Luận văn Di cư lao động nông thôn – đô thị từ góc độ người ở lại (Nghiên cứu tại xã Hoà Phú, huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên)

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG  
DI CƯ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ  
TỪ GÓC ĐỘ NGƯỜI Ở LẠI  
(NGHIÊN CỨU TẠI XÃ HOÀ PHÚ,  
HUYỆN TÂY HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN)  
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC  
HÀ NỘI - 2018  
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM  
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI  
TRẦN THỊ THANH PHƯƠNG  
DI CƯ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN – ĐÔ THỊ  
TỪ GÓC ĐỘ NGƯỜI Ở LẠI  
(NGHIÊN CỨU TẠI XÃ HOÀ PHÚ,  
HUYỆN TÂY HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN)  
Ngành:Xã hội học  
Mã số: 8.31.03.01  
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC  
GS.TS. ĐẶNG NGUYÊN ANH  
Hà Nội - 2018  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu phân  
tích trong luận văn là trung thực. Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng  
được công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Luận văn đã thừa kế các kết quả  
nghiên cứu của một số nghiên cứu khác dưới hình thức trích dẫn. Các nguồn  
trích dẫn đã được liệt kê trong mục tài liệu tham khảo của luận văn.  
Người thực hiện  
Trần Thị Thanh Phương  
MỤC LỤC  
MỞ ĐẦU................................................................................................... 1  
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA ĐỀ  
TÀI......................................................................................................... 21  
1.1. Cơ sở lý luận...................................................................................... 21  
1.2. Cơ sở thực tiễn................................................................................... 30  
phát triển kinh tế nông thôn....................................................................... 32  
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ XU HƯỚNG DI CƯ LAO ĐỘNG NÔNG  
THÔN – THÀNH THỊ TẠI XÃ HÒA PHÚ, HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH  
PHÚ YÊN ............................................................................................... 41  
2.1. Thực trạng, đặc trưng di cư lao động tại xã Hòa Phú............................ 41  
2.2. Xu hướng di cư lao động nông thôn- đô thị tại xã Hòa Phú, huyện Tây  
Hòa, tỉnh Phú Yên .................................................................................... 48  
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA DI CƯ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN – ĐÔ  
THỊ ĐẾN ĐỜI SỐNG HỘ GIA ĐÌNH.................................................... 56  
3.1. Tác động của di cư lao động nông thôn - đô thị đến đời sống kinh tế của  
gia đình có người di cư ............................................................................. 56  
3.2. Tác động đến việc chăm sóc sức khỏe của hộ gia đình của người di cư. 63  
3.3. Tác động đến việc tham gia các hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí....... 65  
Tiểu kết chương 3..................................................................................... 67  
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................. 69  
KẾT LUẬN.............................................................................................. 69  
KHUYẾN NGHỊ ...................................................................................... 72  
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 74  
PHỤ LỤC  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
Phỏng vấn sâu:  
PVS  
Hội đồng nhân dân:  
Ủy ban nhân dân:  
HĐND  
UBND  
DANH MỤC BẢNG  
Bảng 1: Số lượng dân cư đang sinh sống ở xã Hòa Phú .............................. 17  
Bảng 2: Cơ cấu mẫu điều tra định lượng phân chia theo thôn...................... 18  
Bảng 1.1: Số người di cư và tỷ lệ người di cư trong 5 năm chia theo luồng di  
cư và loại hình di cư, 1999-2014 ............................................................... 30  
Bảng 1.2: Tỷ lệ dicư theo vùng kinh tế- xã hội theo giới tính (Đơn vịtính:%). 32  
Bảng 2.1: Mức sống hộ gia đình và số lượng người di cư (Đơn vị: %)......... 43  
Bảng 2.2: Vai trò của lao động di cư đối với sự phát triển nông thôn........... 50  
(tại địa phương) ........................................................................................ 50  
Bảng 3.1: Tần suất gửi tiền về cho gia đình của lao động di cư ................... 59  
Bảng 3.2: Tiền gửi về cho gia đình của lao động di cư trong 12 tháng qua... 60  
Bảng 3.3: Tương quan giữa mức đóng góp của lao động di cư và mức độ tiếp  
cận dịch vụ y tế và khám chữa bệnh của hộ gia đình sau khi có người di cư  
(Đơn vị: %) .............................................................................................. 64  
Bảng 3.4: Tương quan giữa mức đóng góp của lao động di cư và mức độ ảnh  
hưởng của lao động di cư đến việc vui chơi, giải trí công cộng của hộ gia đình  
(Đơn vị: %) .............................................................................................. 66  
DANH MỤC BIỂU ĐỒ  
Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ dân dân số di cư phân theo vùng kinh tế- xã hội, 2009.... 31  
Biểu đồ 2.1:Số lao độngchính trong hộ gia đình có ngườidicư (Đơn vị: %).. 42  
Biểu đồ 2.2: Mức sống của hộ gia đình có người di cư (Đơn vị: %)............. 43  
Biểu đồ 2.3: Giới tính của người lao động di cư (Đơn vị: %) ...................... 44  
Biểu đồ 2.4: Độ tuổi của lao động di cư (Đơn vị: %) .................................. 45  
Biểu đồ 2.5: Tình trạng hôn nhân của lao động di cư (Đơn vị: %) ............... 46  
Biểu đồ 2.6: Lý do quyết định di cư của lao động di cư (Đơn vị: %) ........... 47  
Biểu đồ 2.7: Điều kiện người lao động cần có để di cư (Đơn vị: %) ............ 52  
Biểu đồ 2.8: Mong muốn về việc di cư của các thành viên trong gia đình (Đơn  
vị: %)....................................................................................................... 52  
Biểu đồ 3.1: Ảnh hưởng của lao động di cư đến sản xuất và đời sống hộ gia  
đình (Đơn vị: %)....................................................................................... 56  
Biểu đồ 3.2: Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình của lao động di cư (Đơn  
vị: %)....................................................................................................... 58  
Biểu đồ 3.3: Việc gửi tiền về cho gia đình của lao động di cư (Đơn vị: %) .. 59  
Biểu đồ 3.4: Mục đích sử dụng số tiền gửi về của lao động di cư ................ 61  
(Đơn vị: %) .............................................................................................. 61  
Biểu đồ 3.5: Mức sống hộ gia đình không có lao động di cư so với gia đình có  
lao động di cư (Đơn vị: %)........................................................................ 62  
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Di dân là một hiện tượng khách quan và phổ biến trong suốt quá trình  
lịch sử phát triển của nhân loại. Hiện nay, hoạt động di cư vẫn diễn ra mạnh  
mꢀ ở các nước đang phát triển với xu hướng chủ yếu là di dân nông thôn –  
thành thị. Giống như các quốc gia khác, di dân ở Việt Nam là một hiện tượng  
kinh tế - xã hội mang tính quy luật, một cấu thành tất yếu của sự phát triển [6]  
[37]. Xu hướng chuyển dịch lao động từ nông thôn ra thành thị ngày càng  
diễn ra phổ biến với quy mô và cường độ cao. Sự phát triển nhanh chóng của  
ngành công nghiệp, dịch vụ và sự chênh lệch lớn về thu nhập, mức sống… ở  
đô thị đã mở ra cơ hội việc làm, thu hút một lượng lớn lực lượng lao động từ  
nông thôn ra thành thị, nhất là đối với khu vực kinh tế năng động phát triển  
như khu vực Đông Nam Bộ: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai,  
Bà Rịa- Vũng Tàu, nơi có mức độ tập trung cao các khu công nghiệp và phát  
triển kinh tế nói chung với nhu cầu lớn về lực lượng lao động mà địa phương  
không thể đáp ứng được [36, tr.30-31].  
Di cư lao động nông thôn - đô thị có ảnh hưởng và tác động rất lớn đến  
sự phát triển kinh tế - xã hội ở cả nơi xuất cư lẫn nơi nhập cư. Một mặt lao  
động di cư nông thôn đến đô thị là động lực tích cực thúc đẩy phát triển kinh  
tế, phân bố lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động, giải quyết việc  
làm và được coi là bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế bền vững. Mặt  
khác, việc di dân cũng mang lại không ít những hệ lụy liên quan, kể cả đối với  
địa bàn nơi đi cũng như nơi đến.  
Từ trước đến nay, có rất nhiều nghiên cứu về di cư của các tác giả Bùi  
Quang Dũng (2010), Đặng Nguyên Anh (2008), Nguyễn Thanh Liêm (2007),  
Rolf Jensen, Donald M. Peppard Jr. và Vũ Thị Minh Thắng (2009) … cùng  
các cuộc điều tra với quy mô lớn và mang tính tổng quát về tình trạng, nguyên  
1
nhân và các vấn đề di dân dưới góc độ người xuất cư. Hầu hết các nghiên cứu  
tập trung tại nơi đến của các dòng di cư, trong khi các quyết định di cư được  
thực hiện tại nơi đi trước khi quá trình di cư diễn ra. Có nhiều vấn đề liên  
quan và yếu tố ảnh hưởng đến di cư lao động cần được xem xét tại hộ gia  
đình ở lại. Câu hỏi đặt ra là liệu lao động di cư nông thôn đến đô thị có vai trò  
gì và tác động như thế nào đến gia đình có người xuất cư (hay những hộ gia  
đình ở lại)?  
Tôi quyết định tiến hành tìm hiểu di cư lao động từ nông thôn đến đô  
thị từ góc nhìn của hộ gia đình ở lại, với trường hợp cụ thể tại xã Hòa Phú,  
huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Đây là một xã thuần nông nghiệp, thu nhập  
thấp, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Chính vì thế, một số lượng lớn  
người lao động trong xã đã chọn cách di cư vào các thành phố lớn mà nhiều  
nhất là vùng Đông Nam Bộ để mưu sinh, nâng cao thu nhập để chăm lo cho  
cuộc sống cá nhân và gia đình. Xuất phát thực tiễn và mối quan tâm trên, tôi  
tiến hành thực hiện nghiên cứu “Di cư lao động nông thôn - đô thị từ góc độ  
người ở lại” (Nghiên cứu tại xã Hòa Phú, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên) là  
đề tài luận văn cho quá trình học tập của mình.  
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài  
Quá trình di dân đã diễn ra từ rất lâu trong lịch sử và nó diễn ra trên  
phạm vi toàn thế giới. Di dân là đối tượng của nhiều ngành nghiên cứu như:  
xã hội học, dân số học nghiên cứu kinh tế, thống kê học, khoa học lịch sử, địa  
lý học... Do đó, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến di  
cư trên phạm vi toàn thế giới cũng như Việt Nam.  
Di dân nông thôn - đô thị trở thành một hiện tượng xã hội nổi trội, cùng  
với hiện tượng đô thị hóa trong các nước phát triển. Các nghiên cứu về di dân  
nông thôn - đô thị trở thành một xu hướng không chỉ phát triển ở nước Mỹ và  
châu Âu mà còn ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh. Một số nước châu Á  
2
như Nhật Bản, Thái Lan, Philippin, Inđônêxia, Malayxia, Hàn Quốc, Trung  
Quốc đã trải qua quá trình đô thị hóa mạnh, vì thế đã có nhiều công trình  
nghiên cứu có giá trị về di dân nông thôn - đô thị. Về mặt lý thuyết và phương  
pháp luận, các nghiên cứu này vẫn chủ yếu dựa vào mô hình lý thuyết và  
phương pháp luận của một số học giả phương Tây. Song do điều kiện chính  
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc điểm tự nhiên cùng đặc điểm về con người  
châu Á khác nhau nên các nghiên cứu trong khu vực có những bổ sung, cụ thể  
hóa lý thuyết và phương pháp luận trong nghiên cứu của phương Tây về di  
cư. Nghiên cứu về di cư là một chuyên ngành phát triển trong xã hội học.  
Cùng với mô tả về những đặc trưng của người di cư, xã hội học về di cư tập  
trung làm rõ các vấn đề xã hội, sự thích ứng của người di cư và ảnh hưởng xã  
hội của di cư, hướng mạnh vào nghiên cứu di dân trong liên hệ với sự ổn định  
và phát triển xã hội. Nhưng những nghiên cứu xã hội học về di cư trên thế  
giới thường hướng vào bất bình đẳng xã hội giữa người chính cư và nhập cư,  
chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của di cư nông thôn - đô thị từ góc  
nhìn, nhận thức của những người trong hộ gia đình ở lại.  
Một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất trong nghiên cứu di cư nông  
thôn – đô thị là mô hình di cư của Haris – Todaro [20, tr.13]. Mô hình xem  
xét tác động của yếu tố kinh tế trong quyết định của người dân di cư, yếu tố  
này dựa trên mức chênh lệch lớn về tiền công lao động giữa nông thôn và  
thành thị. Lao động di cư ra thành thị kỳ vọng mức tiền công cao hơn so với  
nông thôn nơi đi mặc dù trên thực tế sự chênh lệch này là không đang kể  
trong một số trường hợp. Chính sự kỳ vọng tiền công cao của người di cư ra  
thành thị đã thúc đẩy lao động di cư ở các nước đang phát triển.  
Hạn chế của mô hình này là sự cân bằng tiền công giữa hai khu vực rất  
khó xảy ra. Các luồng di cư ngược từ thành thị và nông thôn, hoặc hình thức  
di cư con lắc không được giải thích đầy đủ. Ngoài ra, mô hình này chỉ đề cập  
3
đến yếu tố kinh tế trong khi nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng có những  
trường hợp yếu tố kinh tế không phải là tác động quan trọng duy nhất đối với  
quyết định di cư. Khoảng cách, xã hội, cuộc sống, chính trị an ninh, biến đổi  
khí hậu, cũng là tác nhân quan trọng trong các quyết định di cư.  
Trong khi yếu tố kinh tế và sự khác biệt trong thu nhâp giữa hai khu  
vực nông thôn, đô thị là động lực của quá trình di cư trong mô hình Haris-  
Todaro thì mô hình “hút-đẩy” của Everett S. Lee (1966) lại cho rằng di dân  
chịu tác động của “lực đẩy” và “lực hút”. Lực đẩy ở nơi xuất cư như: điều  
kiện sống khó khăn, không có việc làm, chênh lệch thu nhập giữa nơi đến và  
nơi đi, mong muốn cải thiện môi trường sống, học tập….và “lực hút” của nơi  
đến: điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu thuận lợi, dễ kiếm việc làm, thu nhập  
cao, triển vọng cải thiện đời sống… Trên cơ sở đó, lý thuyết “hút - đẩy” của  
Everett Lee đã được hình thành, góp phần tìm hiểu các quy luật của di cư và  
phân loại các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này. Lee lập luận rằng  
quyết định di cư được dựa trên bốn nhóm yếu tố: các yếu tố gắn bó với nơi ở  
gốc; các yếu tố gắn với nơi sꢀ đến; các trở ngại di cư và các yếu tố thuộc về  
người di cư. Mỗi một địa điểm, nơi đi và nơi đến đều có những ưu điểm và  
hạn chế mà người di cư cân nhắc. Các điều kiện kinh tế khó khăn ở nơi đi là  
nhân tố “đẩy” chủ yếu của việc xuất cư, trong khi cải thiện điều kiện kinh tế  
của nơi đến là nhân tố “hút” quan trọng nhất của việc nhập cư. Bên cạnh đó,  
quyết định di cư còn phụ thuộc vào những phẩm chất cá nhân của từng người.  
Như vậy, xét một cách tổng quát, các yếu tố tạo lực hút - đẩy bao gồm vấn đề  
kinh tế, điều kiện sống và đặc điểm hộ gia đình ở nơi đi, cơ hội việc làm, thu  
nhập, sinh kế hình thành nên lực hút ở nơi đến.  
Ở Việt Nam, sau khi thống nhất đất nước năm 1975 đã có sự biến đổi  
về kinh tế - xã hội nên tình trạng di cư đã gần đạt tới năm triệu người. Đa số  
dân di cư từ vùng đồng bằng sông Hồng tới những vùng thưa dân như Tây  
4
Nguyên và đồng bằng sông Mêkông. Di cư từ nông thôn đến thành thị đã trở  
thành xu thế nổi bật trong những thập niên 1990. Năm 1989, số dân đô thị chỉ  
chiếm 19,4%, đến năm 1999 tăng lên 23,5%. Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể cao  
hơn do một bộ phân di cư nhưng không khai báo với chính quyền địa phương.  
Hàng năm có từ 70.000 người tới 100.000 người nông thôn di cư tới thành  
phố Hồ Chí Minh. Và có khoảng 40% mức tăng dân số của Hà Nội là do di  
cư. Tỷ lệ đô thị hóa ước tính sꢀ tăng lên 45% vào năm 2020. Tại các vùng núi  
và cao nguyên Việt Nam, áp lực dân số đã rất nặng nề, tỷ lệ di dân còn tăng  
rất nhanh. Từ năm 1960 đến 1984, dân số ở các khu vực miền núi phía Bắc  
tăng hơn 300%. Tăng trưởng dân số ở Tây Nguyên còn mạnh mꢀ hơn. Năm  
1900, dân số Tây Nguyên chỉ có khoảng 240.000 người và đến năm 1960, dân  
số tăng lên 600.000 người. Đến năm 1999 dân số lên đến 4.059.928 người.  
Những chương trình chính sách di cư do nhà nước lập kế hoạch và hỗ trợ đã  
giảm đáng kể, di cư tự phát tăng lên. Trong những năm 1990, hàng vạn người  
dân tộc thiểu số đã di cư từ khu vực miền núi phía Bắc đến Tây Nguyên (Đắc  
Lắc, Lâm Đồng). [1, tr.38 – 39].  
Nhà nước và các ban ngành có liên quan cũng đã đưa ra các chính sách  
di dân để nhằm phát triển kinh tế của đất nước và cân bằng sự phát triển trong  
các vùng miền của Tổ quốc. Về vấn đề này, công trình của Đặng Nguyên Anh  
Chính sách di dân đi xây dựng vùng kinh tế mới ở Việt Nam [3] đã phân chia  
quá trình di dân kinh tế thành bốn giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là từ 1961 –  
1975: đây là những năm trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Giai đoạn  
thứ hai là từ 1976 – 1985: đây là thời kỳ đất nước đã thống nhất nhưng vẫn  
gặp nhiều khó khăn bởi các thế lực thù trong giặc ngoài. Trong giai đoạn này  
sản xuất nông nghiệp kém phát triển, một số tỉnh của miền Bắc gặp đói kém  
mỗi khi mất mùa trong khi đó diện tích đất đai ở miền Nam chưa khai thác hết  
nên đòi hỏi phải điều động lao động, phân bổ dân cư để sản xuất lương thực.  
5
Các luồng di dân kinh tế mới tập trung chủ yếu là đồng bằng sông Cửu Long,  
Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Bên cạnh đó, một số thành phố trực thuộc  
Trung ương như Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh thực hiện chính  
sách hạn chế đô thị hóa, hạn chế tập trung dân số đô thị và đã điều chuyển  
một bộ phận dân cư vào các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ định cư theo  
chương trình kinh tế mới. Có thể nói đây là giai đoạn diễn ra hoạt động di dân  
mạnh mꢀ nhất trên phạm vi toàn quốc. Giai đoạn thứ ba là từ 1986 – 1995,  
đây là giai đoạn nước ta gặp nhiều khó khăn về lương thực. Bên cạnh di dân  
theo chính sách của Nhà nước thì thời kỳ này cũng đã xuất hiện nhiều dòng  
người di cư tự do với quy mô ngày càng lớn trong đó địa bàn nhập cư chủ yếu  
là khu vực Tây Nguyên. Do thực tế công tác di dân theo chính sách không đáp  
ứng được sức ép di dân và nhu cầu đất đai của các hộ gia đình ở nông thôn  
nên đã dẫn tới việc di dân tự do gia tăng về quy mô và số lượng. Quá trình di  
cư tự do diễn ra mạnh mꢀ ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một số tỉnh khác.  
Và giai đoạn 1996 đến nay, khác với các giai đoạn trước đó, thời kỳ này công  
tác di dân xây dựng vùng kinh tế mới được tổ chức thực hiện lồng ghép với  
các chương trình mục tiêu quốc gia của Nhà nước. Di dân thời kỳ này mục  
đích là để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp ở vùng đất hoang được đưa  
vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội với sự ưu tiên cho hộ nghèo,  
hộ thiếu đất và đồng bào dân tộc thiểu số. Tác giả cũng chỉ ra những mặt được  
và chưa được trong việc triển khai chính sách di dân xây dựng kinh tế mới.  
Những mặt được của chính sách là góp phần đảm bảo an ninh lương thực tạo  
điều kiện cho các hộ nghèo có đất sản xuất, việc làm, cải thiện cơ sở hạ tầng  
miền núi, các vùng đất có tiềm năng kinh tế đã được khai thác và phát huy tác  
dụng của nó... Bên cạnh những mặt đạt được thì chính sách này cũng bộc lộ  
những hạn chế của nó. Đó là kế hoạch thiếu tính thực tế, duy ý chí, chưa tôn  
trọng quy luật khách quan và tính tự nguyện trong quyết định di chuyển.  
6
Trong khi triển khai chính sách thì chưa có sự thống nhất về mặt nhận thức  
giữa trung ương và địa phương. Dựa trên tình hình thực tế thì chính sách di  
dân kinh tế mới chưa phù hợp với yêu cầu của tình hình phát triển mới, vẫn  
còn mang nặng tính bao cấp trong triển khai thực hiện gây nên hậu quả lớn.  
Tác giả cũng chỉ ra được động lực thúc đẩy những dòng người di dân tự do.  
Từ đó, tác giả đưa ra những đề xuất như: cần nâng cao năng lực xây dựng hệ  
thống chính sách di dân, đổi mới công tác quy hoạch dân cư và chính sách  
quản lý sử dụng đất, nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện các dự án di  
dân.  
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, di cư trong những  
năm gần đây diễn ra vô cùng mạnh mꢀ và là vấn đề ngày càng được quan tâm  
nghiên cứu nhiều hơn nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những hệ  
lụy của quá trình di cư. Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả, nhiều công trình  
nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về thực trạng, các yếu tố tác động đến di cư, từ đó  
đề xuất những giải pháp để phát huy những mặt tích cực cũng như hạn chế  
những mặt tiêu cực của quá trình di cư. Những vấn đề nghiên cứu trên được  
trình bày qua một số công trình như: Chuyên khảo Di cư và Đô thị hóa ở Việt  
Nam:Thực trạng, xu hướng và những khác biệt [36]; Lao động nông thôn ra  
thành thị: Thực trạng và khuyến nghị [19]; Điều tra di cư nội địa quốc gia  
2015:các kết quả chủ yếu [35]. Các nghiên cứu nói trên xem xét tác động của  
di cư đối với nơi đến và nơi đi, vai trò của di cư đối với sự phát triển kinh tế-  
xã hội ở nước ta. Kết quả cho thấy di cư trong nước đã góp phần vào sự phát  
triển kinh tế xã hội thông qua việc đáp ứng nhu cầu lao động trong các khu  
công nghiệp và trong các khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời thông  
qua đó đã đóng góp vào phát triển kinh tế gia đình ở lại quê hương. Tăng  
trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu hàng năm có sự đóng góp đang kể của  
lao động di cư, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  
7
nước. Bên cạnh đó, di cư cũng mang đến những thách thức mà nó mang lại:  
các vấn đề về trẻ em di cư, tiếp cận các dịch vụ y tế cho người di cư, Chăm  
sóc sức khỏe và sức khỏe sinh sản… là những vấn đề nóng chưa được giải  
quyết đối với lao động di cư ở thành phố. Trong khi đó, di cư lao động cũng  
dẫn đến những khó khăn trong phân công lại trách nhiệm trong gia đình, thay  
đổi vai trò giới và nhất là thực trạng người già và trẻ em không có người  
chăm sóc… Những vấn đề đó đã được thể hiện qua các công trình nghiên  
cứu: Di cư trong nước: cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế- xã  
hôi Việt Nam [38]; nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội về Từ  
nông thôn ra thành phố: Tác động kinh tế - xã hội của di cư Việt Nam [41].  
Không thể phủ nhận được rằng di cư lao động có tác động rất lớn  
không chỉ ở những nơi nhập cư mà còn ảnh hưởng lớn đến nơi xuất cư, mà  
đặc biệt là đối với hộ gia đình có người lao động di cư. Kết quả của nghiên  
cứu Di dân nông thôn và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế gia đình  
[8] của tác giả Đinh Quang Hà chỉ ra rằng Một trong những tác động mạnh  
mꢀ nhất của di cư lao động đối với gia đình họ chính là tác động đến sự phát  
triển kinh tế của hộ gia đình. Di cư không chỉ là giải quyết bài toán về việc  
làm, thu nhập của chính bản thân người di cư mà còn là phương thức tạo thêm  
thu nhập cho gia đình họ (những người ở lại) thông qua các khoản tiền gửi về.  
Đây cũng được coi là chiến lược sinh kế của các hộ gia đình ở nông thôn. Các  
khoản tiền gửi không chỉ là phần đóng góp quan trọng cho nguồn ngân sách  
của hộ gia đình mà nó còn hiệu quả hơn đối với hộ gia đình nào sử dụng  
nguồn tiền đó cho hoạt động đầu tư sản xuất. Do vậy, di cư lao động cũng là  
một phương thức tạo lập nguồn vốn để đầu tư sinh lãi cho kinh tế gia đình và  
phát triển nông thôn. Ngoài ra, lao động di cư được tiếp xúc với xã hội đô thị,  
ở đó họ học hỏi được các kiến thức, kỹ năng, tay nghề mới không chỉ giúp ích  
cho chính bản thân họ mà còn giúp ích cho gia đình của họ thông qua quá  
8
trình truyền tải những kinh nghiệm, kiến thức của mình về cho gia đình.  
Chính sự nhạy bén trong việc tiếp cận các nguồn thông tin mới, kỹ năng hay  
tay nghề mới giúp người di cư năng động, nhạy bén hơn trong việc tổ chức  
hoạt động kinh tế cho hộ gia đình.  
Ngoài những đóng góp của di cư lao động đối với sự phát triển kinh tế  
gia đình thì di cư lao động nông thôn- đô thị còn có vai trò đối với sự phát  
triển nông thôn. Bàn về vấn đề này tác giả Đặng Nguyên Anh trong bài viết  
Vai trò của nông thôn - đô thị trong sự nghiệp phát triển nông thôn hiện nay  
[6] chỉ ra rằng bên cạnh những lợi ích về khía cạnh kinh tế, người di cư lao  
động nông thôn- đô thị còn mang lại thì những tri thức và nhận thức mới gắn  
liền với nhịp sống của văn minh đô thị. Chính người di cư đã tạo ra những  
nhu cầu và lối sống mới ở nông thôn, góp phần vào đổi mới và phát triển  
nông thôn. Cùng với vai trò nâng cao dân trí, di cư lao động nông thôn- đô thị  
còn là biện pháp tăng thu nhập và nâng cao mức sống cho khu vực nông thôn,  
góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.  
Tổ chức Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam đã đánh giá nêu lên cơ hội và  
thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta qua báo cáo Di cư  
trong nước, cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt  
Nam [38]. Theo phân tích này, di cư có thể góp phần kết nối và tăng cường  
mối quan hệ giữa nơi đến và nơi đi, không chỉ đơn thuần thông qua tiền gửi  
về của người di cư mà còn thể hiện bằng sự chuyển giao kỹ năng và kiến thức  
của lao động di cư… Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích do di cư mang lại thì  
di cư cũng tạo nên những thách thức. Các thách thức lớn nhất là đảm bảo các  
quyền cho người di cư nam, nữ, trẻ em trai và trẻ em gái. Điều này bao gồm  
sự đảm bảo người di cư có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các quyền mà người  
dân đều được hưởng, trong đó có liên quan nhiều đến điều kiện sống cơ bản  
và vấn đề việc làm. Báo cáo đã phân tích mối quan hệ giữa di cư và phát triển  
9
dưới 3 góc độ: người di cư, nơi đến và nơi đi. Chính di cư đã tạo nên những  
cơ hội trực tiếp cho sự phát triển rộng khắp và đồng đều hơn thể hiện qua sự  
khác biệt giữa các vùng miền ngày càng giảm xuống. Hình thái di cư trong  
nước rất đa dạng nhưng có chung một điểm là khả năng thích nghi với các cá  
nhân và hộ gia đình sau di cư. Tuy nhiên, ngoài tác động của tiền gửi về, báo  
cáo chưa bàn luận về tác động của di cư đến hộ gia đình ở lại quê hương.  
Giữa các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau thì xác suất di cư  
cũng có sự khác nhau. Điều đó cũng được thể hiện qua bài viết Thu nhập của  
hộ gia đình và các đặc trưng di cư của con cái từ nông thôn [22] của tác giả  
Nguyễn Thanh Liêm. Bài viết cũng nhằm tìm hiểu sâu hơn về mối quan hệ  
giữa di cư và thu nhập. Các phân tích trong bài dựa vào số liệu của Dự án  
nghiên cứu liên ngành về gia đình nông thôn Việt Nam trong thời kỳ chuyển  
đổi. Đó là dự án được triển khai trên vùng nông thôn của 3 tỉnh: Yên Bái,  
Tiền Giang và Thừa Thiên - Huế. Thời điểm khảo sát tại các tỉnh là không  
đồng đều nhau tương ứng là 2004, 2005 và 2006. Trong nghiên cứu này sử  
dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Nhưng kết quả  
nghiên cứu ban đầu và giới hạn chỉ mới sử dụng các số liệu định lượng; trong  
mỗi tỉnh phỏng vấn 300 hộ gia đình. Trong các hộ gia đình tại các tỉnh thì tình  
hình phân bố con cái di cư khá đa dạng (gần một phần năm hoặc gần một nửa  
là gia đình có con cái di cư). Đặc biệt là số con di cư của các hộ gia đình có  
con di cư tương đối cao. Số lượng con gái và con trai của Yên Bái và Thừa  
Thiên – Huế là tương đương với nhau nhưng riêng tỉnh Tiền Giang thì số  
lượng con gái di cư cao hơn con trai. Thực tế trong những năm gần đây nữ  
giới từ miền Tây Nam Bộ đi kết hôn với người nước ngoài và di cư làm việc  
trong các khu giải trí ngày càng tăng. Nhìn chung, dân di cư là những người  
trẻ tuổi. Họ chủ yếu là đã có gia đình và chưa kết hôn, chỉ có dưới 3% là đã ly  
thân, ly hôn hay góa. Bài viết chưa đánh giá được trình độ học vấn của người  
10  
con di cư là cao hay thấp do ảnh hưởng bởi yếu tố khác (người con trong gia  
đình lớn tuổi hơn thì di cư trước). Tác giả cũng đã chỉ ra được tần suất về  
thăm nhà của những người con di cư là thường xuyên. Giống như những  
nghiên cứu ở trên, tác giả cũng cho rằng thu nhập của gia đình là một yếu tố  
tác động tới việc di cư. Những gia đình giàu có thì cho con cái đi học xa như  
là một sự đầu tư dài hạn cho gia đình. Còn đối với gia đình nghèo khó thì cho  
con cái đi xa để kiếm việc và nhanh chóng kiếm tiền nhằm đáp ứng những  
nhu cầu cấp bách cho chính người di cư và gia đình. Hạn chế của nghiên cứu  
này là đã gộp cả hai đối tượng nên thông tin về mục đích di cư chưa được làm  
rõ cụ thể. Tác giả cũng đã lập luận và giải thích được người giàu họ có điều  
kiện tốt để di cư trong khi đó người nghèo cũng chịu nhiều áp lực buộc họ  
phải di chuyển. Đồng thời, tác giả lại nêu mối quan hệ giữa di cư và thu nhập  
là phi tuyến tính. Kết quả này khác hoàn toàn với kết quả nghiên cứu trước,  
những nhóm dân cư nghèo ít có điều kiện để cho con cái họ di cư. Nhưng  
thực tế, nền kinh tế Việt Nam đã thay đổi và các cơ sở hạ tầng đã thay đổi  
cùng với nó là sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông, các phương tiện  
giao thông trở nên đa dạng hơn nên người nghèo họ cũng có thể di chuyển xa.  
Tỷ lệ những gia đình không thể có điều kiện cho con di chuyển xa chỉ chiếm  
một tỷ lệ rất nhỏ. Tác giả cũng nhấn mạnh cả nhóm người giàu nhất và nhóm  
người nghèo nhất đều được hưởng lợi từ quá trình di cư nhưng dường như  
người giàu lại được hưởng lợi nhiều hơn.  
Bàn về vấn đề di cư và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế thì Liên  
Hợp Quốc tại Việt Nam đã viết bài Di cư trong nước và phát triển kinh tế xã  
hội ở Việt Nam:kêu gọi hành động [37]. Bài viết cũng đã cho rằng đây là một  
vấn đề cần được các nhà hoạch định chính sách và các đối tác phát triển tại  
Việt Nam quan tâm. Vì Việt Nam cũng giống như nhiều quốc gia trải qua quá  
trình phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng. Tại nước ta đã diễn ra sự gia tăng  
11  
nhanh chóng của dòng người di cư trong và ngoài nước. Hiện nay, người ta  
càng phải thừa nhận việc di cư và phát triển kinh tế luôn đi đôi với nhau. Di  
cư vừa là động lực thúc đẩy vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội của  
một quốc gia. Và quá trình phát triển kinh tế xã hội từ thời kỳ đổi mới chính  
là chất xúc tác cho dòng di cư trong nước gia tăng, người dân được quyền di  
chuyển tự do khỏi nơi ở của mình và điều kiện sống giữa các vùng miền cũng  
là động lực khiến người dân di cư. Việc di cư đã tạo điều kiện thuận lợi trong  
việc cung cấp nguồn lao động trong các khu công nghiệp và khu vực có vốn  
đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Di cư không chỉ góp phần tăng phúc lợi và an  
sinh cho người di cư thông qua mức thu nhập của họ mà còn mang lại lợi ích  
cho gia đình và cộng đồng nơi có người di cư.  
Mặc dù có nhiều bàn luận khá phức tạp về vấn đề giữa việc di cư và  
phát triển nhưng không thể xem di cư là yếu tố cản trở tới sự phát triển. Đồng  
thời chúng ta cũng không thể coi đây là liều thuốc thần kỳ chữa bệnh đói  
nghèo và sự mất cân bằng thu nhập. Việc di cư trong nước cũng góp phần làm  
giảm sự khác biệt giữa các vùng. Với mục đích tăng cường khả năng đóng  
góp vào sự phát triển kinh tế và xã hội của di cư trong nước, bài viết này cũng  
đưa ra một số khuyến nghị chính sách cụ thể. Những khuyến nghị này tập  
trung chủ yếu vào những vấn đề chính như: nhu cầu cần có các số liệu về di  
cư trong nước để nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách, cải cách hệ  
thống đăng ký hộ khẩu, thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo di cư trong  
nước phải được an toàn và người di cư được bảo vệ trong công việc, quy  
hoạch đô thị và khu công nghiệp cần tính đến quyền lợi của những người di  
cư và cần có các biện pháp nhằm thúc đẩy di cư trong nước vì mục đích phát  
triển con người. Bài viết đã phân tích tình hình thực tế của từng nội dung đó  
và đưa ra lời kêu gọi hành động. Những nhà hoạch định chính sách và đầu tư  
vào phát triển tại Việt Nam cần phải quan tâm và nắm rõ tình hình cụ thể hơn.  
12  
Có rất nhiều nghiên cứu bàn về vai trò của yếu tố kinh tế (chủ yếu là  
lao động, việc làm) trong quyết định di cư mà chưa đánh giá được hết tác  
động của các yếu tố văn hóa - xã hội mà đặc biệt là vai trò của mạng lưới xã  
hội đến di cư. Nghiên cứu về di dân ở Việt Nam trong những năm gần đây, đã  
có một số tác giả quan tâm đến vấn đề này như: Vai trò của mạng lưới xã hội  
trong quá trình di cư, tác giả Đặng Nguyên Anh [7]; Mạng lưới xã hội và hòa  
nhập xã hội của lao động nhập cư nghèo tại các đô thị Việt Nam, tác gải  
Phạm Văn Quyết [44]. Bên cạnh tác động của nhân tố kinh tế, quyết định di  
cư còn bị chi phối bởi hôn nhân, gia đình, sức khỏe và nhất là mạng lưới xã  
hội.  
Lao động nữ đang có đóng góp rất lớn đến vào sự phát triển của nền  
kinh tế đất nước. Tuy cùng tham gia vào lực lượng lao động, nhưng thực tế,  
lao động nữ luôn gặp nhiều khó khăn nhất là đối với lao động nữ di cư. Để  
tìm hiểu các yếu tố tác động đến quyết định di cư, tính dễ bị tổn thương, điều  
kiện sống và làm việc ở lao động nữ…Một số tác giả quan tâm và có những  
nghiên cứu nhằm phản ánh cái nhìn sâu sắc, đa chiều về vấn đề di cư theo  
cách tiếp cận giới như: Phụ nữ di cư trong nước: Hành trình gian nan tìm  
kiếm cơ hội [45].  
Ở Việt Nam đã có những đề tài nghiên cứu về vấn đề di dân trong một  
số khu vực thành phố lớn. Điều đó được thể hiện qua bài viết Di cư “tuần  
hoàn” của phụ nữ ở Việt Nam:Một nghiên cứu về người bán rong tại Hà Nội  
[26] của Rolf Jensen, Donald M. Peppard Jr., và Vũ Thị Minh Thắng. Đối  
tượng nghiên cứu ở đây là người dân di cư từ nông thôn ra thành thị để buôn  
bán hàng rong ở Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu mà đề tài sử dụng là  
phương pháp nghiên cứu định lượng (triển khai khảo sát hơn 1.700 người bán  
hàng rong vào năm 2000), phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu  
hơn 30 người bán hàng rong) để tìm hiểu về câu chuyện cuộc đời của họ. Bài  
13  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 92 trang yennguyen 10680 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Di cư lao động nông thôn – đô thị từ góc độ người ở lại (Nghiên cứu tại xã Hoà Phú, huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_di_cu_lao_dong_nong_thon_do_thi_tu_goc_do_nguoi_o_l.pdf