Luận văn Hoàn thiện cơ chế quản lý sử dụng xe công trong khu vực cơ quan hành chính sự nghiệp tỉnh Sóc Trăng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
TRẦN CÔNG HIỀN  
HOÀN THIỆN CƠ CHẾ QUẢN LÝ SỬ DỤNG XE  
CÔNG TRONG KHU VỰC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH  
SỰ NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG  
Chuyên ngành: Quản lý Công  
Mã số  
:60340403  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
TS. NGUYỄN HỮU LAM  
Thành Phố Hồ Chí Minh 2016  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan các đoạn trích dẫn, số liệu trong luận văn đều được dẫn  
nguồn, có độ tin cậy trong phạm vi tôi hiểu biết. Các số liệu khảo sát, các kết quả  
khảo sát đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công  
trình nghiên cứu nào đã có từ trước./.  
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 7 năm 2016  
Tác giả  
Trần Công Hiền  
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu,  
Viện Đào tạo sau Đại học, Khoa Quản lý Nhà nước cùng tất cả thầy cô tham gia  
giảng dạy lớp Quản lý công khóa 24 Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí  
Minh.  
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn thầy giáo TS.Nguyễn Hữu Lam đã trực  
tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn  
thành luận văn.  
Chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ Sở Tài chính, các sở, ban ngành tỉnh  
Sóc Trăng đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập để hoàn  
thành luận văn này./.  
iii  
MỤC LỤC  
LỜI CAM ĐOAN……………………………………………………………..  
i
LỜI CẢM ƠN…………………………………………………………………  
MỤC LỤC…………………………………………………………………….  
ii  
iii  
DANH MỤC BẢNG………………………………………………………….. vii  
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ………………………….  
1.1.Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………………  
1.2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu………………………………………..  
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………………  
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu………………………………………………………  
1.2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu…………………………………….  
1.2.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….  
1.2.5 Kết cấu luận văn………………………………………………………….  
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU  
TRƯỚC…………………………………………………………………………  
2.1. Khái niệm và đặc điểm tài sản công……………………………………..  
2.1.1 Khái niệm tài sản công …………………………………………….  
2.1.2 Đặc điểm tài sản công…………………………………………………..  
2.2 Phân loại tài sản công ……………………………………………………  
2.2.1. Phân loại theo công dụng của tài sản ………………………………….  
2.2.2. Phân theo đối tượng sử dụng ……………………………………  
2.3 Quá trình quản lý nhà nước đối với tài sản công trong cơ quan hành chính  
và đơn vị sự nghiệp……………………………………………………………  
2.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước về tài sản công……………………  
2.3.2 Nội dung quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính và đơn vị  
sự nghiệp………………………………………………………………………………...  
2.4. Cơ chế quản lý nhà nước đối với tài sản công…………………………….  
2.4.1 Sự xuất hiện của ngành quản lý công sản.........................................  
2.4.2 Trách nhiệm của quản lý tài sản công…………………………………  
1
1
2
2
2
2
3
4
5
5
5
5
6
6
6
7
7
8
9
9
10  
iv  
11  
16  
17  
18  
18  
19  
19  
21  
2.4.3 Mô hình quản lý công sản Malaysia .................................................  
2.5. So sánh với cơ chế và hệ thống quản lý tài sản của Việt Nam ………….  
2.6. Các bài nghiên cứu trước..............................................................................  
2.7. Cơ sở lý thuyết về quản lý xe công………………………………………  
2.7.1 Phân loại xe ô tô công theo tiêu chuẩn, định mức …………………  
2.7.2 Phân loại xe công theo cấp quản lý…………………………………  
2.7.3 Phân loại xe công theo đối tượng sử dụng…………………………….  
2.8 Quá trình quản lý nhà nước đối với xe công trong cơ quan hành chính và  
đơn vị sự nghiệp………………………………………………………………  
2.8.1 Quản lý quá trình hình thành xe công………………………………….  
2.8.2 Quản lý quá trình khai thác, sử dụng xe công...................................  
2.8.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài xe công……………………….  
2.9 Mục tiêu quản lý xe công trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự  
nghiệp…………………………………………………………………………  
2.9.1 Hệ thống các mục tiêu quản lý…………………………………………  
2.9.2 Các nguyên tắc, chuẩn mực quản lý nhà nước đối với xe  
công……..  
21  
21  
21  
22  
22  
22  
22  
22  
22  
22  
23  
2.9.3 Các công cụ quản lý xe công…………………………………………….  
2.10 Chỉ tiêu đánh giá hiệu lực cơ chế quản lý xe công………………………..  
2.10.1 Hiệu lực của cơ chế quản lý……………………………………………  
2.10.2 Độ nghiêm minh của cơ chế quản lý………………………………….  
2.10.3 Mức độ tự giác chấp nhận thực hiện cơ chế quản lý xe  
công……………………………………………………………………………………  
2.11 Một số tiêu chí về hiệu quả, hiệu suất quản lý xe công………………  
2.11.1. Đầu vào……………………………………………………………  
2.11.2. Đầu ra………………………………………………………………  
2.11.3. Hiệu quả………………………………………………………………  
2.12 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý sử dụng xe công…………………  
23  
23  
24  
24  
24  
v
2.12.1 Sự phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính 24  
sách, chế độ, quản lý xe công trong khu vực hành chính với thực tế  
2.12.2.Nguồn nhân lực quản lý……………………………………………  
2.12.3. Đối tượng sử dụng xe công…………………………………………  
25  
25  
2.12.4.Lãnh đạo các tổ chức công……………………………………………. 25  
2.12.5. Trách nhiệm, trách nhiệm và trách nhiệm phối hợp công khai…  
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU  
26  
27  
27  
28  
28  
28  
31  
3.1. Sơ đồ nghiên cứu…………………………………………………............  
3.1.1 Xem xét tư liệu nguồn ……………………………………………  
3.1.2 Nghiên cứu thử nghiệm ……………………………………………….  
3.1.3 Câu hỏi khảo sát ……………….………………………………………  
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG XE CÔNG TẠI CƠ  
QUAN HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG.  
31  
4.1. Thực trạng công tác quản lý sử dụng xe công trong cơ quan hành chính sự  
nghiệp tỉnh Sóc Trăng ……………………………………………………  
4.1.1 Cơ quan quản lý xe công…………………………………………………  
4.1.2 Những quy định cơ chế quản lý xe công trong khu vực hành chính  
sự nghiệp tỉnh Sóc Trăng…………………………………………………  
4.1.3. Tình hình quản lý sử dụng xe công tỉnh Sóc Trăng……  
31  
32  
33  
35  
39  
39  
39  
40  
41  
41  
42  
43  
4.1.4. Nội dung quản lý xe công trong cơ quan hành chính sự nghiệp...  
4.2. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý xe công……………  
4.3. Một số vấn đề còn tồn tại trong quản lý sử dụng xe công như sau…  
4.3.1 Quá trình hình thành mua mới…………………..…………………..  
4.3.2. Quá trình sử dụng …………………………………………………….  
4.3.3. Quá trình kết thúc thanh lý xe công………………………………..  
4.3.4. Nguyên nhân những hạn chế ………………………………………  
4.4. Kết quả khảo sát……………………………………………………….  
4.4.1. Các loại hình tổ chức để gửi khảo sát………………………………  
vi  
43  
46  
4.4.2. Mức độ nhận biết…………………………………………….  
4.4.3. Mức độ hiểu biết về quy định quản lý sử dụng xe công hiện  
nay…..  
48  
54  
54  
54  
56  
58  
58  
4.4.4. Mức độ chấp nhận………………………………………………………  
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………  
5.1. Đề xuất giải pháp…...................................................................................  
5.1.1. Đối với đầu vào mua sắm xe công………………………………….  
5.1.2 Quá trình sử dụng………………………………………………………  
5.1.3 Công tác thanh lý xe công…………………………………………….  
5.1.4 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao mức độ hiểu  
biết về quy định quản lý xe công  
59  
59  
5.1.5 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện quản lý  
và sử dụng xe công trong khu vực hành chính sự nghiệp  
5.1.6 Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong đầu tư, mua sắm, quản  
lý, sử dụng xe công trong khu vực hành chính sự nghiệp.  
5.2. Kiến nghị…………………………………………………………………  
5.2.1 Kiến nghị trung ương………………………………………………….  
5.2.2 Kiến nghị đối với tỉnh Sóc Trăng……………………………………..  
Kết luận………………………………………………………………………..  
Tài liệu tham khảo.  
60  
60  
61  
62  
Bảng câu hỏi khao sát.  
Phụ lục 1 Câu hỏi khảo sát và lý do khảo sát.  
Phụ lục 2 Danh sách đơn vị khảo sát.  
Phụ lục 3 Xe công của cơ quan hành chính sự nghiệp cấp tỉnh.  
Phụ lục 4 Xe chuyên dung.  
Phụ lục 5 Kết quả khảo sát.  
vii  
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG  
Ký hiệu và tên bảng  
Stt  
1
Trang  
27  
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ nghiên cứu  
2
33  
Bảng 4.1.3a Xe công hiện có trong cơ quan hành chính sự nghiệp  
Bảng 4.1.3b: Xe công hiện có của các huyện, thị xã thành phố  
Bảng 4.1.3c: Xe ô tô chuyên dùng.  
3
34  
4
34  
5
6
Bảng 4.1.4a: Tình hình mua xe công tỉnh Sóc Trăng năm 2013-2015  
Bảng 4.1.4c: Tình hình sửa chữa xe công tỉnh Sóc Trăng năm 2013-  
2015  
36  
37  
7
8
Bảng 4.1.4d: Tình hình điều chuyển xe công năm 2013-2015  
Bảng 4.1.4e Tình hình thanh lý xe công tỉnh Sóc Trăng năm 2013-  
2015  
38  
39  
9
Bảng 4.4.1 Mô hình tổ chức khảo sát.  
43  
1
CHƯƠNG 1  
BỐI CẢNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1 Tính cấp thiết của đề tài  
Tài sản công không còn được xem là một hoạt động cung cấp dịch vụ công,  
mà còn được coi là một thành phần đo lường của kế hoạch tổ chức, sẽ được cung  
cấp một cách hiệu quả và hiệu quả như tất cả các nguồn lực tổ chức khác (Harris,  
2010).  
Quản lý tài sản công là một phần trong công tác quản lý tài chính công.  
Việc quản lý tốt, hiệu quả góp phần vào hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức.  
Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng tài sản hiện nay vẫn còn bọc lộ nhiều hạn chế, chưa  
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đặt biệt là quản lý, sử dụng xe công. Vấn đề này  
thường xuyên phản ánh trên các diễn đàn Quốc hội, báo chí và là gánh nặng của các  
nhà quản lý về tính hiệu quả của nó. Theo số liệu tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài  
sản Nhà nước (Bộ Tài chính, 2015) cả nước có 36.897 xe ô tô công đang được sử  
dụng trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp (chưa bao gồm xe của các cơ  
quan, đơn vị thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các doanh nghiệp Nhà nước), với  
tổng nguyên giá gần 20 nghìn tỷ đồng, giá trị còn lại khoảng gần 6.000 tỷ đồng.  
Trong đó, xe phục vụ chức danh chiếm 2,36%; xe phục vụ công tác chung chiếm  
66,29%; xe chuyên dùng chiếm 31,34% tổng số xe.  
Theo số liệu tại cơ sở dữ liệu tài sản tỉnh Sóc Trăng (Sở Tài chính, 2015)  
toàn tỉnh hiện có 199 xe với tổng nguyên giá gần 132 tỷ đồng. Trong đó xe phục vụ  
chung 155 xe, xe chuyên dùng 44 xe. Công tác quản lý, sử dụng xe ô tô công tỉnh  
Sóc Trăng đã cơ bản được thực hiện nề nếp, tiết kiệm và hiệu quả đồng thời đáp ứng  
yêu cầu hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị  
được giao. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn việc điều chuyển xe ô tô giữa các đơn vị  
không đúng thẩm quyền quy định; việc thỏa thuận, mua sắm xe chuyên dùng chưa  
được chặt chẽ; tiêu chuẩn định mức quy định chưa phù hợp với một số cơ quan, đơn  
vị; chi phí cho việc mua sắm, sử dụng xe khá lớn trong điều kiện ngân sách còn khó  
khăn; việc sử dụng xe ô tô công vào việc riêng, sử dụng xe sai đối tượng, sử dụng  
2
xe đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc với các chức danh không đủ tiêu chuẩn định  
mức vẫn diễn ra.  
Để việc quản lý xe công ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn, đảm bảo đúng  
tiêu chuẩn, định mức và mục đích sử dụng là vấn đề mà tỉnh Sóc Trăng hết sức quan  
tâm. Muốn vậy cần phải có những nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý  
sử dụng xe công trong thời gian qua, cũng như mức độ nhận thức, am hiểu và chấp  
nhận thực hiện những quy định quản lý xe công hiện nay như thế nào. Từ đó có  
những giải pháp để hoàn thiện việc quản lý xe công đạt hiệu quả, tránh lãng phí chi  
tiêu công. Với những lý do trên tôi chọn đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý sử  
dụng xe công trong khu vực hành chính sự nghiệp tỉnh Sóc Trăng”.  
1.2. Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu  
1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu 1: Thực trạng quản lý xe công trong khu vực hành chính sự  
nghiệp tỉnh Sóc Trăng.  
Mục tiêu 2: Nhận định những nội dung quản lý xe công và các nhân tố ảnh  
hưởng đến quá trình quản lý, sử dụng xe công như đối tượng quản lý sử dụng thông  
qua mức độ nhận thức, am hiểu hiểu và chấp nhận tuân thủ thực hiện những quy  
định để quản lý xe công.  
Mục tiêu 3: Đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm quản lý xe công đạt  
hiệu quả nhằm tránh thất thoát lãng phí trong chi tiêu công.  
1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu  
a) Quản lý xe công trong khu vực hành chính sự nghiệp bao gồm những nội  
dung nào?  
b) Những nhân tố nào tác động đến việc quản lý sử dụng xe công?  
c) Thực trạng công tác quản lý sử dụng xe ô tô công trong khu vực hành  
chính sự nghiệp trong thời gian qua như thế nào?  
d) Cần những giải pháp nào để hoàn thiện việc quản lý sử dụng xe ô tô  
công trong khục vực hành chính sự nghiệp tỉnh Sóc Trăng?  
1.2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý sử dụng xe ô tô công đối với cơ  
quan hành chính sự nghiệp từ khâu hình thành đến khâu kết thúc.  
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào quản lý sử dụng xe công các cơ quan  
hành chính sự nghiệp và đánh giá quản lý sử dụng xe công hiện nay nhìn từ mức độ  
hiểu biết và chấp nhận thực hiện. Đề tài nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng năm  
2013-2015.  
1.2.4. Phương pháp nghiên cứu  
Trên cơ sở số liệu về tình hình quản lý sử dụng xe công của tỉnh Sóc Trăng.  
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và định tính để đánh giá nhận xét những thực  
trạng quản lý xe công trong thời gian qua để thấy được vấn đề còn tồn tại và có kiến  
nghị phù hợp.  
Vấn đề còn tồn tại và những kiến nghị trong thời gian tới được nghiên cứu  
trên cơ sở thăm dò ý kiến của các đơn vị sử dụng xe công ở các sở ban ngành cấp  
tỉnh về cơ chế và các nhân tố tác động đến quản lý xe công. Ý kiến dựa trên cơ chế  
quản lý xe công hiện hành so với thực tế của đơn vị đang sử dụng. Các thăm dò,  
đánh giá tài liệu xác định các yếu tố chính trong việc phát triển các bảng câu hỏi để  
đánh giá nhận thức và sự hiểu biết về thực hành quản lý xe công. Bảng câu hỏi được  
lập 48 phiếu gửi cho 24 cơ quan đơn vị trong tỉnh, mỗi cơ quan đơn vị trả lời hai  
phiếu. Tùy theo mức độ trả lời và số phiếu thu lại được sẽ tổng hợp phân tích  
a) Thu thập số liệu: Tổng số lượng xe ô tô hiện có, tăng, giảm xe ô tô công  
trên phần mềm đăng ký tài sản của Bộ Tài Chính- cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản  
nhà nước tỉnh Sóc Trăng (2013-2015), Báo cáo tình quản lý tài sản Sở Tài chính.  
b) Phương pháp xử lý thông tin: Số liệu xử lý bằng Excel trên máy. Đối với  
thông tin là số liệu định lượng tiến hành tính toán các chỉ tiêu cần thiết như số tuyệt  
đối, phần trăm và lập thành bảng để nghiên cứu.  
c) Phương pháp phân tích thông tin, số liệu:  
+Mục tiêu 1: Vận dụng những cơ chế chính sách, quản lý sử dụng xe công  
căn cứ làm cơ sở lý luận để phân tích đánh giá thực trạng quản lý sử dụng xe công  
hiện nay.  
4
Phương pháp số tuyệt đối: là hiệu số hai chỉ tiêu xe thực tế (y1) và chỉ tiêu  
xe định mức (y0) Số tuyệt đối = y1-y0  
Phương pháp số tương đối: Là kết quả so sánh giữa hai chỉ tiêu xe thực tế  
(y1) chỉ tiêu xe định mức (y0). Trong đó chỉ tiêu y1, y0 là mức độ cần nghiên cứu.  
Số tương dối=y1/y0.  
Số tương đối thực hiện đúng theo định mức xe ô tô=Tổng xe ô tô thực  
tế/tổng xe theo định mức x 100%.  
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm mô về những vấn đề còn tồn  
tại trong quản lý sử dụng xe công.  
+ Mục tiêu 2: Sử dụng phương pháp định tính và thống kê mô tả phân tích  
kết quả khảo sát đánh giá mức độ nhận biết, hiểu biết và chấp nhận thực hiện quy  
định quản lý xe công hiện nay.  
+Mục tiêu 3: Trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu 1 và mục tiêu 2 để phân tích  
lựa chọn những giải pháp phù hợp để quản lý xe công hiệu quả tránh thất thoát lãng  
phí chi tiêu công.  
1.2.5 Kết cấu luận văn  
Chương 1: Bối cảnh vấn đề nghiên cứu.  
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước.  
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu.  
Chương 4: Thực trạng công tác quản lý sử dụng xe công tại cơ quan hành  
chính sự nghiệp tỉnh Sóc Trăng.  
Chương 5: Giải pháp và kiến nghị.  
Tóm tắt chương 1: Nội dung chương một tập trung vào sự cần thiết, mục  
tiêu và phương pháp nghiên cứu của đề tài tính cấp thiết của đề tài. Qua đó để có cơ  
sở và phương pháp khoa học tiến hành nghiên cứu các chương tiếp theo.  
5
CHƯƠNG 2  
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC  
2.1. Khái niệm và đặc điểm tài sản công  
2.1.1 Khái niệm tài sản công  
Tài sản công theo Hiến pháp năm 1992 được cho là: Đất đai, rừng núi, sông  
hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và  
vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành,  
lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh  
cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước sở hữu. Thuật ngữ "tài  
sản" có thể được sử dụng để mô tả nhiều loại khác nhau của các tài sản bao gồm tài  
sản tài chính, tài sản cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc, thiết bị và tài sản.  
Các tài sản cả hữu hình và vô hình trong đó bao gồm các tài sản tài chính như  
tiền bạc, tài sản trí tuệ như kiến thức và tài sản vật chất như các tòa nhà (Fernholz  
và Fernholz (2006) và Howarth (2006).  
Liên đoàn Kế toán Quốc Tế (1995) trong nghiên cứu của họ đã phân biệt tài  
sản sở hữu công cộng là tài sản tài chính bao gồm tiền mặt, các khoản phải thu,  
quyền theo hợp đồng để trao đổi cụ thể tài chính với doanh nghiệp khác dưới điều  
kiện thuận lợi, và các công cụ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp khác như cổ phiếu  
trong Souls Private Equity Limited (DNNN), và các tài sản vật chất trong đó bao  
gồm hàng tồn kho, tài sản cố định lâu dài, cơ sở hạ tầng, tài sản di sản, tài sản quốc  
phòng, tài nguyên thiên nhiên, tài sản cộng đồng và các tài sản vô hình. Tài sản  
công có thể được mô tả như bất kỳ tài sản thuộc hoặc dưới sự kiểm soát của Chính  
phủ và phân loại tài sản di chuyển như hàng tồn kho, bất động sản như đất đai và  
nhà cửa, tài sản sống như thực vật động vật và tài sản trí tuệ. Đối với phạm vi  
nghiên cứu này, phạm vi của các tài sản được giới hạn trong việc nghiên cứu các  
loại xe công.  
2.1.2 Đặc điểm tài sản công  
Thứ nhất, tài sản công được đầu tư xây dựng, mua sắm bằng tiền của ngân  
sách nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách nhà nước.  
6
Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với chức năng,  
nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tài sản công là cơ sở vật chất để phục  
vụ hoạt động của các cơ quan, đơn vị, tổ chức. Do vậy, sự hình thành và sử dụng tài  
sản công tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức.  
Đối với cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị hành chính tài sản công là điều  
kiện vật chất, là phương tiện để cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính thực hiện  
chức năng, nhiệm vụ đã được giao của mình. Tài sản công của các cơ quan này lớn  
nhất là trụ sở làm việc, các phương tiện giao thông vận tải phục vụ đi lại công tác,  
các trang thiết bị, máy móc và phương tiện làm việc.  
Đối với các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội: tài sản công chỉ đơn  
thuần là phương tiện để các tổ chức này thực hiện các hoạt động thuộc chức năng,  
nhiệm vụ của mình nhằm phát huy vai trò của tổ chức này. Tài sản công của tổ chức  
này cũng như các cơ quan quản lý nhà nước là công sở, phương tiện giao thông vận  
tải phục vụ công tác và các máy móc, trang thiết bị văn phòng và các tài sản khác.  
Số lượng tài sản công tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy và số lượng cán bộ,  
công chức, viên chức trong các tổ chức.  
2.2 Phân loại tài sản công  
2.2.1. Phân loại theo công dụng của tài sản  
Theo cách phân loại này, tài sản công được chia thành ba nhóm chính: trụ sở  
làm việc, phương tiện đi lại, máy móc, thiết bị và các tài sản khác. Ở gốc độ đề tài  
nghiên cứu là phương tiện đi lại: Xe công gồm xe từ 16 chỗ ngồi trở xuống; xe chở  
khách; xe ô tô tải; xe ô tô chuyên dùng như: xe cứu thương, xe cứu hoả, xe chở tiền,  
xe phòng chống dịch, xe phòng chống lụt bão, xe hộ đê ...tàu xuồng ca nô,  
2.2.2. Phân theo đối tượng sử dụng  
Một là, tài sản công dùng cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà  
nước gồm: tài sản làm việc, nhà công vụ; phương tiện đi lại; máy móc, thiết bị và  
các tài sản khác trực tiếp phục vụ hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Là  
cơ quan công quyền nên các cơ quan hành chính nhà nước được ngân sách nhà  
nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (gồm cả kinh phí mua sắm, sửa chữa tài  
7
sản). Về nguyên tắc, các cơ quan hành chính được bình đẳng sử dụng tài sản phù  
hợp với chức năng nhiệm vụ được giao. Việc quản lý tài sản phải tuân thủ theo chế  
độ, chính sách quản lý chung của Nhà nước như: tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài  
sản, chế độ báo cáo, mua sắm, bán thanh lý tài sản... đồng thời phải chịu sự kiểm  
tra, giám sát của Nhà nước trong suốt quá trình sử dụng. Nhà nước quản lý toàn  
diện đối với tài sản do cơ quan hành chính nhà nước sử dụng, ở tất cả các khâu theo  
vòng đời tồn tại của tài sản gồm: đầu tư, mua sắm; bố trí sử dụng, mục đích sử  
dụng, báo cáo thống kê, kiểm kê, chuyển đổi công năng, thanh lý tài sản.  
Hai là, tài sản công dùng cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp: là những  
tài sản mà nhà nước giao cho các đơn vị sự nghiệp trực tiếp sử dụng để thực hiện  
các mục tiêu sự nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.  
Ba là, tài sản công dùng cho hoạt động của tổ chức chính trị, các tổ chức  
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phục vụ cho hoạt  
động của tổ chức, bao gồm: tài sản làm việc, phương tiện đi lại, máy móc, thiết bị và  
những tài sản khác.  
2.2.3. Phân loại theo đặc điểm hao mòn tài sản  
Tài sản hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng bị hao mòn qua thời gian như:  
máy móc thiết bị, phương tiện đi lại  
Tài sản không bị hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng mà cơ bản vẫn giữ được  
hình dạng ban đầu như: đất đai, quyền sử dụng đất, cây lâu năm…  
2.3 Quá trình quản lý nhà nước đối với tài sản công trong cơ quan hành  
chính sự nghiệp  
2.3.1. Khái niệm về quản lý nhà nước về tài sản công  
Quản lý tài sản là quản lý quá trình hình thành tài sản cho đến khi kết thúc,  
nhằm bảo đảm tài sản phục vụ một cách hiệu quả đúng với mục tiêu, chiến lược của  
các tổ chức.  
a) Quản lý nhà nước đối với tài sản công có thể được định nghĩa là quá trình  
đưa ra quyết định và thực hiện liên quan đến việc mua, sử dụng và thanh lý tài sản  
(Kaganova và Mckellar, 2006).  
8
b) Là một quá trình hướng dẫn sự bắt đầu, thu thập, sử dụng bảo trì và thanh  
lý tài sản, để tận dụng tối đa tiềm năng cung cấp dịch vụ của chúng quản lý các rủi  
ro liên quan và chi phí trong đời sống đầy đủ của các tài sản ( Leong, 2004).  
c) Là một quá trình có cấu trúc nhằm đảm bảo giá trị tốt nhất tài sản sở hữu  
trong việc phục vụ nhu cầu chiến lược của chính quyền địa phương (Locat  
Gopvermment Asset Managenment Guideline, RICS/ODPM, 2005).  
d) Là một cấu trúc, toàn diện và tích hợp các phương pháp tiếp cận cho việc  
sắp xếp và quản lý theo thời gian yêu cầu cung cấp dịch vụ và hiệu quả hoạt động  
của các tài sản bất động sản để đáp ứng các mục tiêu và trình điều khiển trong một  
tổ chức chính quyền trung ương (Đại học Leeds, 2006).  
e) Một chiến lược quá trình cải tiến liên tục để cải thiện sự sẵn có, an toàn,  
độ tin cậy và tuổi thọ của tài sản đó là các hệ thống, cơ sở vật chất, trang thiết bị và  
quy trình ( Davis, 2007).  
2.3.2 Nội dung quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính và đơn vị sự  
nghiệp  
a) Quản lý quá trình hình thành tài sản: Khi cơ quan, đơn vị được thành lập,  
cùng với quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ công  
chức; cơ quan, đơn vị được cấp một số tài sản gồm: tài sản làm việc, phương tiện đi  
lại và các tài sản khác...Bên cạnh tài sản được cấp, cơ quan, đơn vị được đầu tư xây  
dựng mới, mua sắm tài sản từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc các nguồn khác được  
phép sử dụng theo quy định của pháp luật.  
Hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ được giao đơn vị lập kế hoạch bổ sung tài  
sản; việc bổ sung tài sản hàng năm được thực hiện như sau: Mua sắm từ nguồn ngân  
sách nhà nước hoặc các nguồn khác được phép sử dụng theo quy định của pháp  
luật; tiếp nhận tài sản từ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân khác hoặc thu hồi từ các dự  
án đã kết thúc.  
b) Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản: Đây là khâu có ý nghĩa quan  
trọng trong việc phát huy hết vai trò của tài sản công. Quản lý khâu này là thực hiện  
quản lý tài sản công theo mục đích, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; quản lý quá trình  
9
thu hồi, điều chuyển, tài sản từ đơn vị này sang đơn vị khác; quản lý việc bảo  
dưỡng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản nhằm duy trì hoạt động của tài sản công,  
đảm bảo cho việc sử dụng tài sản công có hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng được nhu cầu  
công tác của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp; nội dung khâu này tập trung  
vào một số vấn đề sau: (i) giao tài sản cho các đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm trực  
tiếp quản lý, sử dụng; xây dựng và ban hành nội quy, quy chế quản lý tài sản công;  
(iii) mở sổ sách kế toán theo dõi tình hình biến động của tài sản công; (iv) thực hiện  
chế độ kê khai, đăng ký, báo cáo, kiểm kê đột xuất và định kỳ tài sản công theo quy  
định của pháp luật; (v) kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình quản lý, sử dụng tài  
sản công; (vi) bảo dưỡng, sửa chữa tài sản công theo yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm  
sử dụng; (vii) điều chuyển, bán, chuyển đổi sở hữu tài sản công.  
c) Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản công: Tài sản công đưa vào sử  
dụng sau một thời gian nhất định đều có quá trình kết thúc để thay thế bằng tài sản  
khác (trừ đất đai và một số công trình có tính chất tài sản lâu bền khác). Khi tài sản  
công hết thời gian sử dụng, đã hao mòn hết hoặc hư hỏng không còn sử dụng được  
thì phải được tiến hành thanh lý để thu hồi phần giá trị có thể thu hồi được cho ngân  
sách nhà nước và đồng thời đó cũng là căn cứ để chuẩn bị đầu tư, mua sắm tài sản  
mới.  
2.4. Cơ chế quản lý nhà nước đối với tài sản công  
2.4.1 Sự xuất hiện của ngành quản lý công sản  
Quản lý tài sản của khu vực công có thể được xem như là một phong trào  
song song với việc quản lý tài sản bất động sản của công ty khu vực tư nhân  
(CREAM). Simons (1993) cùng cộng sự Kaganova và Nayyar-Stone (2000) đồng ý  
rằng khu vực công cần áp dụng các phương pháp và kỹ thuật quản lý tài sản của các  
tập đoàn bất động sản.  
Cooper (1993) cũng đồng ý rằng có một yêu cầu mà các tổ chức khu vực  
công thông qua các thực hành kinh doanh khu vực tư nhân và trách nhiệm nhiều hơn  
cho vai trò và hoạt động của mình bằng cách yêu cầu họ báo cáo một cách toàn diện  
hơn.  
10  
Michael (2004) chỉ ra những thách thức quản lý tài sản cho các danh mục  
đầu tư của chính phủ trung ương Anh trong đó bao gồm tái chế vốn từ việc bán tài  
sản thừa, sự cần thiết của việc phát triển các chiến lược quản lý tài sản và liên kết  
chúng với kế hoạch hoạt động và đảm bảo quản lý cấp cao hiểu trách nhiệm của  
mình đối với các bộ phận quản lý tài sản của họ.  
Tại Mỹ, vào đầu những năm 1980, quản lý tài sản ra đời khi các thành phố  
Denver, Colorado và San Diego, California đã thông qua một số phương pháp quản  
lý bất động sản công cộng như là một tài sản sản xuất hoặc một tài sản giá trung lập.  
Một số thành phố bắt đầu quản lý nhà nước sở hữu và sử dụng tài sản hiệu quả hơn  
và xử lý tài sản dư thừa để giảm bớt thâm hụt ngân sách.  
2.4.2 Trách nhiệm của quản lý tài sản công  
Một thành phần quan trọng của quản lý tài sản là để có một tầm nhìn chiến  
lược trong đó tài sản được giữ lại tốt nhất và hiệu quả khai thác, cũng như để xác  
định những người cần được xử lý để tạo ra nguồn lực để tái đầu tư (Lyons, 2004).  
Báo cáo của Đại học Leeds (2006) cho thấy rằng tiền tiết kiệm hàng năm  
trong chính quyền trung ương chi phí bất động sản của hơn 150 triệu £ là có thể với  
hiệu quả tiết kiệm thêm lên đến 380 triệu £ mỗi năm từ các chiến lược nơi làm việc  
và phong cách làm việc linh hoạt. Nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các mối liên  
kết giữa các chiến lược và hoạch định nguồn lực tài sản, trách nhiệm quản lý tài sản  
rõ ràng trong các cơ quan, việc sử dụng các số liệu hiệu suất để theo dõi tiến độ và  
hiệu quả sử dụng nơi ăn nghỉ với việc xử lý không gian dư thừa và việc áp dụng tiết  
kiệm các chiến lược nơi làm việc được khuyến khích.  
Summerell (2005) cho thấy rằng bằng cách áp dụng các quy trình quản lý tài  
sản, chính quyền địa phương có thể nâng cao hiệu quả và hiệu suất cung cấp dịch vụ  
thông qua việc giảm và hoàn toàn có thể kiểm tra chi phí hoạt động, giảm tỷ lệ trống  
và cải thiện khoảng thời gian giao hàng, giá trị quản lý tốt hơn cũng như di chuyển  
thấp hơn chi phí.  
Lemer (1999) chỉ ra rằng một trong những thách thức đối với việc quản lý tốt  
hơn tài sản công là họ được quản lý bởi các cơ quan khác nhau và ở nhiều cấp thẩm  
11  
quyền. Cơ quan quản lý có liên quan đến các quy định, quy trình và chính sách của  
mình, mà đôi khi mâu thuẫn với nhau, bởi vì họ có những mục tiêu riêng của họ và  
có ít sự phối hợp giữa chúng. Priest (2006) đồng ý rằng sự thiếu phối hợp giữa các  
ban ngành bất động sản và các đơn vị dịch vụ công cộng có thể dẫn đến sự mất cân  
bằng giữa cung và cầu của các dịch vụ công cộng. NAO (2007) cũng đồng ý rằng,  
để nâng cao hiệu quả, điều quan trọng là một bộ phận cần phối hợp hoạt động với  
các phòng ban khác. Trung ương cần cung cấp hướng dẫn mạnh hơn và giúp đỡ  
thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả và sở hữu danh mục đầu tư cá nhân.  
Các yêu cầu quan trọng để quản lý tài sản tốt hơn đã được ghi nhận là sự cam  
kết của các nhà quản lý cao cấp để quản lý tài sản và thay đổi phong cách làm việc,  
tình trạng thiếu cán bộ quản lý tài sản có kinh nghiệm, không đáng tin cậy của dữ  
liệu và sự vắng mặt của chia sẻ chỗ ở của công chúng các cơ quan trên ranh giới tổ  
chức (The Operational Effciency Review, 2009).  
2.4.3 Mô hình quản lý công sản Malaysia  
Các tổ chức khu vực công cộng của Malaysia bao gồm các chính phủ liên  
bang, chính quyền bang, chính quyền địa phương, các cơ quan pháp lý. Trong bối  
cảnh quản lý tài sản của Malaysia, chủ yếu tập trung vào các hoạt động xây dựng có  
liên quan đến quản lý bảo trì, quản lý không gian hoặc sử dụng các yêu cầu về  
không gian và quản lý an ninh. Bên cạnh đó, cũng đảm nhận việc định giá tài sản,  
mua lại và xử lý mà thường tập trung vào sự phát triển của các tòa nhà mới.  
Theo Yusdira (2013), “The Effectiveness of Public Sector Asset  
Management in Malaysia” vào ngày 31 tháng ba năm 2009, Chính phủ Malaysia đã  
ban hành và đưa ra một chính sách quản lý tài sản của Chính phủ để vạch ra những  
định hướng và thực hiện các tài sản của Chính phủ. Chính sách này là sự khởi đầu  
của một kế hoạch quản lý tài sản tổng thể để đảm bảo rằng tài sản của chính phủ sẽ  
tiếp tục là niềm tự hào của dân tộc và có khả năng cung cấp các lợi ích tiếp cho các  
thế hệ tương lai. Các mục tiêu của chính sách quản lý tài sản của Chính phủ là phù  
hợp với nỗ lực của chính phủ để tạo ra văn hóa đầu tiên bảo trì lớp học, mà phù hợp  
với sự phát triển cơ sở hạ tầng tài sản lớp học đầu tiên mà đã, đang và sẽ được thực  
12  
hiện tại Malaysia. Giải thích vai trò và cam kết để đảm bảo tài sản được quản lý  
chiến lược và hệ thống cung cấp dịch vụ chất lượng cho quốc gia của Chính phủ.  
Chính sách phục vụ như một hướng dẫn để được sử dụng bởi tất cả các cơ quan  
Chính phủ thông qua các phương pháp tiếp cận Quản lý tài sản tổng thể để các lợi  
ích và hiệu quả sử dụng tài sản đạt mức tối ưu. Malaysia Total Asset Management  
Manual (TAMM).  
Nội dung của (TAMM) là những cơ chế quản lý tài sản của chính phủ quy  
định từ khâu hình thành, sử dụng đến quá trình kết thúc tài sản bao gồm là tài sản  
đất đai, tài sản xây dựng và các tài sản cơ sở hạ tầng bao gồm đường giao thông,  
thoát nước và hệ thống thoát nước. Tất cả các cơ quan chính phủ trung ương đang  
trong quá trình tích hợp các tài sản của họ vào hệ thống đăng ký quản lý tài sản duy  
nhất. Hệ thống đăng ký quản lý tài sản này được gọi là di chuyển có hệ thống quản  
lý tài sản (MySPATA). Hệ thống này được phát triển bởi Malaysia hành chính hiện  
đại hoá và Kế hoạch Quản lý Unit (MAMPU) và với Sở Công chính (PWD) như các  
chuyên gia về vấn đề và chủ sở hữu của hệ thống. Mục đích của MySPATA là tạo ra  
một cơ sở dữ liệu chứa toàn diện và chính xác các thông tin phi tài sản di chuyển  
cho quản lý và giám sát hệ thống, tích hợp và dễ tiếp cận. Chính phủ Malaysia đã  
cam kết sẽ cung cấp cho các công dân với các dịch vụ chất lượng bằng cách cung  
cấp các đặc tính quản lý đúng nơi do:  
- Mỗi cơ quan chịu trách nhiệm về tính chính phủ dưới sự điều khiển của nó;  
- Tất cả tài sản của chính phủ phải được xử lý đúng cách thông qua quản lý  
tài sản trong các cách tiếp cận có hệ thống và chiến lược;  
- Mỗi cơ quan phải thực hiện phương pháp TAMM trong việc quản lý các tài  
sản của chính phủ.  
Các mục tiêu của chính sách quản lý tài sản của Malaysia bao gồm việc tạo  
ra các tài sản để đáp ứng nhu cầu của các dịch vụ chính phủ, quản lý tài sản được  
thực hiện một cách hệ thống, toàn diện và bền vững để đạt được lợi ích tối ưu của  
các tài sản, tính sẵn có của các tài sản thông tin trong một hệ thống, toàn vẹn cấu  
trúc dễ tiếp cận và thực hành của TAMM đang được thực hiện và giám sát.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 92 trang yennguyen 10540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Hoàn thiện cơ chế quản lý sử dụng xe công trong khu vực cơ quan hành chính sự nghiệp tỉnh Sóc Trăng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_hoan_thien_co_che_quan_ly_su_dung_xe_cong_trong_khu.pdf