Luận văn Nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỨA THÙY MAI
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HỨA THÙY MAI
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành : TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số
: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
TP Hồ Chí Minh - Năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện với sự
hỗ trợ của giảng viên hướng dẫn là PGS.TS Nguyễn Ngọc Định. Các nội dung
và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa công bố trong công
trình nghiên cứu nào. Những dữ liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét,
đánh giá được tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau, có liệt kê trong phần
tài liệu tham khảo.
Ngoài ra, trong luận văn tôi cũng sử dụng một số nhận xét, đánh giá
cũng như số liệu của các tác giả khác, các cơ quan tổ chức có liên quan và đều
có chú thích.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng.
TP Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2014
Hứa Thùy Mai
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
TÓM TẮT
1. GIỚI THIỆU........................................................................................... 1
1.1. Lý do nghiên cứu............................................................................. 1
1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài………….……………………....2
1.6. Bố cục của đề tài. ............................................................................ 3
2.1. Khái niệm ........................................................................................ 4
2.1.1
2.1.2
2.1.3
Tài chính doanh.nghiệp ............................................................ 4
Cấu trúc vốn doanh nghiệp....................................................... 5
Đòn bẩy tài chính...................................................................... 6
2.1.3.1 Khái niệm. ................................................................................ 6
2.1.3.2 Chỉ số đo lường. ....................................................................... 6
2.1.3.2.1 Tỷ lệ tổng nợ trên tài sản………………………………………………..7
2.1.3.2.2 Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu.……………….…………….…………...7
2.1.3.2.3 Tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu.…………….………….…………...7
2.2. Các lý thuyết về cấu trúc vốn..........................................................................9
2.2.1.
Lý thuyết đánh đổi.. ......................................................................... 9
Tấm chắn thuế nợ vay…………..……………………………….……….9
2.2.1.1
2.2.1.2 Chi phí kiệt quệ tài chính………………………..…………….……….9
2.2.1.3 Cân bằng lợi ích chắn thuế nợ vay, chi phí kiệt quệ TC.……...9
2.2.2. Lý thuyết trật tự phân hạng...........................................................10
2.2.2.1 Phát hành nợ & cổ phần thường...................................................... .11
2.2.2.2 Các hàm ý của trật tự phân hạng………………………………..…11
Quy mô..............................................................................................14
Lợi nhuận..........................................................................................16
Thuế ...................................................................................................16
TÓM TẮT
Đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp
Việt Nam” nghiên cứu phân tích tác động của các nhân tố đến cấu trúc vốn
của Doanh nghiệp Việt Nam. Mẫu nghiên cứu gồm 150 công ty phi tài
chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 đến
2012. Bảy nhân tố được đưa vào nghiên cứu gồm lợi nhuận, tài sản cố định
hữu hình, quy mô, cơ hội tăng trưởng, tính thanh khoản, thuế, rủi ro kinh
doanh. Ba chỉ số đại diện cho đòn bẩy tài chính của Doanh nghiệp gồm: tỷ
lệ nợ (nợ ngắn hạn + nợ dài hạn), tỷ lệ nợ ngắn hạn, tỷ lệ nợ dài hạn. Kết
quả cho thấy cơ hội tăng trưởng tác động mạnh đến đòn bẩy tài chính; tính
thanh khoản tác động đến tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ ngắn hạn; quy mô công ty tác
động đến tỷ lệ nợ và tỷ lệ nợ dài hạn; tài sản cố định hữu hình tác động đến
tỷ lệ nợ ngắn và dài hạn; lợi nhuận chỉ tác động đến tỷ lệ nợ; rủi ro kinh
doanh chỉ tác động đến tỷ lệ nợ dài hạn; còn thuế không có tác động đến
đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp.
1
1.
GIỚI THIỆU
1.1 Lý do nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp luôn
là động lực kích thích các doanh nghiệp tìm cách phát huy tối đa tiềm năng
của mình nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất và điều đó tất yếu dẫn đến
sự thành công của một số doanh nghiệp và cũng không thể tránh khỏi những
thất bại trong kinh doanh có thể dẫn đến phá sản. Sau khi trải qua cuộc
khủng hoảng tài chính thời kỳ 2007-2009, từ 2010-2012 kinh tế mới trong
giai đoạn phục hồi tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nhiều khó khăn và thách thức với
tốc độ phục hồi chậm chạp, không đồng đều và chưa vững chắc. Khủng
hoảng là cơ hội để sàng lọc các doanh nghiệp, cũng như quá trình phục hồi
khủng hoảng tạo nên động lực thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc
doanh nghiệp có thể đáp ứng, thích nghi tốt hơn với môi trường kinh tế
nhiều biến động.
Cấu trúc vốn có tác động rất lớn đến tình hình hoạt động của doanh
nghiệp, qua đó tác động đến khả năng sinh lời và giá trị cổ phiếu. Trong khi
đó, tại Việt Nam, việc quản trị tài chính trong các doanh nghiệp vẫn có
những lúc bị xem nhẹ. Việc chọn nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu hoạt động
kinh doanh đôi khi được hình thành một cách tự phát, không dựa trên những
nguyên lý cơ bản của một chiến lược quản trị tài chính hiện đại nào cả. Một
cấu trúc vốn tối ưu giúp doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối
thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Khi xây dựng một cấu
trúc vốn tối ưu cũng ẩn chứa nhiều rủi ro nếu không phân tích các nhân tố
tác động đến cấu trúc vốn.
Cần nghiên cứu đầy đủ để xem những nhân tố nào tác động đến cấu trúc
vốn các doanh nghiệp Việt Nam là thực sự cần thiết nhằm làm sáng tỏ các nhân
tố tác động đến cấu trúc tài chính làm cơ sở giúp các doanh nghiệp xây dựng
cho mình một cấu trúc vốn hợp lý cho từng giai đoạn phát triển, nâng cao hiệu
2
quả hoạt động trong bối cảnh môi trường kinh tế hiện nay. Do đó, tác giả chọn
nghiên cứu đề tài: “Nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh
nghiệp Việt Nam”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Cấu trúc vốn là một đề tài quan trọng trong lý thuyết tài chính doanh
nghiệp, rất được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế học.
Đề tài này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn
cấu trúc vốn của Doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó giúp nhà quản trị doanh
nghiệp có cơ sở để đánh giá và đưa ra quyết định phù hợp.
1.3 Phạm vi nghiên cứu.
-
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là 150 doanh nghiệp phi tài chính
niêm yết trên hai sàn chứng khoán ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Các doanh nghiệp niêm yết cung cấp thông tin đầy đủ trên báo cáo tài
-
chính từ 2010-2012.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài phân tích định lượng, sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bé
nhất (OLS), ứng dụng phần mềm Eviews 7.0 hỗ trợ tính toán, phân tích mối
tương quan giữa các nhân tố và cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
-Về lý luận:
Luận văn góp phần vào lý luận của việc xây dưng cơ cấu vốn tối ưu.
- Về thực tiễn:
Đề xuất giải pháp để xây dựng cơ cấu vốn tối ưu.
4
2 TỔNG QUAN MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC VỐN
Muốn xây dựng cấu trúc vốn hợp lý cho các Doanh nghiệp Việt Nam
thì trước tiên cần hiểu về cấu trúc vốn, phần này sẽ khái quát các khái
niệm và lý thuyết liên quan cấu trúc vốn.
2.1 Khái niệm:
2.1.1 Tài chính doanh nghiệp:
Quá trình hoạt động của Doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối
và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh
nghiệp. Trong quá trình đó, làm phát sinh và tạo ra sự vận động của
các dòng tiền bao hàm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt
động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp.
Do đó, xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong
quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt
động của doanh nghiệp. Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các
quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị nảy sinh gắn liền với việc tạo
lập, sử dụng quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình họat động.
Từ những khái niệm trên có thể thấy tài chính doanh nghiệp thực chất
quan tâm đến ba quyết định sau: quyết định đầu tư, quyết định tài trợ
và quyết định phân phối lợi nhuận
Quyết định đầu tư: Được thể hiện qua việc doanh nghiệp lựa chọn nên
đầu tư vào những dự án nào trong điều kiện nguồn lực tài chính có
hạn để tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu.
Quyết định tài trợ: Được thể hiện qua việc doanh nghiệp lựa chọn nên
tài trợ vốn cho dự án đầu tư bằng những nguồn vốn nào và với quy mô
bao nhiêu.
Quyết định phân phối lợi nhuận: Được thể hiện qua việc doanh nghiệp
lựa chọn nên phân phối kết quả hoạt động kinh doanh như thế nào.
5
Các quyết định này sẽ có tác động tới tỷ lệ tăng trưởng thu nhập của
chủ sở hữu trong tương lai, và điều đó sẽ tác động làm tăng hoặc giảm giá trị
công ty trên thị trường.
2.1.2 Cấu trúc vốn Doanh nghiệp:
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác
định nhu cầu đầu tư, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn.
Doanh nghiệp có thể huy động vốn cho nhu cầu kinh doanh từ nhiều nguồn
khác nhau, trong đó có thể quy về hai nguồn chính là vốn chủ sở hữu và nợ
phải trả.
Vốn chủ sở hữu là số vốn của các chủ sở hữu, các chủ đầu tư đóng
góp ban đầu và bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh (vốn đầu tư của chủ
sở hữu). Ngoài ra, thuộc vốn chủ sở hữu còn bao gồm một số khoản khác
phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như: chênh lệch tỷ giá hối
đoái, chênh lệch đánh giá lại tài sản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, các
quỹ doanh nghiệp…Vốn chủ sở hữu không phải là các khoản nợ nên doanh
nghiệp không phải cam kết thanh toán.
Khác với vốn chủ sở hữu, nợ phải trả phản ánh số vốn mà doanh
nghiệp đã chiếm dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh; do vậy, doanh
nghiệp phải cam kết thanh toán và có trách nhiệm thanh toán. Thuộc nợ phải
trả cũng bao gồm nhiều loại khác nhau, được phân theo nhiều cách khác
nhau, trong đó, phân theo thời hạn thanh toán và đối tượng nợ được áp dụng
phổ biến. theo cách này, toàn bộ nợ phải trả của doanh nghiệp được chia
thành nợ phải trả ngắn hạn và nợ phải trả dài hạn.
Sự kết hợp nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần
thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp tạo
ra cấu trúc vốn. Do đó cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn
gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử
dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.
Cấu trúc vốn đề cập tới cách thức doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài
chính thông qua các phương án kết hợp phát hành cổ phiếu, trái phiếu, huy
động vốn cổ phần, đi vay ngân hàng, vay từ các nguồn khác.
Để sử dụng các nguồn tài trợ đều tốn khoản chi phí để huy động vì đối
với nhà đầu tư, khi cho doanh nghiệp sử dụng vốn thì nhà đầu tư sẽ mất cơ
6
hội sử dụng số vốn này vào các cơ hội đầu tư khác, điều đó cũng đồng nghĩa
là mất đi một khoản thu nhập mà nhà đầu tư có thể nhận được từ cơ hội khác
đó. Khi đó nhà đầu tư sẽ đòi hỏi một mức sinh lời khi đầu tư vốn cho doanh
nghiệp. Nhìn từ góc độ doanh nghiệp là người sử dụng vốn, tỷ suất sinh lời
đòi hỏi của nhà đầu tư chính là mức sinh lời tối thiểu mà dự án đạt được thì
mới thỏa mãn được đòi hỏi của nhà đầu tư, do đó nhà quản trị tài chính gọi
đó là chi phí sử dụng vốn. Vì vậy, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối
thiểu được gọi là cấu trúc vốn tối ưu giúp doanh nghiệp hoạch định các
chiến lược tối ưu để hoạt động.
Do cấu trúc vốn gồm có hai thành phần nợ và vốn nên để xem xét cấu
trúc vốn, các nhà quản trị thường quan tâm đến đòn bẩy tài chính.
2.1.3 Đòn bẩy tài chính:
2.1.3.1 Khái niệm
Đòn bẩy tài chính là thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong nguồn
vốn của doanh nghiệp nhằm hy vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở
hữu.
Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính doanh nghiệp được thể hiện ở hệ số
nợ. Doanh nghiệp có hệ số nợ cao thể hiện doanh nghiệp có đòn bẩy tài
chính ở mức độ cao và ngược lại. doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính càng
cao thì mức độ rủi ro trong hoạt động tài chính càng cao nhưng cơ hội gia
tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu càng lớn.
Cần lưu ý rằng, việc sử dụng đòn bẩy tài chính như sử dụng “con dao
hai lưỡi”. Nếu tổng tài sản không có khả năng sinh ra một tỷ suất lời đủ lớn
để bù đắp chi phí lãi vay nợ thì tỷ suất lợi nhuận do vốn chủ sở hữu làm ra
phải dùng để bù đắp sự thiếu hụt của khoản lãi vay phải trả.
Khả năng gia tăng lợi nhuận cao là điều mong ước của các chủ sở
hữu, trong đó đòn bẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý thường
dùng. Đòn bẩy tài chính là công cụ hữu ích để khuếch đại tỷ suất lợi nhuận
vốn chủ sở hữu hay gia tăng thu nhập một cổ phần, đồng thời cũng tiềm ẩn
sự gia tăng rủi ro cho chủ sở hữu. sự thành công hay thất bại này tùy thuộc
vào chiến lược của chủ sở hữu khi lựa chọn cơ cấu tài chính.
2.1.3.2 Chỉ số đo lường
7
Có khá nhiều chỉ số tài chính được sử dụng để đo lường đòn bẩy tài
chính của doanh nghiệp và việc lựa chọn chỉ số nào tùy thuộc vào ý nghĩa
mà chỉ số đó mang lại. Dưới đây là một số chỉ số thường gặp:
2.1.3.2.1
Tỷ lệ tổng nợ trên tài sản
Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản được sử dụng để xác định nghĩa vụ của
chủ doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Công thức tính tỷ
lệ tổng nợ trên tổng tài sản như sau:
Tỷ lệ tổng nợ trên tài sản =
Thông thường các chủ nợ muốn tỷ lệ tổng nợ trên tài sản vừa phải vì
tỷ số này càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh
nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số
này cao vì họ muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát
doanh nghiệp. Tỷ số này cao thể hiện sự bất lợi đối với các chủ nợ nhưng lại
có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng vốn sử dụng có khả năng sinh lợi cao. Tuy
nhiên, nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản quá cao, doanh nghiệp dễ bị rơi vào
tình trạng mất khả năng thanh toán.
Để có nhận xét đúng đắn về tỷ lệ tổng nợ trên tài sản cần phải kết hợp
với các tỷ số khác nhưng nếu tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản cao, chúng ta có
thể kết luận trong tương lai doanh nghiệp sẽ khó huy động tiền vay để tiến
hành kinh doanh, sản xuất.
2.1.3.2.2
Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính
của công ty. Nó cho ta biết về tỷ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ
sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai
nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được
sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Công
thức tính tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu như sau:
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu =
Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn
khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm
thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động. Thông thường, nếu hệ
8
số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ
yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ
chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ có
nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn
thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Tỷ lệ này càng lớn thì
khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp
càng lớn.
Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở
hữu có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có nên
doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp
càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao. Các
chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá kỹ tỷ lệ nợ để quyết
định có cho doanh nghiệp vay hay không.
2.1.3.2.3
Tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu biểu thị quan hệ giữa tổng tài sản của
một công ty với phần tài sản do cổ đông sở hữu. Tỷ lệ này chỉ ra khả năng
lợi dụng vốn của một công ty và lượng vốn vay được sử dụng để tài trợ cho
hoạt động kinh doanh của công ty. Tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu được
tình như sau:
Tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu =
Tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu quá cao cho thấy có thể công ty này
đã phải vay rất nhiều để duy trì hoạt động kinh doanh không mấy hiệu quả
của mình. Tuy nhiên, tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu cao cũng có thể chứng
tỏ rằng công ty này đã sử dụng vốn rất hiệu quả khi nó nhân được nguồn lực
kinh doanh của mình lên nhiều lần từ một số vốn cổ đông không lớn lắm.
Nếu thu nhập mà số vốn vay này tạo ra lớn hơn chi phí của nó (tiền lãi) thì
hiệu quả kinh doanh của công ty sẽ được nâng lên rõ rệt. nhưng bao giờ
cũng vậy, mỗi công ty cũng đều có một điểm hạn nhất định mà nếu số vay
vượt quá mức đó thì lợi nhuận biên tạo ra sẽ không thể bù đắp nổi chi phí sử
dụng vốn, kết quả là tổng lợi nhuận của công ty bị giảm sút, đẩy công ty vào
tình trạng nguy hiểm.
Ngược lại, tỷ lệ tài sản trên vốn chủ sở hữu thấp cho thấy đây là một
công ty rất mạnh, không cần đến vốn vay hoặc cũng có thể là một công ty
9
kinh doanh chắc ăn một cách thái quá, không dám vay vốn kinh doanh và
cam chịu bỏ qua những cơ hội kinh doanh tốt trên thị trường.
Nghịch đảo của tỷ lệ này là tỷ lệ của vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản,
gọi tắt là tỷ lệ vốn vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ này giúp xác định số tiền mà các cổ
đông sẽ nhận được trong trường hợp công ty bị thanh lý hoàn toàn. Tỷ lệ này
được tính theo số phần trăm của tổng tài sản công ty được ghi nhận trên
bảng cân đối kế toán.
2.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn
Kể từ khi Modigliani và Miller công bố bài nghiên cứu về cấu trúc
vốn 1958 đã tạo ra một sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu tài chính.
Từ đó các nghiên cứu đã phát triển thêm nhiều nhân tố mới trong nhiều thập
kỷ qua, như thuế (Modigliani và Millers, 1963; Miller, 1977), chi phí đại
diện (Jensen và Meckling, 1976; Myers, 1977) và các thông tin bất cân xứng
(Myers và Majluf, 1984). Kết quả của việc nhận định các nhân tố này đã xác
định rằng cấu trúc vốn nên xem xét sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí phát
sinh từ nợ. Như vậy các nghiên cứu đã nhận định cấu trúc vốn có ảnh hưởng
đến giá trị doanh nghiệp. Trong các nghiên cứu trên, luận văn sẽ thảo luận lý
thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng.
2.2.1. Lý thuyết đánh đổi:
Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, quyết định cấu trúc vốn của
doanh nghiệp có liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi ích tấm chắn thuế từ
nợ vay và chi phí kiệt quệ tài chính.
2.2.1.1 Tấm chắn thuế nợ vay
Khi doanh nghiệp vay nợ, sẽ tận dụng được lợi thế của tấm chắn
thuế từ nợ vay, bản chất của vấn đề này là lãi vay mà doanh nghiệp trả
cho chủ nợ được miễn thuế.
Tấm chắn thuế nợ vay có thể có giá trị đối với doanh nghiệp này
nhưng không có giá trị đối với doanh nghiệp khác. Các doanh nghiệp có
10
nhiều tấm chắn thuế nhưng không có khả năng chi trả lãi cho các chủ nợ
nên vay ít hơn các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi vững chắc hơn với
nhiều lợi nhuận có được từ tấm chắn thuế. Vì vậy, các doanh nghiệp có
nhiều lợi nhuận sẽ có khả năng nâng cao tỷ lệ nợ của họ nhiều hơn là công
ty ít lợi nhuận.
2.2.1.2 Chi phí kiệt quệ tài chính:
Mặt trái của vay nợ là vay càng nhiều nợ sẽ xuất hiện chi phí kiệt
quệ tài chính. Kiệt quệ tài chính có thể dẫn đến phá sản hoặc chỉ gây ra
rắc rối, khó khăn. Chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm chi phí phá sản và
kiệt quệ tài chính không đưa đến phá sản. Không có một tỷ lệ nợ tối ưu
đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, các doanh nghiệp sẽ có tỷ lệ nợ tối
ưu khác nhau.
2.2.1.3 Cân bằng lợi ích tấm chắn thuế nợ vay và chi phí kiệt quệ tài
chính:
Các doanh nghiệp luôn tìm cách tối ưu hoá tổng giá trị doanh
nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng lợi ích tấm chắn thuế nợ vay và chi
phí kiệt quệ tài chính để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu
vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình.
Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng
thêm thì hiện giá lợi ích tấm chắn thuế bằng hiện giá chi phí kiệt quệ tài
chính.
Lý thuyết đánh đổi giải thích được nhiều khác biệt về cấu trúc vốn
trong ngành nhưng không giải thích được tại sao các doanh nghiệp sinh
lợi nhất trong ngành thường có cấu trúc vốn với nợ vay ít.
Lý thuyết trật tự phân hạng đã giải thích được điều trái ngược trên.
2.2.2 Lý thuyết trật tự phân hạng:
11
Được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984), giải thích
những ảnh hưởng của sự bất cân xứng thông tin giữa trong và ngoài công
ty, nghiã là các nhà quản trị biết nhiều về các tiềm năng, rủi ro và giá trị
của công ty hơn các nhà đầu tư bên ngoài.
2.2.2.1 Phát hành nợ và cổ phần thường:
Các nhà quản trị biết về doanh nghiệp mình nhiều hơn các nhà đầu
tư từ bên ngoài, khi họ tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao, họ có thể
phát hành cổ phần. Nhưng phát hành cổ phần sẽ thường truyền tải thông
tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư, chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát
công ty, quyền phân chia thu nhập cao cho cổ đông mới, gây khó khăn
trong quản lý điều hành kinh doanh, gây bất lợi cho cổ đông cũ.
Do đó, các nhà quản trị tài chính sẽ quan tâm nợ vay hơn phát hành
cổ phần thường, chỉ phát hành khi kiệt quệ tài chính đe dọa.
2.2.2.2 Các hàm ý của trật tự phân hạng
Cấu trúc vốn được quyết định từ việc phân hạng tài trợ doanh
nghiệp. Trước hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính
nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, cuối cùng là phát hành vốn
cổ phần.
Lý thuyết này giải thích được tại sao các doanh nghiệp có lợi nhuận
nhiều hơn sẽ có xu hướng nợ ít hơn, vì họ không cần tiền tài trợ từ bên
ngoài. Ngược lại các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp sẽ sử dụng vốn vay
do không đủ nguồn lực tạo ra trong nội bộ và vì tài trợ nợ đứng đầu trong
trật tự phân hạng của tài trợ từ bên ngoài.
2.3 Một số nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn
2.3.1 Nghiên cứu của Samuel G.H. Huang và Frank M.Song (2002).
12
Nghiên cứu của Samuel G.H. Huang và Frank M.Song (2002), với tựa
đề: Xác định cấu trúc vốn, bằng chứng từ Trung Quốc. Mục đích của bài viết
này là xác định các yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp
Trung Quốc được liệt kê và điều tra liệu ở các nền kinh tế phát triển lớn nhất
và nền kinh tế chuyển đổi có những tính năng độc đáo nào. Cụ thể bài
nghiên cứu sẽ trả lời cho hai câu hỏi: Một là, các quyết định đòn bẩy tài
chính được thực hiện trong những nền kinh tế nơi mà quyền sở hữu tư nhân
là phổ biến và cơ chế thị trường đã được thực thi lâu năm. Hai là, các yếu tố
ảnh hưởng đến cấu trúc vốn ở các nước khác có ảnh hưởng tương tự trên các
doanh nghiệp Trung Quốc hay không.
Tác giả nêu lên đặc điểm nổi bật của kinh tế Trung Quốc khi nghiên
cứu: Một là, Trung Quốc đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế chỉ
huy sang nền kinh tế thị trường. Hai là, hầu hết các doanh nghiệp Trung
Quốc được liệt kê là doanh nghiệp nhà nước và nhà nước vẫn duy trì kiểm
soát ngay cả khi các doanh nghiệp đã trở thành doanh nghiệp đại chúng.
Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ hơn 1000 doanh nghiệp niêm yết của
Trung Quốc thời gian từ 1994 đến năm 2000.
2.3.2 Nghiên cứu của Jean J.Chen (2003)
Đề tài nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các doanh
nghiệp niêm yết của Trung Quốc. Bài viết này phát triển một nghiên cứu sơ
bộ để khám phá những yếu tố quyết định cơ cấu vốn của các doanh nghiệp
niêm yết của Trung Quốc. Nhiều người cho rằng một số lý thuyết cấu trúc
vốn hiện đại ở các nước phát triển đã di động đến Trung Quốc và một số yếu
tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn các doanh nghiệp phương tây cũng có liên
quan đến cấu trúc vốn các doanh nghiệp Trung Quốc.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Jean J.Chen đã chỉ ra rằng: không
phải lý thuyết đánh đổi và cũng không phải lý thuyết trật tự phân hạng cung
13
cấp lời giải thích cho việc lựa chọn cơ cấu vốn các doanh nghiệp ở Trung
Quốc. Các quyết định lựa chọn cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Trung
Quốc dường như tuân theo một trật tự mới: lợi nhuận giữ lại, vốn cổ phần,
cuối cùng là nợ dài hạn. Nguyên nhân là do các giả định thể chế cơ bản làm
cơ sở cho các mô hình phương tây không hợp lệ ở Trung Quốc. Các khác
biệt về thể chế quan trọng như hệ thống luật pháp điều chỉnh hoạt động của
các doanh nghiệp, các ngân hàng, thị trường chứng khoán, các hạn chế tài
chính trong lĩnh vực ngân hàng là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến việc lựa
chọn sử dụng nguồn vốn của các doanh nghiệp Trung Quốc. Trung Quốc
vẫn còn giữ một số tính năng của nền kinh tế kế hoạch tập trung. Nhà nước
vẫn là các bên liên quan chủ yếu của doanh nghiệp và nắm giữ phần lớn các
ngân hàng.
Một số các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn cấu trúc vốn của các
nước phương tây cũng xảy ra tương tự ở Trung Quốc như lợi nhuận, quy mô
doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng, tài sản thế chấp, tấm chắn thuế không phải
từ nợ.
2.3.3 Nghiên cứu của Lê Đạt Chí (2013):
Tác giả Lê Đạt Chí nghiên cứu và trao đổi “Các nhân tố ảnh hưởng
đến việc hoạch định cấu trúc vốn của các nhà quản trị tài chính tại Việt
Nam”
Bài nghiên cứu kiểm định những nhân tố giữ vai trò quan trọng trong
quyết định cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam giai đoạn 2007-2010. Nghiên cứu dựa trên nền tảng các lý
thuyết truyền thống về cấu trúc vốn (đánh đổi, trật tự phân hạng và thời điểm
thị trường), đồng thời xem xét vấn đề trong khuôn khổ lý thuyết tài chính
hành vi. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 6 nhân tố thực sự giữ vai trò quan trọng
là thuế (+), lạm phát (-), tỷ số giá trị thị trường trên giá sổ sách (-), đòn bẩy
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
luan_van_nhan_to_anh_huong_den_cau_truc_von_cua_cac_doanh_ng.pdf

