Luận văn Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH  
PHAN TUẤN  
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC  
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI  
TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TỀ  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH  
PHAN TUẤN  
SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG VIỆC  
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI  
TẠI THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH  
Chuyên ngành : Quản lý công  
Mã số  
: 60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
TS. Nguyễn Tấn Khuyên  
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2016  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do cá nhân tôi khảo sát, tham khảo tài  
liệu và thực hiện. Mọi trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn  
và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của cá nhân tôi. Luận văn được  
thực hiện trên cơ sở tổng hợp những kiến thức và khảo sát thực tế của tác giả mà không  
nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.  
TP. Hồ Chí Minh, ngày ..… tháng 11 năm 2016  
Người viết  
Phan Tuấn  
 
MỤC LỤC  
TRANG PHỤ BÌA  
MỤC LỤC  
 
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT  
Từ viết tắt  
BCĐ  
Tên tiếng Việt  
Ban chỉ đạo  
BCH  
Ban chấp hành  
BNNPTNT  
NQ  
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
Nghị quyết  
NTM  
Nông thôn mới  
QĐ  
Quyết định  
TW  
Trung ương  
UBND  
UBMTTQVN  
PR  
Ủy ban nhân dân  
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
Participatory Research - Nghiên cứu sự  
tham gia  
PAR  
Participatory Action Research -  
Nghiên cứu hành động tham gia  
OTOP  
OVOP  
Oxfam  
One Tambon One Product - Mỗi xã một sản  
phẩm  
One Village One Product - Mỗi làng một  
sản phẩm  
Oxford Committee for Famine Relief - Ủy  
ban Oxford về cứu đói  
DANH MỤC HÌNH  
   
TÓM TẮT  
Đề tài “Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM tại thành phố Quy  
Nhơn, tỉnh Bình Định” được thực hiện nhằm phân tích vai trò của người dân trong xây  
dựng NTM ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Qua đó đánh giá mức độ tham gia  
của người dân trong xây dựng NTM và các kết quả đạt được. Từ đó gợi ý các giải pháp  
nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM ở thành phố Quy  
Nhơn theo hướng có hiệu quả và bền vững.  
Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu tại bàn, nghiên cứu thực địa cùng  
với phân tích, so sánh và phân tích thống kê với 175 hộ được điều tra tại 04 xã và các  
số liệu được thu thập từ các cơ quan ở các cấp từ xã đến tỉnh.  
Thực trạng về sự tham gia của người dân trong khảo sát nghiên cứu tại thành  
phố Quy Nhơn cho thấy: Mức độ tham gia của người dân theo thang đo “biết, bàn,  
làm, kiểm tra” có chiều hướng giảm dần, chỉ những hoạt động liên quan trực tiếp tới  
đời sống người dân và họ phải đóng góp chi phí để xây dựng các công trình liên quan  
trực tiếp đến cộng đồng thì mới có sự tham gia của người dân. Sự tham gia của người  
dân trong hoạt động giám sát, vận hành, duy tu, bảo dưỡng còn khá mờ nhạt.  
Để cải thiện sự tham gia của người dân vào các hoạt động xây dựng NTM, tác  
giả đưa ra một số khuyến nghị: (1) Tiếp tục thông tin về Chương trình đến người dân  
theo hướng đi vào chiều sâu, phù hợp với điều kiện của từng địa phương; (2) Phải thực  
sự phát huy vai trò chủ thể của người dân, cần tăng cường phát huy dân chủ ở địa  
phương, đưa nhân dân vào quá trình ra quyết định; (3) Nâng cao trình độ của đội ngũ  
cán bộ ở nông thôn làm nòng cốt cho Chương trình xây dựng NTM; (4) Minh bạch hóa  
các hoạt động xây dựng NTM.  
 
1
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN VÀ CÁC VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH  
1.1 Bối cảnh nghiên cứu  
Xây dựng Nông thôn mới (NTM) là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta  
nhằm thay đổi bộ mặt của nông thôn cho phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa nông nghiệp, nông thôn. Thời gian qua, nhiều văn bản chính thức đã được ban  
hành để định hướng phát triển nông thôn, trong đó, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần  
thứ X của Đảng đã ra Nghị quyết xác định mục tiêu xây dựng NTM: “Xây dựng NTM  
ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ  
sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại”. Dựa  
trên tinh thần của Nghị quyết này, Hội nghị TW lần thứ bảy của BCH Trung ương  
Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định: “Xây dựng NTM có kết cấu hạ  
tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý,  
gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo hướng quy  
hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao,  
môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của  
Đảng được tăng cường”. Thực hiện định hướng đó của Đảng, Chính phủ đã ban hành  
Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện  
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông  
nghiệp, nông dân, nông thôn. Mục tiêu của Chương trình hành động là khẳng định và  
bổ sung nhiệm vụ của Chính phủ để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương đã đề  
ra. Cụ thể, mục tiêu của Chương trình hành động đề ra nhằm: nâng cao chất lượng cuộc  
sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn, tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở  
nông thôn, xây dựng NTM bền vững theo hướng giàu đẹp, văn minh…  
Hiện nay Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM đang được quan tâm  
triển khai, thực hiện trên cả nước. Từ kết quả của chương trình đã góp phần phát triển  
kinh tế xã hội và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người dân và nông thôn.  
     
2
Kết quả qua 05 năm (2010 – 2015) thực hiện xây dựng NTM, cả nước có 1.298  
xã (14,5%) được công nhận đạt chuẩn NTM; số tiêu chí bình quân/xã là 12,9 tiêu chí  
(tăng 8,2 tiêu chí so với 2010); số xã khó khăn nhưng có nỗ lực vươn lên (xuất phát  
điểm dưới 3 tiêu chí, nay đã đạt được 10 tiêu chí trở lên) là 183 xã.  
Trong 5 năm, cả nước đã huy động được khoảng 851.380 tỷ đồng đầu tư cho  
Chương trình. Trong đó, ngân sách nhà nước (bao gồm các chương trình, dự án khác)  
266.785 tỷ đồng (31,34%), tín dụng 434.950 tỷ đồng (51%), doanh nghiệp 42.198 tỷ  
đồng (4,9%), người dân và cộng đồng đóng góp 107.447 tỷ đồng (12,62%).  
Riêng ngân sách Nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho Chương trình 98.664 tỷ đồng  
(11,59%). Trong đó, ngân sách Trung ương 16.400 tỷ đồng (sự nghiệp kinh tế 3.480 tỷ  
đồng, đầu tư phát triển 2.420 tỷ đồng, trái phiếu Chính phủ 10.500 tỷ đồng), ngân sách  
địa phương các cấp 82.264 tỷ đồng. (Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình MTQG  
XD NTM, tháng 12 năm 2015).  
Tại tỉnh Bình Định, trong 5 năm qua, Chương trình xây dựng NTM đã được  
triển khai toàn diện và cũng đã thu được những thành quả đáng khích lệ. Bộ mặt nông  
thôn của tỉnh đang dần thay đổi, đặc biệt hạ tầng cơ sở nông thôn phát triển mạnh mẽ,  
nhiều tuyến đường giao thông liên xã, đường trục xã, thôn… được cải tạo hay xây mới  
tạo sự thuận tiện phục vụ sản xuất, đi lại, giao thương của nhân dân; hệ thống thủy lợi  
tiếp tục được đầu tư kiên cố để đẩy mạnh chương trình thâm canh sản xuất, nâng cao  
năng suất, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông, lâm nghiệp; việc xây dựng trụ sở,  
trường học, trạm y tế, hệ thống điện, nhà văn hóa, chợ nông thôn, nước sinh hoạt,…  
dần được hoàn thiện.  
Bên cạnh những thành công đạt được, Chương trình xây dựng NTM còn gặp  
không ít khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là các khó khăn liên quan đến người dân như:  
người dân vẫn chưa cảm nhận hết vai trò của mình, nhận thức của người dân về  
3
chương trình xây dựng NTM còn chưa rõ, tỷ lệ người dân tham gia vào các hoạt động  
xây dựng NTM chưa cao, kinh phí huy động của cộng đồng dân cư còn thấp,…  
Kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM tại tỉnh Bình Định giai đoạn 2011-  
2015: trong tổng nguồn vốn đầu tư 36.493 tỷ đồng, nguồn vốn người dân đóng góp  
424,5 tỷ đồng, chỉ chiếm 1,2%, rất thấp so với yêu cầu của Quyết định 800/QĐ-TTg  
của Thủ tướng Chính phủ là 10%. (Ban chỉ đạo Chương trình xây dựng NTM tỉnh Bình  
Định, 2015)  
Trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, thời gian qua Chương trình xây dựng NTM  
vẫn chưa phát huy hết vai trò của người dân nông thôn, đặc biệt là quan tâm đến vai trò  
của người dân trong việc thực hiện các chương trình, dự án, mô hình phát triển nông  
nghiệp – nông thôn tại địa phương, tham gia xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng  
thiết yếu phục vụ cho đời sống dân sinh,… Vì vậy, việc cải thiện sự tham gia của người  
dân vừa là hành động để tiếp tục thực hiện, vừa là mục đích để hướng tới trong quá  
trình xây dựng NTM. Khi sự tham gia của người dân được cải thiện theo chiều hướng  
tích cực hơn, thì nguồn lực đầu tư cho xây dựng NTM không chỉ tăng lên mà còn thúc  
đẩy người dân tự tin, năng động, tham gia đóng góp tích cực hơn để xây dựng NTM tại  
địa phương mình.  
Qua khảo sát sơ bộ tại thành phố Quy Nhơn, tác giả nhận thấy sự tham gia của  
người dân trong xây dựng NTM còn hạn chế và thụ động. Thực tế này phản ánh sự bất  
cập trong chủ trương phát triển nông nghiệp dựa vào phát triển cộng đồng và các chính  
sách của nhà nước cũng như thực tế khi triển khai các chính sách tại cơ sở. Khi sự tham  
gia của người dân được cải thiện, không chỉ nguồn lực đầu tư cho xây dựng NTM tăng  
lên mà còn thúc đẩy người dân tự tin, tự quyết và tham gia chủ động, tích cực hơn  
trong xây dựng NTM ở địa phương.  
Sự tham gia của người dân có thể xem là một nhân tố quan trọng trong việc thực  
hiện thành công chương trình xây dựng NTM. Khi tham gia vào quá trình xây dựng  
4
NTM, người dân tại nông thôn sẽ từng bước tăng cường kỹ năng, năng lực quản lý,  
khơi dậy và phát huy tiềm năng của nông dân, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát  
của người dân,… Từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của chương trình xây dựng  
NTM.  
1.2 Mục tiêu nghiên cứu  
- Mục tiêu tổng quát: Đề tài nhằm phân tích vai trò của người dân trong xây  
dựng NTM ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Qua đó đánh giá mức độ tham gia  
của người dân trong xây dựng NTM và các kết quả đạt được. Từ đó gợi ý các giải pháp  
nhằm tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM ở thành phố Quy  
Nhơn theo hướng có hiệu quả và bền vững.  
- Mục tiêu cụ thể: Đề tài được xây dựng nhằm giải quyết các mục tiêu sau đây:  
1) Phân tích thực trạng sự tham gia của người dân trong việc xây dựng NTM  
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.  
2) Đánh giá vai trò và mức độ tham gia của người dân trong việc xây dựng  
NTM thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.  
3) Đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp phù hợp với điều kiện của địa phương  
để tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại thành phố Quy  
Nhơn, tỉnh Bình Định.  
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu  
Sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh  
Bình Định.  
     
5
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu  
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn 04 xã ngoại thành của  
thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, bao gồm: xã Phước Mỹ, Nhơn Lý, Nhơn Hải và  
Nhơn Châu. Trong đó:  
Về tiến độ xây dựng NTM: xã Phước Mỹ và xã Nhơn Lý đã được công nhận đạt  
chuẩn NTM (vào tháng 8/2015); 02 xã Nhơn Châu và Nhơn Hải chưa hoàn thành xây  
dựng NTM.  
Về địa bàn: Phước Mỹ là xã miền núi, Nhơn Châu là xã đảo, Nhơn Lý và Nhơn  
Hải là xã bán đảo.  
- Về phạm vi thời gian: Đề tài đánh giá quá trình xây dựng NTM trong giai  
đoạn 2011 - 2015.  
1.4 Phương pháp nghiên cứu  
- Cách tiếp cận: Cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài là từ người dân ở 04 xã  
nghiên cứu hay nghiên cứu từ dưới lên và nghiên cứu thực chứng.  
- Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn, nghiên cứu thực địa cùng với  
phân tích, so sánh và phân tích thống kê để giải quyết cho các mục tiêu và câu hỏi  
nghiên cứu đề ra ở trên.  
- Nguồn thông tin:  
+ Số liệu thứ cấp: Các số liệu được thu thập từ Ban quản lý xây dựng NTM cấp  
xã, Ban Chỉ đạo xây dựng NTM thành phố, Phòng Kinh tế thành phố, Văn phòng Điều  
phối xây dựng NTM tỉnh, … Các loại sách, bài giảng, các bài báo có liên quan tới đề  
tài, các website có liên quan.  
+ Số liệu sơ cấp: Được khảo sát từ 175 người dân tại 04 xã xây dựng NTM của  
thành phố Quy Nhơn.  
   
6
- Phương pháp chọn mẫu và phương thức điều tra:  
Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu phi xác xuất, cụ thể là chọn  
mẫu thuận tiện kết hợp với chọn mẫu theo kinh nghiệm. Nguyên tắc chọn mẫu là chọn  
chủ hộ gia đình đại diện cho các nhóm nghề nghiệp khác nhau trong vùng nông thôn và  
phân bổ theo các thôn.  
Các hộ được chọn dựa trên hai nhóm chính là nhóm sản xuất nông ngư nghiệp  
và nhóm phi nông nghiệp. Phương thức điều tra được áp dụng là phỏng vấn bằng Phiếu  
khảo sát soạn sẵn các câu hỏi, phỏng vấn trực tiếp, điều tra viên đặt câu hỏi, nắm bắt  
thông tin, câu trả lời và ghi nhận vào phiếu.  
Trên thực tế điều tra có xã thuần nông, có xã thuần ngư, có xã hoạt động phi  
nông nghiệp phát triển. Bên cạnh đó, do khó khăn về khả năng thu xếp, gặp mặt của  
người dân và sự hợp tác trả lời thông tin của người dân nên số lượng người trong một  
nhóm phỏng vấn cũng thay đổi tùy theo tình huống thực tế.  
Tổng cộng có 175 hộ được điều tra bằng phiếu khảo sát trên 04 xã. Nội dung  
của Phiếu khảo sát tập trung vào 04 nội dung chính: (1) Thông tin về chương trình  
NTM; (2) Người dân tham gia bàn bạc ý kiến trong xây dựng NTM; (3) Người dân  
tham gia trực tiếp trong xây dựng NTM; (4) Người dân tham gia giám sát xây dựng,  
vận hành, duy tu, bảo dưỡng các công trình NTM.  
Để trả lời cho câu hỏi “Thực trạng về sự tham gia của người dân trong xây  
dựng NTM ở thành phố Quy Nhơn?”, đề tài thực hiện khảo sát tại địa phương bằng  
cách thu thập ý kiến của người dân thông qua Phiếu khảo sát. Đồng thời thực hiện  
phỏng vấn sâu đại diện của Ban quản lý xây dựng NTM cấp xã, Ban Chỉ đạo xây dựng  
NTM thành phố, Văn phòng Ban chỉ đạo xây dựng NTM tỉnh,… Từ đó đối chiếu, so  
sánh với các quy định trong các văn bản hiện hành để xác định những vấn đề còn tồn  
tại, những mặt tích cực để ghi nhận thực trạng về xây dựng NTM tại thành phố Quy  
Nhơn.  
7
Để trả lời cho câu hỏi “Giải pháp nào phù hợp với điều kiện của địa phương để  
cải thiện sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM tại thành phố Quy Nhơn?”,  
đề tài liên hệ với các quy định pháp luật, kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp,  
nông thôn ở một số nước, thực trạng tại các xã nghiên cứu của thành phố Quy Nhơn và  
các nghiên cứu trước để đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực tham gia của người  
dân trong chính sách xây dựng NTM.  
1.5 Kết cấu của đề tài:  
Đề tài được chia làm 05 chương.  
Chương 1: Giới thiệu bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng,  
phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.  
Chương 2: Giới thiệu sơ lược về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng  
NTM.  
Chương 3: Cơ sở lý luận, thực tiễn và khung phân tích về sự tham gia của người  
dân trong xây dựng NTM.  
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.  
Chương 5: Kết luận và kiến nghị.  
   
8
CHƯƠNG 2  
GIỚI THIỆU VỀ CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NTM  
2.1 Giới thiệu về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM  
Nông thôn Việt Nam là khu vực đa dạng về thành phần tộc người, văn hóa, là  
nơi sản xuất lương thực, thực phẩm và các sản phẩm khác cần thiết cho nhu cầu cơ bản  
của xã hội. Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nước công nghiệp nếu  
nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy đổi mới  
nông nghiệp, nông thôn được Đảng và Nhà nước ta coi là một trong những nhiệm vụ  
quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Các chính sách về nông thôn ở Việt Nam đã bắt đầu từ rất sớm. Nhờ việc thực  
hiện chính sách cải cách và triển khai công tác khuyến nông mà kinh tế hộ nông dân  
phát triển, hàng triệu nông dân hăng hái sản xuất đem lại nhiều hiệu quả kinh tế cao.  
Tiếp theo sau đó là hàng loạt các mô hình thí điểm xây dựng NTM theo phương châm  
dựa vào nội lực của cộng đồng nông thôn để phát triển. Kết quả bước đầu rất khả quan,  
bộ mặt nông thôn ngày càng thay đổi, người dân dần dần thay đổi nhận thức về xây  
dựng NTM. Tuy vậy, mô hình thí điểm còn gặp phải một số hạn chế, đó là việc chọn  
xã thí điểm chưa mang tính đại diện cho vùng, mô hình thường hướng vào các chương  
trình xây dựng cơ bản, chưa có định hướng phát triển chung và đặc biệt là vai trò của  
người dân chưa thực sự được coi trọng.  
Ngày 05/8/2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 26-  
NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết đã thể hiện những quan  
điểm chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xác định vị trí quan  
trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tiến trình phát triển đất nước. Đồng  
thời nhìn nhận mối quan hệ giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn, xem nông dân là  
chủ thể của quá trình xây dựng, phát triển NTM. Nghị quyết này tạo nền móng vững  
chắc cho chính sách xây dựng NTM. Ngày 30/12/2008, Ban Bí thư Trung ương Đảng  
   
9
ban hành Quyết định số 205-QĐ/TW về việc thành lập Ban Chỉ đạo thí điểm Chương  
trình xây dựng NTM và lựa chọn 11 xã điểm xây dựng NTM.  
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg về  
việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, đây là căn cứ để đánh giá kết quả chương  
trình thực hiện xây dựng NTM. Ngày 21/8/2009, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông  
thôn ban hành Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ  
tiêu chí quốc gia về NTM. Bộ tiêu chí này là căn cứ để xây dựng nội dung Chương  
trình MTQG xây dựng NTM, chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ  
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cũng để kiểm tra, đánh giá công  
nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM.  
Năm 2010, chương trình xây dựng NTM chính thức trở thành Chương trình  
Mục tiêu quốc gia khi ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số  
800/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông  
thôn mới giai đoạn 2010-2020”. Khác với những chương trình phát triển nông thôn  
trước đây, Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM mới đã bao phủ trên diện  
rộng, là một chương trình tổng thể trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội và phát triển  
kinh tế chứ không thiên về xây dựng cơ bản, cộng đồng dân cư được xem là những  
người chủ thể trong xây dựng NTM. Theo đó, chương trình gồm 11 nội dung với 19  
tiêu chí, được phân chia thành 5 nhóm:  
Nhóm I: Quy hoạch (01 tiêu chí)  
Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (08 tiêu chí)  
Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (04 tiêu chí)  
Nhóm IV: Văn hóa – Xã hội – Môi trường (04 tiêu chí)  
Nhóm V: Hệ thống chính trị (02 tiêu chí)  
10  
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số  
26/2011/TTLB-BNNPTNT-BKHĐT-BTC của liên Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông  
thôn, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính, Chương trình NTM được điều hành, quản lý  
bởi các Ban Chỉ đạo (BCĐ) các cấp được thành lập từ Trung ương đến cấp xã, Văn  
phòng điều phối là cơ quan thường trực giúp việc cho BCĐ cấp Trung ương và cấp  
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan thường trực điều phối là cơ quan giúp  
việc cho BCĐ cấp huyện. Đối với cấp xã là đơn vị trực tiếp triển khai chương trình nên  
vừa có BCĐ, vừa có Ban Quản lý và cấp quản lý cuối cùng là Ban Phát triển thôn.  
Ban chỉ đạo  
Trung ương  
Ban chỉ đạo  
Cấp tỉnh, thành  
Văn phòng  
Điều phối TW  
Các bộ, ngành  
Trung ương  
Ban chỉ đạo  
Cấp huyện  
Các sở, ngành  
Tỉnh  
Văn phòng  
Điều phối tỉnh  
Ban chỉ đạo  
cấp xã  
Cơ quan thường  
trực điều phối  
Các phòng, ban  
cấp huyện  
Ban phát triển  
Ban quản lý  
xây dựng NTM  
Các CB công  
chức xã, trưởng  
thôn  
Quan hệ chỉ đạo  
Quan hệ hỗ trợ  
Hình 2.1 Bộ máy chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM  
(Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên Thông tư 26/2011/TTLT- BNNPTNT-BKHĐT-BTC)  
 
11  
Theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nguồn vốn đầu tư  
để phục vụ cho Chương trình được huy động từ bốn nguồn: thứ nhất, vốn ngân sách  
(Trung ương và địa phương) chiếm khoảng 40%; thứ hai, vốn tín dụng (tín dụng đầu tư  
phát triển và tín dụng thương mại) khoảng 30%; thứ ba, vốn huy động từ doanh nghiệp,  
hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác khoảng 20%; thứ tư, huy động đóng góp của  
cộng đồng dân cư khoảng 10%.  
Hình 2.2 Cơ cấu vốn thực hiện chương trình NTM  
(Nguồn: Dựa trên Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Báo cáo tổng kết Chương trình  
mục tiêu quốc gia XD NTM giai đoạn 2010 – 2015)  
Tuy nhiên trong thực tế ở các địa phương, nguồn lực huy động và đóng góp từ  
các nguồn thường là không đạt theo như Quyết định số 800/QĐ-TTg, trong đó nguồn  
huy động từ cộng đồng dân cư và từ doanh nghiệp thường đạt thấp, chủ yếu là nguồn  
vốn từ ngân sách.  
2.2 Vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng NTM  
Trong quá trình xây dựng NTM hiện nay, người dân giữ vị trí là chủ thể. Đây là  
sự khẳng định đúng đắn, cần thiết, nhằm phát huy nhân tố con người, khơi dậy và phát  
huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông thôn cả về kinh tế, văn  
hóa, xã hội,…, đồng thời bảo đảm những quyền lợi chính đáng của họ. Người dân  
chính là những nhân tố tích cực tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn, chủ động,  
sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; trong quá trình tổ chức sản  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 90 trang yennguyen 14180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Sự tham gia của người dân trong việc xây dựng nông thôn mới tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_su_tham_gia_cua_nguoi_dan_trong_viec_xay_dung_nong.pdf