Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu tương quan giữa thành phần và sự phân bố của giun đất với chất lượng đất và phương thức canh tác ở một số vùng sản xuất rau của thành phố Hội An – Tỉnh Quảng Nam

1
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Công trình ñược hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Hồng Hà  
PHẠM THỊ QUỲNH THẢO  
Phản biện 1: ................................................................................  
Phản biện 2: ................................................................................  
NGHIÊN CỨU TƯƠNG QUAN GIỮA THÀNH PHẦN  
VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA GIUN ĐẤT VỚI CHẤT LƯỢNG ĐẤT VÀ  
PHƯƠNG THỨC CANH TÁC Ở MỘT SỐ VÙNG SẢN XUẤT RAU  
CỦA THÀNH PHỐ HỘI AN – TỈNH QUẢNG NAM  
Luận văn sẽ ñược bảo vệ tại Hội ñồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ Khoa học họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày …  
tháng …… năm 2011  
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC  
Mã số: 60.42.60  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
-
-
Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
Đà Nẵng - Năm 2011  
3
4
MỞ ĐẦU  
1. LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI  
Công trình ñược hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Cùng với sự phát triển của các hoạt ñộng nông nghiệp, môi  
trường ñất ñang ngày càng xấu ñi do nhiều yếu tố tác ñộng như phân  
bón hóa học, thuốc trừ sâu, các loại chất thải … Trước tình hình ñó,  
nhằm phát triển một nền nông nghiệp bền vững ñồng thời bảo vệ tài  
nguyên ñất là hết sức cần thiết, ñòi hỏi chúng ta cần phải ñánh giá  
ñược hiện trạng ñất nông nghiệp ñang sử dụng hiện nay.  
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Hồng Hà  
Một trong những phương pháp ñánh giá môi trường ñất là sử  
dụng giun ñất làm sinh vật chỉ thị. Vì những vùng ñất có nhiều giun  
xuất hiện thường là những vùng màu mỡ, ñất có nhiều chất hữu cơ và  
môi trường ñất ít bị ô nhiễm [7]. Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng  
giun ñất là sinh vật chỉ thị ñể ñánh giá chất lượng môi trường ñất còn  
khá mới mẻ và chưa phổ biến, chưa ñánh giá sự tương quan giữa  
thành phần trong môi trường ñất với mức ñộ ña dạng thành phần loài,  
ñặc ñiểm phân bố, sinh khối của giun ñất [4], [11], [28], [33].  
Phản biện 1: ...................................................................................  
Phản biện 2: ...................................................................................  
Hội An không chỉ ñược biết ñến là di sản văn hóa thế giới mà  
còn ñược biết ñến với các vùng sản xuất rau chuyên cung cấp cho các  
vùng lân cận. Nhưng rau là sản phẩm dễ bị hư hỏng do sâu hại, vi  
khuẩn… Do ñó, nông dân có xu hướng sử dụng phân bón hóa học,  
thuốc trừ sâu làm ảnh hưởng ñến chất lượng ñất, làm thay ñổi các chỉ  
tiêu lý hóa cũng như ảnh hưởng ñến số lượng, mật ñộ và sinh khối  
của giun ñất. Vì vậy việc nghiên cứu thành phần loài, ñặc ñiểm phân  
bố và mối tương quan giữa một số chỉ tiêu lý, hóa học của ñất với số  
lượng, mật ñộ và sinh khối của giun ñất trong khu vực này là việc  
làm cần thiết. Đó chính là lí do chúng tôi lựa chọn ñề tài: “Nghiên  
cứu tương quan giữa thành phần và sự phân bố của giun ñất với  
Luận văn sẽ ñược bảo vệ tại Hội ñồng chấm Luận văn tốt nghiệp  
thạc sĩ khoa học  
Họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày …… tháng 8 năm 2011  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
-
-
Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
5
6
chất lượng ñất và phương thức canh tác ở một số vùng sản xuất  
rau của thành phố Hội An – Tỉnh Quảng Nam”.  
2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI  
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN  
3.1. Ý nghĩa khoa học  
- Thông qua mối liên hệ giữa giun ñất và môi trường ñất làm  
cơ sở ñể sử dụng giun ñất làm chỉ thị cho môi trường ñất nông nghiệp  
ở thành phố Hội An.  
2.1. Mục tiêu tổng quát  
- Đánh giá hiện trạng môi trường ñất tại một số vùng sản  
xuất rau của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.  
- Đánh giá ña dạng thành phần loài, ñặc ñiểm phân bố, sinh  
khối của giun ñất và mối tương quan giữa một số chỉ tiêu lý, hóa học  
của ñất và phương thức canh tác với thành phần, phân bố và sự ña  
dạng của giun ñất tại một số vùng sản xuất rau của thành phố Hội An,  
tỉnh Quảng Nam.  
3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Đánh giá hiện trạng môi trường ñất và góp phần hoàn thiện  
khu hệ giun ñất ở thành phố Hội An –Tỉnh Quảng Nam.  
- Cung cấp các thông tin về mối liên hệ giữa giun ñất với  
thành phần tính chất của môi trường ñất và phương thức canh tác,  
làm cơ sở cho việc quản lý, sử dụng và phát triển bền vững tài  
nguyên ñất nông nghiệp ở thành phố Hội An – Tỉnh Quảng Nam.  
4. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN  
2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Đánh giá môi trường ñất ở một số vùng trồng rau thông qua  
một số chỉ tiêu lí hóa như: ñộ mùn tổng số, pH ñất, Nitơ tổng số và  
Photpho tổng số.  
Luận văn ngoài phần mở ñầu và kết luận còn có 3 chương:  
Chương 1. Tổng quan tài liệu.  
- Đánh giá mức ñộ ña dạng thành phần loài, ñặc ñiểm phân  
bố, sinh khối của giun ñất tại xã Cẩm Thanh, Cẩm Hà, Cẩm Châu tại  
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.  
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu.  
Chương 3. Kết quả và bàn luận.  
- Tìm ra mối liên hệ giữa giun ñất và tính chất ñất tại một số  
vùng sản xuất rau ở xã Cẩm Thanh, Cẩm Hà, Cẩm Châu của thành  
phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.  
- Tìm ra ảnh hưởng của phương thức canh tác ñến mức ñộ ña  
dạng thành phần loài và ñặc ñiểm phân bố của giun ñất tại xã Cẩm  
Thanh, Cẩm Hà, Cẩm Châu của thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.  
7
8
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
cấu trúc của các nhóm ñộng vật không xương sống trong ñất dẫn ñến  
làm giảm chất lượng và gây ô nhiễm môi trường ñất  
1.1. Tình hình sử dụng tài nguyên ñất trên thế giới và Việt Nam  
1.1.1. Tình hình sử dụng tài nguyên ñất trên thế giới  
Theo GS.TS Lê Doãn Diên, Giám ñốc Trung tâm Tư vấn ñầu  
tư nghiên cứu phát triển nông thôn, cho hay môi trường ñất và nước ở  
một số vùng sản xuất rau quả trọng ñiểm ở Việt Nam như ngoại  
thành TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang, Cần Thơ... ñã bị  
ô nhiễm bởi hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón hóa học và dư lượng  
kim loại nặng trong rau [31]. Tại TP. Hồ Chí Minh, các huyện Hóc  
Môn, huyện Bình Chánh, quận 12 ... cũng ñang trong tình trạng báo  
ñộng ñỏ về rau còn dư lượng kim loại nặng do hoá chất thải ra từ các  
khu công nghiệp. Hàm lượng kẽm trong mẫu rau muống ở Bình  
Chánh cao hơn mức cho phép 30 lần [32]. Tại các vùng chuyên sản  
xuất rau ở ngoại thành Hà Nội chỉ có 84/115 vùng tập trung ñủ ñiều  
kiện sản xuất rau an toàn với diện tích 3.325ha, số còn lại bị ô nhiễm  
hoặc có nguy cơ ô nhiễm [29]. Tại cù lao Chợ Mới, tỉnh An Giang,  
nơi nổi tiếng với nghề trồng rau màu, ô nhiễm ñất cũng ñang ñe doạ  
ñến cuộc sống của nông dân do tình trạng trồng rau màu quay 6-7  
vòng sản xuất/năm cùng với việc sử dụng liều lượng cao thuốc trừ  
sâu, thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học [28]. Tại Đà Nẵng,  
tổng diện tích ñất canh tác nông nghiệp ñang bị thu hẹp trong khi nhu  
cầu sử dụng phân bón ngày càng gia tăng làm cho ñất ngày càng ô  
nhiễm hơn [1].  
Trên thế giới, tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu  
ha ñất ñóng băng và 13.251 triệu ha ñất không phủ băng. Trong ñó,  
12% tổng diện tích là ñất canh tác, 24% là ñồng cỏ, 32% là ñất rừng  
và 32% là ñất cư trú, ñầm lầy. Diện tích ñất có khả năng canh tác là  
3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha. Tỷ trọng ñất  
ñang canh tác trên ñất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là  
70%; ở các nước ñang phát triển là 36% [33]. Tài nguyên ñất của thế  
giới hiện ñang bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc  
màu, nhiễm mặn, nhiễm phèn, biến ñổi khí hậu và ô nhiễm ñất do các  
hoạt ñộng của con người như sử dụng nhiều các loại nông dược, phân  
hoá học, sử dụng các loại chất thải trong hoạt ñộng của con người  
(rắn, lỏng, khí), hay việc khai thác khoáng sản kim loại thường tạo  
thành một khu vực khuếch tán, khiến cho hàm lượng nguyên tố này  
trong vùng ñất xung quanh cao hơn nhiều so với ñất thông thường, ñó  
cũng là nguyên nhân của ô nhiễm ñất. Và hiện nay khoảng 40% ñất  
nông nghiệp ñã bị suy thoái hoặc suy thoái mạnh, có tiềm năng nông  
nghiệp bị sa mạc hóa. [33]  
1.1.2. Tình hình sử dụng tài nguyên ñất tại Việt Nam  
Tại Việt Nam, một trong những nguyên nhân chính làm cho  
diện tích bình quân ñất nông nghiệp theo ñầu người thấp và giảm rất  
nhanh là người sản xuất ñã và ñang sử dụng phân bón hóa học, các  
loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các chất kích thích sinh trưởng.  
Ngoài các tác ñộng tích cực, những nhóm chất trên còn tác ñộng xấu  
ñến môi trường ñất, thay ñổi tính chất lí hóa của ñất, từ ñó biến ñổi  
1.2. Tình hình nghiên cứu giun ñất làm sinh vật chỉ thị và  
phương thức canh tác tác ñộng ñến thành phần và sự phân bố  
của sinh vật ñất  
1.2.1. Tình hình nghiên cứu giun ñất làm sinh vật chỉ thị  
trên thế giới  
Trên thế giới, một trong những nghiên cứu khoa học ñầu tiên  
9
10  
về giun ñất là của nhà tự nhiên học vĩ ñại Charles Darwin, cuốn sách  
“Sự tạo tầng mùn thực vật nhờ các hoạt ñộng của giun ñất”(1881).  
Tại Anh, thí nghiệm của Van Rhê (1977) cho thấy, vườn táo ñược thả  
giun ñất có bộ rễ ăn sâu và phát triển mạnh hơn, năng suất quả cao  
hơn vườn táo không thả giun ñất [13]. Sự gia tăng số lượng các loài  
giun ñất là một dấu hiệu tốt cho ñất canh tác, chỉ thị cho sự màu mỡ  
của ñất ñai, biến ñất hoang hóa, cằn cỗi thành ñất trồng trọt phì nhiêu  
[26]. Ở Tây Ban Nha, trên những bãi chăn thả quá mức, ñất trở nên  
chua, không có giun ñất, người ta ñã tiến hành cải tạo bằng cách bón  
vôi, vừa thả giun ñất. Chỉ sau 4 năm, cỏ ở vùng này ñã phát triển  
mạnh hơn so với vùng không có giun ñất [13]. Trong nghiên cứu của  
Surindra Suthar (1996) thực hiện trong vùng bán khô cằn ở miền Bắc  
Ấn Độ cho thấy: chỉ số ña dạng của giun ñất phụ thuộc nhiều vào  
hình thức quản lý ñất canh tác của con người và cho thấy mức ñộ tác  
ñộng của con người vào hệ sinh thái nghiên cứu [27].  
chuyển xuống các lớp ñất sâu hơn. Việc sử dụng hóa chất trừ sâu có  
tác ñộng rõ rệt tới hoạt ñộng sinh thái của giun ñất, ở nồng ñộ pha  
loãng 5 lần. Lúc này sau khi di chuyển xuống các lớp ñất sâu, giun  
ñất giảm các hoạt ñộng rõ rệt và giảm phản ứng khi chạm vào cơ thể  
chúng [14].  
Kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Minh (2004), về mối quan  
hệ giữa giun ñất và chất lượng ñất trồng chè tại huyện Đồng Hỷ, Thái  
Nguyên, cho thấy giun ñất tập trung chủ yếu ở tầng ñất mặt và giảm  
dần theo ñộ sâu của ñất. Sự thay ñổi về hàm lượng giun trong ñất phụ  
thuộc nhiều vào ñộ ẩm ñất, sự phân bố của giun ñất trên tầng ñất mặt  
vào mùa mưa cao hơn mùa khô. Đất trồng chè lâu năm có số lượng  
giun ít hơn nhiều so với ñất rừng, sự thay ñổi về số lượng giun tỉ lệ  
thuận với sự thay ñổi hàm lượng cacbon hữu cơ và tỉ lệ nghịch với  
dung lượng ñất [17]. Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và  
cs (2007), nghiên cứu về ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa của  
ñất ñến thành phần và phân bố của giun ñất tại vườn Quốc gia Tam  
Đảo cho kết quả như sau: hàm lượng mùn (OM), hàm lượng Nitơ  
tổng số (Nts) và hàm lượng Phốt pho (Pts) có tỷ lệ thuận với sự biến  
ñộng về số lượng loài, mật ñộ và sinh khối của giun ñất; trong khi hàm  
lượng Kali tổng số thì ngược lại với hàm lượng Pts [11].  
Những nghiên cứu về việc sử dụng sinh vật chỉ thị trên thế  
giới, trong ñó việc sử dụng giun ñất nhằm ñánh giá một cách chính  
xác hơn về thành phần, tính chất, cũng như những biến ñổi của môi  
trường ñất ñể từ ñó có những biện pháp khắc phục, phục hồi môi  
trường ñất ñể phục vụ cho con người càng ñược quan tâm chú ý hơn.  
1.2.2. Tình hình nghiên cứu giun ñất làm sinh vật chỉ thị ở  
Việt Nam  
Ngoài ra, sự biến ñộng của giun ñất còn là vật chỉ thị cho tính  
chất ñất. Giun quắn (Pheretima posthuma) chỉ thị cho ñất có thành  
phần cơ giới nhẹ hoặc ñất cát pha ở bờ sông, còn Pheretima elongata  
thường sống ở ñất có thành phần có giới nặng. Pheretima morrisi và  
Pheretima posthuma thường gặp trong ñất có phản ứng trung tính với  
giá trị pHKCl = 6,0 - 7,5, còn Ph. californica và Ph. triastriata thường  
gặp trong ñất có phản ứng chua hơn với pHKCl = 4,5 – 6,0. Như vậy  
căn cứ vào thành phần loài và số lượng giun ñất ta có thể xác ñịnh  
Việc sử dụng giun ñất ñể quan trắc, ñánh giá chất lượng môi  
trường ñất còn rất mới ở nước ta [13]. Một số ít công trình nghiên  
cứu về lĩnh vực này ñã ñược công bố như: nghiên cứu của Huỳnh Thị  
Kim Hối (2000) về khảo sát ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Wofatox và  
Bassa lên quần xã giun ñất, ñã nhận xét: Khi sử dụng nồng ñộ trung  
bình phổ dụng của Wofatox và Bassa pha loãng 10 lần, giun ñất di  
11  
12  
ñược tính chất các loại ñất, ñó là ñiều kiện cần ñể quyết ñịnh phương  
hướng khai thác và sử dụng một loại ñất [13].  
hưởng ñến số lượng loài giun ñất ñã gặp. Đất ñược bón phân sẽ kích  
thích sự phát triển của các loài giun ñất, còn ñất không ñược bón  
phân sẽ hạn chế việc phát triển của giun ñất [16].  
1.2.3 Tình hình nghiên cứu về tác ñộng của phương thức  
canh tác ñến thành phần và sự phân bố của sinh vật ñất.  
Tại các ñịa ñiểm chúng tôi tiến hành ñiều tra, chưa có công  
trình nghiên cứu nào về tương quan giữa thành phần và sự phân bố  
của giun ñất với chất lượng ñất và ảnh hưởng của phương thức canh  
tác ñến thành phần, phân bố và ñộ ña dạng của giun ñất. Vì vậy, việc  
nghiên cứu về khả năng sử dụng giun ñất ñể ñánh giá chất lượng ñất  
nông nghiệp và qua ñó có phương thức canh tác cho phù hợp với  
từng vùng là cần thiết.  
Phương thức canh tác ñất hiện nay ít nhiều có tác ñộng ñến  
ñất cũng như ñến thành phần và sự phân bố của sinh vật ñất, trong ñó  
giun ñất có thể bị tác ñộng bất lợi bởi các hoạt ñộng nông nghiệp  
khác nhau như trồng trọt ảnh hưởng mạnh ñến số lượng của giun ñất,  
các nhóm ñộng vật ñất hoặc phân bón xanh cũng kích thích số lượng  
giun ñất. Sự ảnh hưởng dài hạn của phân bón vô cơ có thể làm ñất bị  
chua hoặc các thay ñổi trong các môi trường ñất có thể ảnh hưởng bất  
lợi ñến số lượng của giun ñất.  
1.3. Đặc ñiểm tự nhiên và kinh tế - xã hội tại Hội An  
1.3.1. Vị trí ñịa lý  
Trên thế giới, theo nghiên cứu của J.C Buckerfield và cs. tại  
Australia, người ta tiến hành bảo tồn ñất canh tác, giữ lại cây trồng  
và giảm tác ñộng canh tác thì số lượng và mật ñộ giun ñất tăng.  
Trong quá trình này, có sự tương quan thuận giữa việc bón phân  
nitơ với số lượng giun ñất (r = 0,48) và sinh khối (r = 0,43) làm  
tăng chất lượng hữu cơ trong ñất [24]. Theo nghiên cứu của A.  
Hrynink (1955) cho thấy, cùng với một lượng phân N, P, K nhất  
ñịnh, khi ñất ñã ñược bón kèm với vôi, thì số lượng các nhóm ñộng  
vật ñất tăng hơn 30% [15].  
Thành phố Hội An nằm ở vùng hạ lưu ngã ba sông Thu Bồn  
thuộc vùng ñồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà  
Nẵng về phía Nam 28km. Đây là vị trí thuận lợi về giao thông ñường  
thủy – một yếu tố vô cùng quan trọng làm cho ñô thị - thương cảng  
Hội An hình thành và phát triển thịnh ñạt, vàng son một thời trong  
lịch sử. Hội An có 6.040 ha diện tích tự nhiên và dân số 121.716  
nhân khẩu với mật ñộ 1980,1 người/km2 [22].  
Tọa ñộ ñịa lý: 15o52’48” N, 108o20’7” E.  
Vị trí ñịa lý: Phía Đông giáp biển Đông.  
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Đặng Văn Minh về mối  
quan hệ giữa giun ñất và chất lượng ñất trồng chè tạo huyện Đồng  
Hỷ, Thái Nguyên, số lượng giun ñất giảm ñi theo thời gian canh tác  
chè lâu năm do hàm lượng hữu cơ giảm và dung trọng ñất tăng, làm  
cho ñất chặt, ñộ tơi xốp của ñất giảm. Việc sử dụng hoá chất quá liều  
sẽ ảnh hưởng ñến quần thể loài của giun ñất. Theo nghiên cứu của  
Huỳnh Thị Kim Hối, Nguyễn Đức Anh việc bón phân hữu cơ có ảnh  
Phía Tây giáp huyện Điện Bàn và Duy Xuyên.  
Phía Nam giáp huyện Duy Xuyên.  
Phía Bắc giáp huyện Điện Bàn.  
1.3.2. Đặc ñiểm kinh tế - xã hội  
Thành phố Hội An ñã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ phát  
triển ngành thủy sản như cho vay vốn có hỗ trợ lãi suất ñể ñóng mới  
tàu thuyền công suất lớn, tạo ñiều kiện thuận lợi hơn cho người nuôi  
13  
14  
thủy sản vay vốn ñầu tư nuôi tôm. Những cú hích ñó ñã góp phần  
làm chuyển biến mạnh mẽ với tổng sản phẩm nội ñịa (GDP) toàn  
ngành theo giá hiện hành tăng bình quân 5,9 %/năm.  
CHƯƠNG 2  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Trong nông nghiệp, sản xuất lúa từ 3 vụ bấp bênh ñã ñược  
nhân dân chuyển sang 2 vụ ăn chắc. Việc chuyển ñổi cơ cấu cây  
trồng, con vật bước ñầu cũng gặt hái nhiều thành công. Nhiều hộ gia  
ñình ñã cải tạo vườn tạp ñể trồng cau, hoa cây cảnh và các loại rau  
màu có giá trị kinh tế cao hơn. Hơn nữa, nhằm sắp xếp lại sản xuất,  
ổn ñịnh và mở rộng diện tích sản xuất rau an toàn và có chất lượng,  
Ủy ban nhân dân thị xã Hội An ñã quy hoạch sử dụng ñất sản xuất  
rau chuyên canh khu vực Trà Quế (Cẩm Hà) và Mỹ An (Cẩm Châu)  
trên một diện tích rộng lớn [22].  
Các loài giun ñất thu ñược tại một số vùng trồng rau của  
thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.  
2.2. Thời gian nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu ñược tiến hành từ tháng 10/2010 ñến tháng  
6/2011.  
2.3. Địa ñiểm nghiên cứu  
Đề tài nghiên cứu tại 3 ñịa ñiểm:  
1. Vùng sản xuất rau Trà Quế, xã Cẩm Hà, thành phố Hội An.  
2. Vùng sản xuất rau An Mỹ, xã Cẩm Châu, thành phố Hội An.  
3. Vùng sản xuất rau thôn 3, xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An.  
2.4. Phương pháp nghiên cứu  
Du lịch của Hội An thể hiện rõ thế mạnh vượt trội với hoạt  
ñộng thương mại, khách sạn, nhà hàng du lịch và dịch vụ trong giai  
ñoạn 2000 - 2010 ñã ñạt ñược những tiến bộ ñáng kể. Cơ sở hạ tầng  
ngành thương mại - dịch vụ phát triển mạnh cả số lượng và chất  
lượng. Việc ñầu tư trang thiết bị cũng như xây dựng mới các ñiểm  
kinh doanh, dịch vụ, củng cố và tăng cường mạng lưới chợ ñược phát  
triển rộng khắp.  
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực ñịa  
Thu mẫu giun ñất: theo phương pháp của Ghiliarov, 1976.  
Mẫu vật ñược thu trong ô tiêu chuẩn (kích thước 50 cm x 50 cm),  
ñược ñào theo ñộ sâu của phẩu diện ñất với các lớp dày 10 cm cho  
ñến khi không còn thu ñược mẫu giun ñất. Mẫu ñược bảo quản trong  
các túi vải có chứa ñất thu cùng mẫu giun ñất, và ñược ñưa về phân  
tích ở phòng thí nghiệm bộ môn Động vật không xương sống, khoa  
Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng [8].  
Tiến hành ñiều tra các loại rau trồng ở các khu vực nghiên  
cứu. Ngoài ra, phỏng vấn người nông dân trực tiếp sản xuất rau về  
cách làm ñất, việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu tại các khu vực  
nghiên cứu.  
Mức sáng tạo, hưởng thụ văn hoá và trình ñộ dân trí của  
nhân dân ñã ñược nâng cao một bước. Với những con ñường liên  
thôn liên xóm ñã ñược bê tông kiên cố, phẳng phiu. Mạng lưới  
trường học cũng phát triển rộng khắp, ñảm bảo cho tất cả con em  
ñều ñược ñến trường. Điện thắp sáng, kênh dẫn nước thuỷ lợi ñược  
ñưa ñến tận thôn xóm, phục vụ tốt các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất  
của nhân dân [22].  
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm  
- Xử lý mẫu theo theo tiêu chuẩn quốc tế của ñối tượng  
15  
16  
nghiên cứu: mẫu giun ñất ñược rửa bằng nước cho sạch ñất và vụn  
hữu cơ bám ngoài, sau ñó làm cho giun chết bằng dung dịch cồn 700.  
Khi giun ñã chết và cứng lại, chuyển mẫu sang ñịnh hình cố ñịnh và  
bảo quản ở trạng thái duỗi thẳng trong dung dịch cồn 700. Tất cả mẫu  
vật ñược lưu trữ ở phòng thí nghiệm bộ môn Động vật không xương  
sống, khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng.  
- Phân tích mẫu giun ñất.  
CHƯƠNG 3  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN  
3.1. Thành phần, số lượng, sinh khối và mật ñộ giun ñất  
3.1.1.Thành phần, số lượng giun ñất  
Đã phát hiện ñược 12 loài giun ñất thuộc 4 giống: Pontoscolex,  
Pheretima, Drawida, Gordiodrilus;  
4
họ: Glossoscolecidae,  
Megascolecidae, Moniligastridae và Ocnerodrilidae. Trong ñó, số  
lượng loài giun ñất cao nhất tại khu vực Cẩm Hà (12 loài), giảm tại ñất  
Cẩm Châu (7 loài) và thấp nhất ở Cẩm Thanh (4 loài). Trong ñó, có 3  
loài chiếm ưu thế là Gordiodrilus elegans Beddard, 1892; Pheretima  
modigliani Rosa, 1889; Pheretima posthuma Vaillant, 1869 xuất hiện  
tại tất cả các khu vực nghiên cứu trong cả 3 ñợt thu mẫu.  
+ Giun ñược ñịnh loại theo tài liệu chuyên ngành của Thái  
Trần Bái (1983), Phạm Thị Hồng Hà (1995) [6].  
+ Xác ñịnh khối lượng giun ñất theo phương pháp cân ño  
thông thường.  
- Phân tích mẫu ñất:  
+ Xác ñịnh ñộ mùn tổng số theo phương pháp Walkley –  
Blach [12].  
Chỉ số ña dạng của giun ñất cũng có sự biến ñộng giữa các  
tầng ở các khu vực nghiên cứu qua 3 ñợt thu mẫu. Cụ thể: Tại Cẩm  
Hà là cao nhất (DMg = 1,80 ± 0,21; J = 0,91 ± 0,03; H’ = 2,26 ± 0,03);  
tiếp ñến là Cẩm Châu (DMg = 0,96 ± 0,02; J = 0,92 ± 0,04; H’ = 1,65  
± 0,07) và Cẩm Thanh thấp nhất (DMg = 0,67 ± 0,25; J = 0,81 ± 0,03;  
H’ = 1,12 ± 0,23).  
+ Xác ñịnh pH ñất theo phương pháp cực chọn lọc Hidro.  
[12].  
+ Xác ñịnh N tổng số theo phương pháp [12].  
+ Xác ñịnh Phốt pho tổng số: phá hủy mẫu bằng H2SO4 ñặc  
và HClO4 [12].  
Theo Heliconia và Dacryoles, chỉ số ña dạng của giun ñất  
khác nhau có thể do sự biến ñổi của các thuộc tính của ñất [33]. Qua  
nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng ñất ở vùng Cẩm Hà là ñất cát pha, do  
sự bồi ñắp của sông. Trong quá trình canh tác, người dân ñã sử dụng  
phân rong, phân chuồng ủ cho hoai mục, hạn chế sử dụng phân bón  
hóa học giúp cải tạo ñất, làm ñất giàu dinh dưỡng, thường xuyên tưới  
nước. Nhờ vậy, ñộ ẩm cao, tạo ñiều kiện cho sự phát triển của nhiều  
loại giun ñất nên ñộ ña dạng cao hơn so với hai vùng còn lại.  
Tại Cẩm Thanh, chỉ xuất hiện 1 loài duy nhất nhưng với số  
lượng lớn như loài Pheretima posthuma ở tầng ñất A2 và A3, việc  
2.4.3. Phương pháp phân tích số liệu  
- Xử lý số liệu thống kê và vẽ biểu ñồ bằng phần mềm Excel,  
Origin 5.0, Primer 5.0. So sánh các giá trị trung bình bằng phương  
pháp phân tích Anova và kiểm tra LSD với mức ý nghĩa α = 0,05.  
Các giá trị trong phân tích tương quan ñược chuyển theo dạng công  
thức x’ = log10(x+10).  
17  
18  
xuất hiện sự ưu thế bất thường này trong cấu trúc quần xã ñộng vật  
ñược xem xét như một chỉ số xác ñịnh mức ñộ thoái hóa của môi  
trường (Vũ Quang Mạnh, 2004).  
3.1.2. Sinh khối giun ñất qua các ñợt thu mẫu  
Kết quả nghiên cứu về sinh khối trung bình của giun ñất qua  
3 ñợt thu mẫu tại vùng Cẩm Hà là cao nhất (23,05 ± 16,95 g/m2), tiếp  
ñến là Cẩm Châu (14,40 ± 14,25 g/m2) và thấp nhất là Cẩm Thanh  
(8,58 ± 6,58 g/m2). Sinh khối trung bình của giun ñất giữa 3 ñợt thu  
mẫu của 3 vùng nghiên cứu có sự khác nhau có ý nghĩa (α = 0,05).  
Cụ thể: Ở ñợt 1 là 9,28 ± 3,62 g/m2; ñợt 2 là 3,05 ± 2,84 g/m2; ñợt 3  
là 33,7 ± 15,59 g/m2.  
Kết quả phân tích cho thấy phân bố của các loài giun ñất  
giảm dần qua các tầng ñất thể hiện rõ nhất qua bảng 3.2 sau ñây:  
Bảng 3.2. Thành phần loài giun ñất ở các tầng ñất  
Tầng STT  
Loài  
Tổng  
ñất  
số loài  
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cs (2005), Viện sinh  
thái và Tài nguyên sinh vật về ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa  
của ñất ñến thành phần và phân bố của giun ñất tại Vườn Quốc gia  
Tam Đảo, ñã kết luận: sinh khối trung bình của giun ñất trong hầu hết  
các sinh cảnh ñều giảm theo chiều sâu của phẫu diện [11].  
1
Drawida delicata Gates, 1962  
2
Gordiodrilus elegans Beddard, 1892  
Pheretima campanullata (Rosa, 1890)  
Pheretima dannagana Thai, 1984  
Pheretima modigliani (Rosa, 1889)  
Pheretima houleti Perrier, 1872  
3
4
A1  
9
5
6
7
8
9
1
2
3
4
5
6
7
1
2
3
4
3.1.3. Mật ñộ giun ñất qua các ñợt thu mẫu  
Mật ñộ trung bình của giun ñất tại vùng Cẩm Hà là cao nhất  
(70,67 ± 45,56 con/m2), tiếp ñến là Cẩm Châu (28,15 ± 16,03  
con/m2) và thấp nhất là Cẩm Thanh (12,15 ± 10,48 con/m2).  
Mật ñộ giun ñất ở 3 khu vực nghiên cứu, qua phân tích  
Anova và LSD ở mức α = 0,05, cho thấy mật ñộ giun ñất trung bình  
giữa các ñợt thu mẫu của cả 3 ñịa ñiểm có sự khác nhau có ý nghĩa (α  
= 0,05). Cụ thể như sau: ñợt 1 12,59 ± 10,71 con/m2; ñợt 2 là 17,63 ±  
13,58 con/m2; ñợt 3 là 74,93 ± 60,04 con/m2. Sở dĩ ñợt 3 có mật ñộ  
cao hơn so với ñợt 1, 2 có thể do xuất hiện mưa trái mùa làm tăng ñộ  
ẩm của ñất. Ngoài ra, trong quá trình thu mẫu ở ñợt 3, ở các vùng  
trồng những loại rau như xà lách, cải bẹ xanh, tía tô, ñậu phụng ñang  
trong gian ñoạn thu hoạch nên có ñộ che phủ của tán lá cao, tăng  
cường ñộ ẩm, tạo ñiều kiện cho giun ñất phát triển.  
Pheretima posthuma (Vaillant,1896)  
Pheretima rodericensis Grube, 1879  
Pheretima vietnamensis (Thai, 1984)  
Drawida delicata Gates, 1962  
Gordiodrilus elegans Beddard, 1892  
Pheretima dannagana Thai, 1984  
Pheretima modigliani (Rosa, 1889)  
Pheretima penichaetifera Thai, 1984  
Pheretima posthuma (Vaillant,1896)  
Pheretima rodericensis Grube, 1879  
Drawida delicata Gates, 1962  
A2  
A3  
7
4
Gordiodrilus elegans Beddard, 1892  
Pheretima digna Chen, 1946  
Pontoscolex corethrurus (Miller, 1856)  
19  
20  
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Văn Minh về mối quan  
hệ giữa giun ñất và chất lượng ñất trồng chè tại huyện Đồng Hỷ, Thái  
Nguyên cho rằng số lượng giun ñất phân bố ở các tầng ñất cũng khác  
nhau. Phần lớn giun ñất tập trung nhiều ở tầng ñất mặt và giảm theo  
ñộ sâu của ñất. Sự thay ñổi về số lượng giun trong ñất phụ thuộc nhiều  
vào ñộ ẩm ñất [16]. Càng xuống các tầng ñất sâu thì mật ñộ giun ñất  
càng giảm tại 3 khu vực nguyên cứu. Nguyên nhân có thể là do ở  
những tầng ñất dưới thường ñất rất chặt, các phương thức canh tác  
của nông dân ít tác ñộng ñến tầng ñất này.  
quả theo thang xếp loại ở mức “giàu”; tại Cẩm Châu là 2,95 ± 0,56%  
và Cẩm Thanh là 2,66 ± 1,35% ñều xếp ở mức “trung bình” [4].  
Ngoài ra, hàm lượng % OM trong ñất tại các ñịa ñiểm nghiên cứu  
qua các ñợt thu mẫu còn giảm từ tầng ñất A1 ñến A3.  
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cs (2005), về ảnh  
hưởng của một số tính chất lý hóa của ñất ñến thành phần và phân bố  
của giun ñất tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, cho thấy rằng hàm lượng  
mùn tại tất cả các sinh cảnh ở tầng ñất phía trên luôn cao hơn các  
tầng ñất phía dưới [11]. Theo các nghiên cứu của Võ Thị Việt Hà  
(2010) khoa Sinh – Môi Trường, Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
về thành phần và sự phân bố của giun ñất ở một số vùng sản xuất rau  
chuyên canh của thành phố Đà Nẵng cũng cho kết quả hàm lượng  
mùn trong ñất tương tự trong nghiên cứu này.  
3.2. Một số ñặc ñiểm môi trường ñất tại khu vực nghiên cứu  
3.2.1. Độ pH môi trường ñất  
Qua phân tích cho thấy, pH giữa 3 ñịa ñiểm qua 3 ñợt thu  
mẫu có sự khác nhau có ý nghĩa; tại Cẩm Châu, Cẩm Hà, Cẩm Thanh  
lần lượt là 6,54 ± 0,27; 6,09 ± 0,03; 6,16 ± 0,55 ñược xếp loại là ñất  
không chua [4].  
Như vậy, ở các vùng nghiên cứu tại 3 ñịa ñiểm của thành phố  
Hội An, có sự biến ñộng hàm lượng % OM cũng diễn ra tương tự và  
các tầng ñất sâu thì hàm lượng mùn càng nghèo.  
Theo nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cs (2005), về  
ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa của ñất ñến thành phần và  
phân bố của giun ñất tại Vườn Quốc gia Tam Đảo thì ñộ chua của ñất  
có ảnh hưởng ñến sự phân bố của giun ñất. Đa số giun sống trong  
môi trường trung tính; nếu ñất quá chua hoặc quá kiềm sẽ ảnh hưởng  
không tốt ñến thành phần loài cũng như sự ña dạng về số lượng, sinh  
khối của giun ñất [11].  
3.2.3. Hàm lượng Nitơ tổng số (Nts) trong môi trường ñất  
Qua phân tích cho thấy, giữa các ñợt thu mẫu của cả 3 ñịa  
ñiểm nghiên cứu có sự khác nhau có ý nghĩa. Cụ thể Nts qua ñợt 1, 2,  
3 lần lượt là 0,12 ± 0,04%; 0,08 ± 0,01%; 0,14 ± 0,02%, xếp loại lần  
lượt là trung bình, nghèo, trung bình. Hàm lượng %Nts cũng giảm từ  
tầng A1 ñến tầng A3 [4].  
Như vậy, ñộ pH tại các khu vực nghiên cứu hoàn toàn phù  
hợp với nghiên cứu trước ñây và phù hợp cho giun ñất sinh sống.  
3.2.2. Hàm lượng mùn (% OM) trong ñất  
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cs (2005), Viện sinh  
thái và Tài nguyên sinh vật về ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa  
của ñất ñến thành phần và phân bố của giun ñất tại Vườn Quốc gia  
Tam Đảo, cho thấy rằng hàm lượng %Nts tại tầng ñất A1 luôn cao  
hơn tầng ñất A2 [11]. Theo nghiên cứu của Võ Thị Việt Hà (2010)  
khoa Sinh – Môi Trường, Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng về  
Qua phân tích cho thấy, giữa các ñợt thu mẫu tại mỗi tầng ñất  
của 3 ñịa ñiểm nghiên cứu có sự khác nhau có ý nghĩa. Hàm lượng %  
OM trung bình tại Cẩm Hà cao nhất có giá trị là 4,57 ± 1,23%, kết  
21  
22  
thành phần và sự phân bố của giun ñất ở một số vùng sản xuất rau  
chuyên canh của thành phố Đà Nẵng cũng cho kết quả hàm lượng Nts  
trong ñất giảm từ tầng ñất A1 ñến tầng ñất A3 [7].  
dạng thành phần loài biến ñộng theo hàm lượng mùn có trong môi  
trường chúng sinh sống.  
Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cộng sự  
(2005), về ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa của ñất ñến thành  
phần và phân bố của giun ñất tại Vườn Quốc gia Tam Đảo cho thấy  
rằng hàm lượng mùn ảnh hưởng ñến sự phân bố theo tầng ñất khác  
nhau của giun ñất và có mối tương quan thuận với giun ñất [14].  
Như vậy, qua nghiên cứu cho thấy sinh khối của giun ñất và  
các chỉ số ña dạng có khả năng phản ánh chất lượng dinh dưỡng mà  
cụ thể là hàm lượng mùn của ñất trong khu vực nghiên cứu.  
3.3.2. Hàm lượng Nitơ tổng số (Nts) với sinh khối và các chỉ  
số ña dạng loài (H’, DMg, J)  
Như vậy, hàm lượng Nts trong ñất ở khu vực nghiên cứu hoàn  
toàn phù hợp với kết quả nghiên cứu trước ñây.  
3.2.4. Hàm lượng Photpho tổng số (Pts) trong môi trường  
ñất  
Qua phân tích cho thấy, hàm lượng %Pts trong ñất giữa 3 ñợt  
thu mẫu của cả 3 ñịa ñiểm nghiên cứu có sự khác nhau có ý nghĩa.  
Ngoài ra, hàm lượng %Pts giữa các ñợt thu mẫu tại mỗi tầng ñất của  
Cẩm Hà và Cẩm Châu có sự khác nhau ý nghĩa (α=0,05). Cụ thể: tại  
Cẩm Hà hàm lượng %Pts trung bình qua các ñợt 1, 2, 3 lần lượt là  
0,12 ± 0,07%; 0,056 ± 0,04%; 0,23 ± 0.08% theo thang xếp loại lần  
lượt là giàu, nghèo, giàu; tại Cẩm Châu hàm lượng %Pts trung bình  
qua các ñợt 1, 2, 3 lần lượt là 0,10 ± 0,05%; 0,051 ± 0,04%; 0,19 ±  
0,02% theo thang xếp loại lần lượt là trung bình, nghèo, giàu [4].  
3.3. Tương quan giữa một số tính chất lý hoá của ñất với thành  
phần, phân bố và sự ña dạng giun ñất tại khu vực nghiên cứu  
3.3.1. Hàm lượng mùn (OM) với sinh khối giun ñất và các  
chỉ số ña dạng loài (H’, DMg, J)  
Kết quả phân tích:  
Hàm lượng Nts trong ñất tương quan thuận với sinh khối giun  
ñất, chỉ số H’ ở mức “tương quan chặt” với hệ số tương quan lần lượt  
R = 077 (Pvalue = 0,0001); R = 0,71 (Pvalue = 0,0001). Đồng thời,  
tương quan thuận với chỉ số DMg, J ở mức “tương quan tương ñối  
chặt” với hệ số tương quan lần lượt R = 0,59 (Pvalue = 0,001); R =  
0,68 (Pvalue = 1,0511E-4). Qua ñó cho thấy, hàm lượng Nts trong môi  
trường ñất tăng thì sinh khối, sự ña dạng loài giun ñất trong khu vực ñó  
cũng tăng theo.  
Kết quả phân tích:  
Hàm lượng mùn trong ñất tương quan thuận với sinh khối  
giun ñất, chỉ số H’ ở mức “ tương quan chặt” với hệ số tương quan  
lần lượt là R = 0,73 (Pvalue = 0,0001); R = 0,71 (Pvalue = 0,0001);  
tương quan thuận với chỉ số DMg, J ở mức “tương quan tương ñối  
chặt” với hệ số tương quan lần lượt là R = 0,67 (Pvalue = 0,001); R =  
0.57 (Pvalue = 0,001). Qua ñó cho thấy, sinh khối của giun ñất và sự ña  
Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cộng sự  
(2005), Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật về ảnh hưởng của một  
số tính chất lý hóa của ñất ñến thành phần và phân bố của giun ñất tại  
Vườn Quốc gia Tam Đảo cho thấy rằng sinh khối cũng như số lượng  
loài tương quan thuận với hàm lượng Nts (trừ sinh cảnh rừng thứ  
sinh) có trong môi trường chúng sinh sống [11].  
23  
24  
Theo kết quả nghiên cứu M. Iordache, I. Borza tại Đại học  
Khoa học Nông nghiệp Banat, Rumani cho thấy Nitơ tổng số trong  
ñất có sự tương quan thuận với sự phong phú của giun ñất (hệ số  
tương quan R = 0,639) và tương quan thuận với sinh khối giun ñất  
(hệ số tương quan R = 0,72) [26].  
Theo kết quả nghiên cứu M. Iordache, I. Borza tại Đại học  
Khoa học Nông nghiệp Banat, Rumani cho thấy sự phong phú giun  
ñất và sinh khối có sự tương quan thuận với một số chỉ môi trường  
ñất, trong ñó có phot pho tổng số với hệ số tương quan R = 0,78 [26].  
Như vậy, các chỉ số ña dạng và sinh khối giun ñất có khả  
năng phản ánh hàm lượng Pts trong khu vực nghiên cứu.  
Theo kết quả nghiên cứu của J. C. Buckerfield và cs. tại  
Australia cho thấy có sự tương quan thuận giữa việc phân bón nitơ  
với số lượng giun ñất (R = 0,48) và sinh khối (R = 0,43) làm tăng  
lượng chất hữu cơ trong ñất. Số lượng giun ñất tăng với việc bổ sung  
phân bón nitơ (R = 0,48) [24].  
Các nghiên cứu gần ñây ñã chỉ ra rằng các yếu tố pH, hàm  
lượng %OM, Nts và Pts có quan hệ mật thiết với nhau [17].  
3.4. Ảnh hưởng của phương thức canh tác ñến thành phần, phân  
bố và sự ña dạng của giun ñất tại khu vực nghiên cứu  
Qua kết quả thống kê và nghiên cứu cho thấy các chỉ số ña  
dạng và sinh khối giun ñất có khả năng phản ánh chất lượng Nts của  
khu vực nghiên cứu.  
Khi tiến hành nghiên cứu ở 3 khu vực, Cẩm Hà là nơi có sự  
ña dạng và phong phú của giun ñất cao hơn so với 2 khu vực Cẩm  
Châu và Cẩm Thanh. Qua ñiều tra, phỏng vấn các hộ nông dân ở làng  
rau Trà Quế (Cẩm Hà), những người trực tiếp tham gia sản xuất,  
người ta tiến hành các khâu: làm ñất ꢀ gieo trồng ꢀ chăm sóc ꢀ thu  
hoạch. Theo người dân, trước ñây ñất sản xuất chủ yếu là ñất cát, cát  
pha, bạc màu, nghèo dinh dưỡng. Tuy nhiên, trong quá trình canh tác  
người dân ñã sử dụng phân rong, lá cây hoặc bánh dầu nên ñã cải tạo  
ñất, làm tăng ñộ phì nhiêu. Khi tiến hành làm ñất, họ cuốc ñất, phơi  
ải 10 - 15 ngày ñể tiêu diệt côn trùng gây bệnh ñồng thời ñất tăng  
cường không khí, ñộ ẩm. Ở giai ñoạn gieo trồng, tùy vào thời tiết,  
người ta tưới nhiều hay ít nước cho rau. Ngoài ra còn phủ bạt, có thể  
phủ rơm ñể tăng ñộ ẩm cho ñất. Về phân bón, ở ñây người dân sử  
dụng phân xanh: rong tự nhiên vớt từ các hồ, ñầm, ñem về sản xuất.  
Phân xanh bón cho tất cả các loại rau từ 400 – 500 kg/500 m2; Phân  
chuồng (phân hữu cơ) gồm phân của heo, bò, gà ủ cho hoai mục rồi  
ñem bón quanh năm; Phân hữu cơ vi sinh (lân vi sinh): dùng bón lót  
dưới ñất ñể trồng rau, kể cả các loại rau, tăng chất dinh dưỡng cho  
3.3.3. Hàm lượng Photpho tổng số (Pts) với sinh khối và chỉ  
số ña dạng loài (H’, DMg, J)  
Kết quả phân tích:  
Hàm lượng Pts trong ñất tương quan thuận với sinh khối giun  
ñất, chỉ số H’ ở mức “tương quan chặt” với hệ số tương quan lần lượt  
là R = 0,91 (Pvalue = 0,0001); R = 0,73 (Pvalue = 0,0001). Đồng thời  
tương quan thuận với chỉ số DMg, J ở mức “tương quan tương ñối  
chặt” với hệ số tương quan R = 0,54 (Pvalue = 0,003); R = 0,68 (Pvalue  
= 0,0001). Qua ñó cho thấy, sinh khối, sự ña dạng loài giun ñất biến  
ñộng theo hàm lượng Pts có trong môi trường chúng sinh sống.  
Theo nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối và cs, (2005) về  
ảnh hưởng của một số tính chất lý hóa của ñất ñến thành phần và  
phân bố của giun ñất tại vườn Quốc gia Tam Đảo cho kết quả như  
sau: sự biến ñộng của hàm lượng Pts có tỷ lệ thuận với sự biến ñộng  
về số lượng loài, mật ñộ và sinh khối của giun ñất [11].  
25  
26  
ñất. Ngoài ra, người ta sử dụng vôi làm cho tơi xốp ñất ñể tiện cho  
sản xuất vụ tiếp theo, với liều lượng là 25 kg/500 m2. Trong quá trình  
sản xuất rau, người dân hạn chế sử dụng phân Urê, NPK, DPK, Kali.  
Đồng thời, họ cũng hạn chế sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật  
phun cho rau mà sử dụng các phương pháp dân gian trừ sâu bệnh:  
Tỏi xay ra ngâm với rượu phun lên rau chữa sâu, bánh dầu ngâm ra  
cho thối, sau ñó lấy nước tưới lên cây … Mỗi cây có chất dinh dưỡng  
khác nhau, nên trên cũng một luống người dân thường luôn chuyển  
cây trồng qua từng vụ ñể tận dụng chất dinh dưỡng cũng như diệt trừ  
sâu bệnh, sử dụng các phương pháp xen canh.  
việc sử dụng hóa chất dùng trong canh tác nông nghiệp vượt nồng ñộ  
cho phép mà ñặc biệt là các nhóm lân hữu cơ và cacbon như Bassa,  
Dipterex, Minitor, Padan, Shachong shuang 2000 SL, Sofix, Wofatox  
… làm tính ña dạng thành phần loài của quần xã ñộng vật giảm [15].  
Theo nghiên cứu của Đặng Văn Minh về mối quan hệ giữa  
giun ñất và chất lượng ñất trồng chè tạo huyện Đồng Hỷ, Thái  
Nguyên, thông thường những nơi nhiều giun ñất xuất hiện là những  
vùng ñất màu mỡ, ñất có nhiều chất hữu cơ và môi trường ñất ít bị ô  
nhiễm. Và số lượng giun ñất giảm ñi theo thời gian canh tác chè lâu  
năm do hàm lượng hữu cơ giảm và dung trọng ñất tăng, làm cho ñất  
chặt, ñộ tơi xốp của ñất giảm. Việc sử dụng hoá chất quá liều sẽ tàn  
phá ñến quần thể loài của giun ñất [16].  
Trong khi ñó, ở vùng Cẩm Thanh, có dấu hiệu của hiện  
tượng thoái hóa của môi trường ñất khi số loài giun ñất xuất hiện ít  
hơn so với 2 khu vực nghiên cứu. Đồng thời ở tầng ñất A2 và A3 chỉ  
có sự xuất hiện của loài Pheretima posthuma. Theo chúng tôi, có thể  
do việc sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học quá nồng ñộ cho  
phép tác ñộng xấu ñến hoạt ñộng sống của giun ñất, làm giảm số  
lượng loài. Ngoài ra, qua ñiều tra, phỏng vấn các hộ dân trồng rau ở  
ñây, ña số ít xen canh các loại rau, trồng chủ yếu là rau lang, ñậu  
phụng, việc làm ñất không thường xuyên, tiến hành 2 lần/năm có thể  
làm ñất trở nên chặt vào mùa nắng ảnh hưởng ñến số lượng giun ñất.  
Chế ñộ canh tác ñất là một trong những yếu tố quan trọng, có  
Như vậy, theo chúng tôi, sở dĩ vùng rau ở khu vực nghiên  
cứu Cẩm Hà có sự phong phú và ña dạng về số lượng loài giun ñất là  
do ñây có hàm lượng mùn, Nts, Pts cao hơn so với các vùng khác,  
người ta ñã ñược tập huấn trồng rau sạch, thường xuyên làm ñất, tạo  
ñộ thông thoáng, sử dụng hợp lí lượng phân bón với việc hạn chế sử  
dụng phân hóa học, thuốc hóa học bảo vệ thực vật và có chế ñộ luân  
canh, xen canh các loại cây trồng trên cùng diện tích tạo ñiện kiện  
thuận lợi cho các loài giun ñất phát triển.  
tác ñộng lên sự hình thành cấu trúc ñịnh tính (thành phần loài) và  
ñịnh lượng (mật ñộ, sinh khối và phân bố) của các quần xã ñộng vật  
ñất [19]. Trên thế giới, theo nghiên cứu của J.C Buckerfield và cs. tại  
Australia, người ta tiến hành bảo tồn ñất canh tác, giữ lại cây trồng và  
giảm tác ñộng canh tác thì số lượng và mật ñộ giun ñất tăng [24].  
Theo kết quả khảo sát ñiều tra bước ñầu của Vũ Quang  
Mạnh, Nguyễn Trí Tiến và Nguyễn Thị Thu Anh (2002) cho thấy  
27  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
1. KẾT LUẬN  
a. Đã phát hiện ñược 12 loài giun ñất thuộc 4 giống, 4 họ ở  
các ñịa ñiểm của khu vực nghiên cứu. Chỉ số ña dạng loài, sinh khối  
và mật ñộ trung bình qua 3 ñợt thu mẫu tại Cẩm Hà cao nhất, tiếp ñến  
là Cẩm Châu và thấp nhất là Cẩm Thanh. Số lượng loài, mật ñộ và  
sinh khối trung bình giun ñất giảm rõ rệt từ tầng A1 ñến A3.  
b. Đất ở 3 khu vực nghiên cứu qua các ñợt thu mẫu có pH từ  
chua ít ñến không chua, ñộ pH như vậy là ñiều kiện thích hợp cho  
giun ñất sinh sống; hàm lượng %Nts tại 3 khu vực ñều xếp vào loại  
trung bình; hàm lượng mùn tại Cẩm Thanh và Cẩm Châu xếp vào  
loại trung bình, còn ở Cẩm Hà ñược xếp vàp loại giàu. Cẩm Hà và  
Cẩm Châu là hai khu vực có hàm lượng %Pts xếp vào loại giàu; trong  
khi ñó ở Cẩm Thanh xếp vào loại trung bình. Hàm lượng mùn, Pts và  
Nts tại tất cả các ñịa ñiểm nghiên cứu giảm dần từ tầng A1 ñến A3.  
c. Hàm lượng mùn, Nts, Pts trong ñất tại tất cả các ñịa ñiểm  
nghiên cứu ở tầng ñất trên luôn cao hơn ở tầng ñất phía dưới; tương  
ứng với sự giảm này, số lượng loài, sinh khối trung bình của giun ñất tại  
hầu hết các ñịa ñiểm cũng giảm theo. Như vậy, sinh khối giun ñất và  
các chỉ số ña dạng có khả năng phản ánh hàm lượng mùn, Nts và Pts.  
d. Phương thức canh tác tại Cẩm Hà. Cẩm Châu và Cẩm Thanh  
có tác ñộng ñến thành phần, phân bố và sự ña dạng của giun ñất.  
2. KIẾN NGHỊ  
a. Đề tài mới chỉ tiến hành nghiên cứu ở 1 số khu vực chuyên  
canh rau của thành phố Hội An. Do ñó, cần có những nghiên cứu  
ñánh giá bổ sung ở quy mô lớn hơn, ở nhiều khu vực khác nhau ñể có  
thể sử dụng giun ñất ñể ñánh giá chất lượng môi trường ñất.  
b. Cần có những nghiên cứu về tương quan giữa phương thức  
canh tác với chất lượng ñất và ñộ phong phú, ña dạng của giun ñất tại  
các vùng trồng rau của thành phố Hội An.  
pdf 14 trang yennguyen 13360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu tương quan giữa thành phần và sự phân bố của giun đất với chất lượng đất và phương thức canh tác ở một số vùng sản xuất rau của thành phố Hội An – Tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_tuong_quan_giua_thanh_phan_va_su.pdf