  
푑푡  
⃗
⃗⃗  
⃗⃗ ⃗  
퐶
푆
푆
(1. 13)  
(1. 14)  
⃗⃗  
⃗⃗  
퐷 = 휀0휀퐸  
⃗⃗  
⃗⃗  
퐵 = 휇0휇퐻  
⃗⃗  
trong đó: 퐸 là véc tơ cường độ điện trường, có đơn vị (V/m)  
⃗⃗  
퐻 là véctơ cường độ từ trường, có đơn vị (A/m)  
2
⃗⃗  
퐷 là độ điện cảm, có đơn vị (C/m )  
 là mật độ điện tích, có đơn vị (C/m3)  
⃗⃗  
퐵 véctơ cảm ứng từ, có đơn vị (T)  
6
⃗
d푆 véctơ vi phân diện tích có hướng vuông góc với mặt S có đơn vị  
(m2)  
dV vi phân thể tích V được bao bọc bởi diện tích S, có đơn vị (m3)  
⃗
d푙 véctơ vi phân của đường cong tiếp tuyến với đường cong (C)  
bao quanh diện tích S, có đơn vị (m)  
, µ là hằng số điện môi và từ thẩm của môi trường  
Hệ các phương trình Maxwell viết như trên chỉ được áp dụng trong những  
điều kiện sau:  
- Các vật thể đứng yên hoặc chuyển động chậm trong điện từ trường.  
- Các đại lượng 휀, 휇 đặc trưng cho tính chất điện từ của môi trường không  
phụ thuộc thời gian và không phụ thuộc các véctơ đặc trưng cho điện từ trường.  
Như vậy, hệ phương trình Maxwell cho phép ta xác định được trạng thái  
của điện từ trường một cách đơn giản. Khi áp dụng hệ phương trình Maxwell  
⃗
cho từ trường tĩnh, ta phải cho các đạo hàm theo thời gian bằng 0 và cho 퐽 = 0  
(không có mật độ dòng) do đó các phương trình Maxwell sẽ đơn giản đi nhiều.  
Từ những điều kiện trên, ta có thể viết lại hệ phương trình Maxwell cho trường  
tĩnh từ gồm các phương trình sau đây:  
(1. 15)  
(1. 16)  
(1. 17)  
(1. 18)  
⃗⃗  
∇ ∙ 퐷 = 휌  
⃗⃗  
∇ × 퐸 = 0  
⃗⃗  
∇ ∙ 퐵 = 0  
⃗⃗  
∇ × 퐻 = 0  
1.3. Phân loại một số vật liệu từ  
Từ trường được định nghĩa bằng các đường sức từ, khi từ trường tương  
tác với bất kỳ loại vật liệu nào đó, số đường sức từ có thể tăng hoặc giảm.  
Nguồn từ trường theo đó có thể được khuếch đại hay giảm đi trong vật liệu như  
là kết quả của sự tương tác. Các chất khác nhau tương tác với từ trường ở mức  
độ khác nhau. Để biểu diễn mức độ tương tác của vật liệu với từ trường ngoài,  
người ta dựa vào công thức 1.3. Thông qua công thức này người ta đưa ra khái  
niệm hệ số từ hóa là đại lượng đặc trưng cho mức độ bị từ hóa của vật liệu.  
Dựa vào giá trị của hệ số này, các vật liệu từ thường được chia làm ba nhóm,  
7
 
bao gồm vật liệu nghịch từ, thuận từ và sắt từ. Nhóm vật liệu sắt từ có thể được  
coi là lớp con của thuận từ nhưng vẫn được tách riêng bởi có những tính chất từ  
quan trọng [1, 2, 20].  
1.3.1. Vật liệu nghịch từ  
Như ta đã biết, hiệu ứng nghịch từ có ở mọi nguyên tử đặt trong từ trường  
ngoài. Do đó tính chất nghịch từ có ở mọi chất. Tuy nhiên, tính chất nghịch từ sẽ  
thể hiện rõ chủ yếu ở những chất mà khi chưa đặt trong từ trường ngoài, tổng  
mô-men từ nguyên tử (hay phân tử) của chúng bằng 0, nghĩa là mọi mô-men từ  
quỹ đạo và mô-men từ spin hoàn toàn triệt tiêu lẫn nhau. Đó là những chất khí  
hiếm (He, Ne, Ar, Kr, Ze, Rn) hoặc các ion (Na+, Cl-) có các lớp điện tử giống  
như khí hiếm. Tính chất nghịch từ cũng thể hiện ở cả một số chất có mô-men từ  
nguyên tử chiếm ưu thế so với hiệu ứng thuận từ như Cu, Ag, Sb, Bi. Ngoài ra,  
các chất như Pb, Zn, Si, Ge, S, CO2, H2O, thủy tinh và đa số các hợp chất hữu cơ  
cũng là các chất nghịch từ. Khi được đặt trong từ trường ngoài, từ độ của các vật  
liệu này là rất yếu và ngược hướng với từ trường ngoài. Độ cảm từ có giá trị âm  
nằm trong khoảng từ -10-6 tới -10-4 và không thay đổi theo nhiệt độ.  
1.3.2. Vật liệu thuận từ  
Khác với chất nghịch từ, chất thuận từ khi bị từ hóa sẽ sinh ra một từ  
trường phụ hướng cùng chiều với từ trường ngoài.  
Tính chất này thể hiện ở những chất mà khi chưa có từ trường ngoài, mô-  
men từ nguyên tử (hay phân tử) của chúng khác 0. Đó là những chất như các  
kim loại kiềm (Na, K,…), Al, NO, Pt, O2, N2, các nguyên tố đất hiếm,…  
Khi chưa đặt khối vật liệu thuận từ vào trong từ trường ngoài, theo lý  
thuyết Langevin, do chuyển động nhiệt, các mô-men từ nguyên tử sắp xếp hoàn  
toàn hỗn loạn nên tổng mô-men từ của cả khối thuận từ bằng 0. Khi đặt khối vật  
liệu thuận từ vào trong từ trường ngoài, các mô-men từ nguyên tử có xu hướng  
sắp xếp theo hướng của từ trường ngoài. Tuy nhiên chuyển động nhiệt lại có xu  
hướng làm cho chúng sắp xếp hỗn loạn. Dưới tác dụng đồng thời của cả hai  
nguyên nhân trên, các mô-men từ nguyên tử sẽ sắp xếp có thứ tự hơn theo  
hướng của từ trường ngoài, tạo ra một mô-men từ tổng trong khối vật liệu thuận  
từ, mô-men từ tổng này sẽ biến mất khi từ trường ngoài được loại bỏ. Độ cảm từ  
của vật liệu thuận từ có giá trị trong khoảng từ 10-4 tới 10-3 và phụ thuộc vào  
nhiệt độ, độ cảm từ lớn hơn ở nhiệt độ thấp và giảm dần khi nhiệt độ tăng do  
dao động nhiệt của các mô-men từ.  
8
   
1.3.3. Vật liệu sắt từ  
Nghịch từ và thuận từ là những vật liệu từ yếu. Sắt từ là một loại vật liệu  
từ mạnh. Độ cảm từ của vật liệu sắt từ có thể lớn hơn độ cảm từ cùa vật liệu  
nghịch từ thuận từ hàng trăm triệu lần. Độ cảm từ của vật liệu sắt từ có giá trị  
trong khoảng từ 102 tới 105 [3, 4, 6, 9-11, 14-16, 20-26].  
Các nguyên tố hóa học có tính chất sắt từ là Fe, Ni, Co, Gd, một số  
nguyên tố đất hiếm ở nhiệt độ rất thấp,… Ngoài ra còn một số lượng lớn chất sắt  
từ là hợp kim của các nguyên tố sắt từ với nhau, hợp kim của các nguyên tố sắt  
từ với các nguyên tố không sắt từ (như Fe-Ni, Fe-Ni-Al,…) và một số hợp kim  
của các nguyên tố không sắt từ với nhau (như Cu-Mn-Al),…  
Giống vật liệu thuận từ ở chỗ có mô-men từ tĩnh, nhưng các mô-men từ  
này liên kết chặt chẽ với nhau. Các mô-men từ nguyên tử liên kết và sắp xếp  
song song và cùng chiều với nhau qua một vùng không gian gọi là miền Weiss  
(domain). Nhiệt độ tăng trong các chất sắt từ cũng làm giảm mô-men từ tổng  
của vật liệu bởi dao động nhiệt của các mô-men từ riêng rẽ. Các chất sắt từ mặc  
dù có từ độ tự phát nhưng mô-men từ tổng cộng vẫn có thể bằng 0 vì mô-men từ  
tổng của các miền Weiss liên kết ngẫu nhiên với nhau và không có định hướng  
ưu tiên. Khi vật liệu được đặt trong từ trường ngoài với cường độ tăng dần, các  
mô-men từ nguyên tử sẽ được sắp xếp cùng hướng với từ trường ngoài cho tới  
khi đạt trạng thái bão hòa từ (MS). Khi vật liệu đạt được trạng thái bão hòa từ,  
nếu từ trường ngoài được loại bỏ thì vật liệu sắt từ vẫn tồn tại một mô-men từ  
tổng tương ứng với định hướng ưu tiên của các mô-men thành phần sau khi  
được từ hóa, gọi là từ độ dư (MR). Lúc này, nếu từ trường ngoài được đưa vào  
theo hướng ngược lại và tăng dần cường độ để các mô-men từ của vật liệu đạt  
trạng thái bão hòa một lần nữa thì từ độ của vật liệu là một hàm của từ trường  
ngoài và có đường về khác đường đi. Đồ thị sự phụ thuộc của từ độ vật liệu sắt  
từ vào từ trường ngoài gọi là đường cong từ trễ. Đường cong từ trễ là một tính  
chất quan trọng của vật liệu sắt từ và làm cho vật liệu sắt từ có nhiều tiềm năng  
ứng dụng mà một trong những ứng dụng cơ bản và điển hình nhất của chúng là  
dùng để chế tạo nam châm.  
1.4. Đường cong từ trễ  
Từ trễ (magnetic hysteresis) là hiện tượng bất thuận nghịch giữa quá trình  
từ hóa và đảo từ ở các vật liệu sắt từ do khả năng giữ lại từ tính của các vật liệu  
sắt từ. Hiện tượng từ trễ được biểu hiện thông qua đường cong từ trễ (từ độ - từ  
trường M(H), hay cảm ứng từ - từ trường B(H)), được mô tả như sau: sau khi từ  
9
 
hóa một vật sắt từ đến một từ trường bất kỳ, nếu ta giảm dần từ trường và quay  
lại theo chiều ngược, thì nó không quay trở về đường cong từ hóa ban đầu nữa,  
mà đi theo đường khác, và nếu ta đảo từ theo một chu trình kín (thay đổi từ  
trường ngoài theo hướng ngược lại), thì ta sẽ có một đường cong kín gọi là  
đường cong từ trễ hay chu trình từ trễ [1, 15] (hình 1.1). Tính chất từ trễ là một  
tính chất nội tại đặc trưng của các vật liệu sắt từ, và hiện tượng trễ biểu hiện khả  
năng từ tính của của các chất sắt từ [20].  
Hình 1. 1. Đường cong từ trễ M(H) của vật liệu sắt từ với lực kháng từ HC, độ từ dư  
MR, từ độ bão hòa MS.  
Trên đường cong từ trễ, ta sẽ xác định được các đại lượng đặc trưng của  
chất sắt từ như:  
- Từ độ bão hòa (MS): là từ độ đạt được trong trạng thái bão hòa từ, có  
nghĩa là tất cả các mômen từ của chất sắt từ song song với nhau.  
- Từ dư (MR): là giá trị từ độ khi từ trường ngoài được khử về 0.  
- Lực kháng từ (HC): là từ trường ngoài cần thiết để khử hoàn toàn mô  
men từ của vật liệu, hay là giá trị để từ độ đổi chiều. Đôi khi lực kháng từ còn  
được gọi là trường đảo từ.  
Nguyên nhân cơ bản của hiện tượng từ trễ là sự tương tác giữa các mô  
men từ có tác dụng ngăn cản chúng quay theo từ trường ngoài. Có nhiều cơ chế  
khác nhau tạo nên hiện tượng từ trễ cũng như các dạng đường cong từ trễ khác  
nhau: cơ chế quay các mô men từ, cơ chế hãm dịch chuyển vách đô men, cơ chế  
hãm sự phát triển của mầm đảo từ.  
10  
 
Việc phân tích đường cong từ trễ của các vật liệu sắt từ dẫn tới khái niệm  
vật liệu từ cứng và vật liệu từ mềm (hình 1.2).  
Hình 1. 2. Đường cong từ trễ của vật liệu từ mềm và vật liệu từ cứng.  
Vật liệu từ mềm là vật liệu dễ từ hóa và dễ khử từ bởi từ trường ngoài có  
cường độ tương đối thấp. Khi từ trường ngoài được loại bỏ thì vật liệu từ mềm  
gần như trở về trạng thái cân bằng và không có từ dư sau khi đã được từ hóa tới  
trạng thái bão hòa. Lực kháng từ Hc thường nhỏ hơn 100Oe (1Oe = 1G = 0.0796  
kA/m), chu trinh trê hẹp, tư đô số tư hoa rất  
̃
̣
bao hoa, độ từ thẩm (µ 103) và hê  
̣
̀
̃
̀
̀
́
̀
cao. Vật liệu từ mềm thường được dùng làm vật liệu hoạt động trong trường  
ngoài, ví dụ như lõi biến thế, lõi nam châm điện, các lõi dẫn từ, máy phát điện,  
role, sensơ từ, cuộn cảm, cuộn chắn hay màn chắn từ,...  
Vật liệu từ cứng là vật liệu sắt từ khó khử từ và khó từ hóa. Vật liệu từ  
cứng có nhiều đặc trưng từ học, tính chất từ phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, độ  
bền, độ chống ăn mòn,… Các đại lượng vật lý đặc trưng của vật liệu từ cứng là:  
- Lực kháng từ Hc lớn nằm trong khoảng 102 ÷ 103 kA/m. Nguồn gốc của  
lực kháng từ lớn trong các vật liệu từ cứng chủ yếu liên quan đến đến dị hướng  
từ tinh thể lớn trong vật liệu. Các vật liệu từ cứng thường có cấu trúc tinh thể có  
tính đối xứng kém hơn so với các vật liệu từ mềm và chúng có dị hướng từ tinh  
thể rất lớn [1-4, 6, 9-11, 14-16, 21-26].  
- Cảm ứng từ dư hay độ từ dư, thường ký hiệu là BR hay MR, là cảm ứng  
từ còn dư sau khi ngắt từ trường. Vật liệu từ cứng có cảm ứng từ dư MR đáng kể.  
- Tích năng lượng từ cực đại ((BH)max) là đại lượng đặc trưng cho độ mạnh  
yếu của vật liệu từ, được đặc trưng bởi năng lượng từ cực đại có thể tồn trữ  
trong một đơn vị thể tích vật liệu từ. Đại lượng này có đơn vị là đơn vị của mật  
độ năng lượng, J/m3. Tích năng lượng từ cực đại được xác định trên đường cong  
từ trễ thuộc về góc phần tư thứ hai trên đường cong từ trễ, là một điểm sao cho  
11  
 
giá trị của tích cảm ứng từ B và từ trường H đạt cực đại. Để có tích năng lượng  
từ cao, vật liệu cần có lực kháng từ lớn và cảm ứng từ dư cao.  
Bảng 1.1 trình bày một số tính chất điển hình của các vật liệu từ cúng phổ biến  
nhất hiện nay [21, 25, 26]. Trong số các vật liệu từ cứng thì vật liệu NdFeB có  
cấu trúc tinh thể kiểu tứ giác với lực kháng từ lớn (hơn 10kOe) và từ độ bão hòa  
cao (tới 1.62T) nên là lạo nam châm vĩnh cửu mạnh nhất hiện nay với khả năng  
cho tích năng lượng từ lớn, nó được sử dụng rộng rãi trong các nghành công  
nghiệp máy móc, thiết bị truyền thông, hóa học, y học, các lĩnh vực công nghệ  
cao như hàng không vũ trụ, hàng không, quân sự…hơn nữa, chúng còn được sử  
dụng trong các nghành công ngiệp mới nổi như nghành công nghiệp năng lượng  
mới của năng lượng gió. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cho thấy việc giảm  
kích thước nam châm NdFeB không làm thay đổi tính chất từ của chúng cho  
thấy nam châm này có nhiều khả năng tích hợp với các thiết bị và vi hệ thống.  
Bảng 1. 1. Nhiệt độ Curie TC, từ trường dị hướng HA, từ độ bão hòa MS, mật độ khối   
và khả năng chống ăn mòn của các hợp chất kim loại chuyển tiếp-đất hiếm điển hình,  
FePt (L10), CoPt (L10) so với các vật liệu cổ điển BaFe12O19, α-Fe [22].  
Vật liệu  
MS  
(T)  
HA (BH)max, th TC  
Khả năng  
chống ăn mòn  
(kJ/m3)  
514  
220  
333  
472  
407  
200  
-
(K)  
(g/cm3)  
(T)  
Nd2Fe14B  
SmCo5  
1.61  
7.6  
585  
7.6  
8.6  
Kém  
Kém  
Kém  
Kém  
Tốt  
1.05 40.0  
1.30 6.4  
1000  
1173  
749  
Sm2Co17  
Sm2Fe17N3  
FePt-L10  
CoPt-L10  
α-Fe  
8.7  
1.54 21.0  
1.43 11.6  
7.7  
750  
15.1  
15.2  
7.9  
1.00  
2.16  
0.48  
4.9  
-
840  
Tốt  
1043  
742  
Kém  
Tốt  
BaFe12O19  
1.8  
-
5.3  
1.5. Mục tiêu của luận văn  
Chúng ta thấy rằng từ tính là một thuộc tính cơ bản và quan trọng của vật  
liệu. Về cơ bản, dù nhiều hay ít thì mọi vật liệu đều biểu hiện tính chất từ. Các  
vật liệu từ ngày nay được ứng dụng nhiều trong khoa học kỹ thuật và cuộc sống.  
Trong tất cả các ứng dụng, các vật liệu từ được sử dụng đều có một hình dạng,  
kích thước và tính chất từ nhất định phù hợp với mục tiêu ứng dụng. Tất cả các  
thông số liên quan đều hướng tới việc tạo ra một không gian từ trường như  
12  
 
mong muốn. Vì vậy trước khi chế tạo, người ta thường tiến hành mô phỏng để  
có thể thu được vật liệu từ với hình dạng và tính chất hợp lý.  
Một trong những ứng dụng được quan tâm nghiên cứu hiện nay là khả  
năng bắt giữ các phần tử kích thước nhỏ dựa vào tính chất từ của chúng của các  
vật liệu, cấu trúc từ nhờ sự phân bố không đồng nhất của từ trường trên bề mặt  
các vật liệu từ và cấu trúc từ. Bằng việc sử dụng các vật liệu từ có kích thước,  
hình dạng, trật tự và tính chất từ phù hợp, chúng ta có thể tạo ra được không  
gian có cường độ từ trường lớn và sự biến thiên từ trường mạnh qua đó tác dụng  
được lực lớn lên các phần tử kích thước nhỏ.  
Mục tiêu chính của luận văn là:  
- Luận văn này được thực hiện với mục đích tính toán, khảo sát lý thuyết  
sự phân bố của từ trường trên một số nam châm từ cứng hình trụ NdFeB có cấu  
trúc micro bằng các mô hình lý thuyết và phần mềm mô phỏng.  
- Các giá trị thu được bằng tính toán và mô phỏng được so sánh với nhau,  
qua đó cho thấy mức độ chính xác và đáng tin cậy của các mô hình lý thuyết  
cũng như phần mềm mô phỏng từ trường.  
- Các kết quả tính toán và mô phỏng thu được sẽ làm cơ sở cho các  
nghiên, chế tạo các vi cấu trúc từ thực tế có từ trường và sự biến thiên từ trường  
phù hợp cho một số ứng dụng liên quan tới việc bắt giữ hạt từ và phần tử sinh  
học.  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang yennguyen 20360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Từ trường của vi cấu trúc từ với biến thiên từ trường lớn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_tu_truong_cua_vi_cau_truc_tu_voi_bien_thien_tu_truo.pdf