Luận văn Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy trạm Đồng Trăng, sông Cái Nha Trang tỉnh Khánh Hoà

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
––––––––––––––––––––––––––––––  
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG  
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
ĐẾN DÒNG CHẢY TRẠM ĐỒNG TRĂNG, SÔNG CÁI NHA TRANG  
TỈNH KHÁNH HOÀ  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Hà Nội – 2017  
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI  
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN  
-------------------------  
NGUYỄN THỊ PHƢƠNG  
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
ĐẾN DÒNG CHẢY TRẠM ĐỒNG TRĂNG, SÔNG CÁI NHA TRANG  
TỈNH KHÁNH HOÀ  
Chuyên ngành:  
Thủy văn học  
Mã số:  
60440224  
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:  
PGS.TS. TRẦN NGỌC ANH  
Hà Nội – 2017  
MỤC LỤC  
1
 
2
DANH MỤC HÌNH  
Hình 1.9. Chuẩn sai nhiệt độ (oC) trung bình năm (a) và nhiều năm (b) trên quy  
4
5
DANH MỤC BẢNG  
6
 
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT  
A1B, A2  
BĐKH  
DEM  
Các kịch bản phát thải khí nhà kính IPCC  
Biến đổi khí hậu  
Digital Elevation Model (Mô hình số độ cao)  
Danish Hydraulic Institute (Viện nghiên cứu thủy lực  
Đan Mạch)  
DHI  
ESRI  
Environmental Systems Research Institute (Viện nghiên  
cứu hệ thống môi trường)  
GCM  
HEC-HMS  
Global Climate Model (Mô hình khí hậu toàn cầu)  
Hydrologic Engineering Center’s Hydrologic Modelling  
System (Hệ thống mô hình hóa thủy văn trung tâm kỹ  
thuật thủy văn)  
SCS  
Soil Conservation Service  
SWAT  
Soil and Water Assessment Tool (Mô hình đánh giá môi  
trường lưu vực sông)  
KH KTTV& MT Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường  
WHO  
World Health Organization  
7
 
LỜI CÁM ƠN  
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học,  
trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội. Trong quá trình thực  
hiện, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô trong khoa Khí tượng  
Thủy văn và Hải dương học về sự hỗ trợ chuyên môn và kĩ thuật. Tác giả cũng xin  
chân thành cám ơn TS. Nguyễn Xuân Hiển - Giám đốc trung tâm Nghiên cứu Khí  
tượng Thủy văn biển - Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu,  
cùng các anh chị em trong trung tâm đã tạo điều kiện và giúp đỡ. Đặc biệt, xin bày  
tỏ sự cám ơn chân thành nhất đến thầy hướng dẫn: PGS.TS Trần Ngọc Anh đã  
hướng dẫn tận tình và định hướng nghiên cứu để tác giả hoàn thành luận văn này.  
Học viên  
Nguyễn Thị Phƣơng  
8
MỞ ĐẦU  
Sông Cái Nha Trang (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù) là sông lớn  
nhất tỉnh Khánh Hòa có chiều dài khoảng 79km, tuy ngắn nhưng giữ vai trò vô cùng  
quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa. Nhìn chung, dòng  
chảy trên lưu vực sông Cái Nha Trang chia thành 2 mùa rõ rệt:  
Mùa lũ kéo dài 4 tháng, bắt đầu từ tháng IX và kết thúc vào tháng XII. Lũ  
các sông thuộc lưu vực sông Cái Nha Trang tương tự các sông khác ở khu vực miền  
Trung, khi có nước tập trung nhanh, lên xuống đột ngột, đường quá trình có dạng  
răng cưa. Nguyên nhân gây lũ như đã nêu chủ yếu do mưa có cường độ lớn, lũ do  
các hình thế thời tiết đơn độc gây ra thường là lũ thời kỳ đầu và cuối mùa, đường  
quá trình lũ có đỉnh nhọn (tháng IX, tháng XII); lũ do tổ hợp nhiều hình thế thời tiết  
phức tạp thường là thời kỳ giữa mùa lũ (tháng X – XI), đường quá trình lũ kéo dài  
và có nhiều ngọn kế tiếp nhau. Lượng dòng chảy 4 tháng mùa lũ chiếm từ 65% –  
66% lượng dòng chảy cả năm. Tổng lượng dòng chảy (W) phụ thuộc vào độ sâu  
dòng chảy (Y) và diện tích lưu vực F, có giá trị lớn nhất đối với sông Cái Nha  
Trang 2319 triệu m3.  
Mùa kiệt bắt đầu từ tháng I, kết thúc vào tháng VIII, kéo dài tới 8 tháng.  
Dòng chảy cạn chủ yếu là phần nước còn lại của mùa lũ năm trước sau đó giảm  
nhanh chóng theo đường nước rút và thường đạt trị số thấp nhất vào thời kỳ cuối  
tháng III và tháng IV. Lượng dòng chảy tháng III, IV chỉ đạt 2,8% – 3% tổng lượng  
dòng chảy năm. Sang tháng V, VI một số con lũ tiểu mãn xuất hiện làm lượng dòng  
chảy mùa cạn đã tăng lên một ít, nhưng còn ở mức thấp. Tháng VII, VIII dòng chảy  
trên các khu vực tiếp tục giảm chậm, nhiều năm dòng chảy nhỏ nhất năm xảy ra  
trong thời kỳ này. Tính chung trong toàn tỉnh lượng dòng chảy 8 tháng mùa cạn chỉ  
chiếm khoảng 34% – 35% tổng lượng dòng chảy năm, trong đó nhu cầu dùng nước  
trong thời kỳ này lại rất lớn, nếu như không có biện pháp tích trữ và sử dụng nước  
hợp lý sẽ bị thiếu nước nghiêm trọng.  
Dòng chảy mùa lũ trên các sông tỉnh Khánh Hòa có xu hướng giảm trong  
những năm gần đây, số trận lũ ngày càng ít, những năm xuất hiện ít lũ và mực nước  
9
 
đỉnh lũ thấp ngày càng nhiều. Xen kẽ những năm có đỉnh lũ thấp lại có những năm  
có đỉnh lũ cao, giữa năm 2002 và 2004 là hai năm có mực nước đỉnh lũ năm rất thấp  
thì xen vào đó là năm 2003 có mực nước đỉnh lũ rất cao. Năm 2006 và 2012 là năm  
có đỉnh lũ năm rất thấp thì năm 2009 lại xuất hiện lũ lịch sử. Như vậy dòng chảy lũ  
càng về sau càng không ổn định, có những năm mực nước đỉnh lũ năm rất thấp, xen  
kẽ vào đó có những năm xuất hiện mực nước đỉnh lũ năm rất cao, tần suất xuất hiện  
sự bất ổn định dòng chảy lũ ngày càng nhiều. Đây có thể là một trong những biểu  
hiện của tác động biến đổi khí hậu (BĐKH) đến dòng chảy lũ, những trận mưa lớn  
tập trung trong thời gian ngắn xuất hiện càng nhiều nên trận lũ lớn xuất hiện nhiều  
hơn, số trận lũ ngày càng ít đi, mùa lũ có xu hướng ngắn đi, trong đó đặc trưng của  
BĐKH là tăng tính cực đoan của dòng chảy trong đó có dòng chảy lũ thể hiện ngày  
càng rõ[7].  
Hơn thế nữa, trong những năm gần đây, tác động của thiên tai lũ lụt và  
BĐKH đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế và  
xã hội của người dân trên lưu vực, đặc biệt là khu vực Thành phố Nha Trang phía  
dưới hạ lưu. Để chỉ ra được sự tác động đó như thế nào thì cần phải hiểu được sự  
biến đổi khí hậu tác động đến dòng chảy và các hiện tượng thủy văn theo mùa và  
con lũ như thế nào. Kiến thức và các thông tin này là cần thiết cho việc quy hoạch  
sử dụng đất để bảo vệ nguồn nước và quản lý hiệu quả lưu vực và cũng rất quan  
trọng đối với môi trường sinh thái và hoạt động kinh tế xã hội của lưu vực.  
Để khảo sát bài toán biến đổi dòng chảy trong tương lai ở lưu vực sông Cái  
Nha Trang trong bối cảnh của biến đổi khí hậu, việc sử dụng các mô hình diễn toán  
mưa – dòng chảy là phù hợp do các kịch bản BĐKH mới chỉ cung cấp các thông tin  
về sự biến đổi của các yếu tố khí tượng như nhiệt độ, lượng mưa,... Một số mô hình  
mưa - dòng chảy được ứng dụng nhiều như: SWAT, HEC-HMS, MIKE-SHE,  
SAC-SMA, NASIM, HBV v.v… trong đó, mô hình SWAT (Arnold và cộng sự,  
2002) đã được chứng minh là một công cụ hiệu quả để đánh giá tài nguyên nước và  
ô nhiễm với phạm vi lớn và các điều kiện môi trường trên toàn cầu. Đồng thời, mô  
hình SWAT còn được xây dựng để đánh giá tác động của việc sử dụng đất, của xói  
mòn và việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp trên một hệ thống lưu vực sông.  
10  
Bên cạnh đó, mô hình SWAT cũng đã được nhiều tác giả ứng dụng để khảo sát sự  
biến đổi của dòng chảy dưới các kịch bản về khí hậu và mặt đệm khác nhau và đã  
chứng tỏ được những ưu điểm. Chính vì vậy luận văn đã lựa chọn sử dụng mô hình  
SWAT để thực hiện mục tiêu của đề tài, và do đó, “Đánh giá tác động của biến đổi  
khí hậu đến dòng chảy trạm Đồng Trăng, sông Cái Nha Trang, Tỉnh Khánh  
Hoà” là một đề tài có tính khoa học và thực tiễn, sẽ góp phần lớn đáp ứng yêu cầu  
phòng chống lũ lụt cho người dân và chính quyền địa phương nhằm giảm thiểu đến  
mức thấp nhất thiệt hại do lũ lụt gây ra. Việc đánh giá tác động của biến đổi khí hậu  
đến dòng chảy trạm Đồng Trăng sông Cái Nha Trang tỉnh Khánh Hòa còn nhằm tạo  
tiền đề cho việc xây dựng các giải pháp giảm thiểu những tác hại do biến đổi khí  
hậu, giúp nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách xác định chiến lược phát triển  
kinh tế bền vững và đảm bảo an sinh xã hội. Luận văn có bố cục gồm 3 chương  
cùng với phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo:  
Chương 1: Tổng quan.  
Chương 2: Mô hình SWAT.  
Chương 3: Ứng dụng mô hình SWAT để đánh giá tác động của biến đổi khí  
hậu đến dòng chảy lũ trạm Đồng Trăng, sông Cái Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.  
Kết luận và kiến nghị  
11  
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN  
1.1. Đặc điểm địa lý tự nhiên  
1.1.1. Vị trí địa lý  
Sông Cái Nha Trang là con sông lớn nhất tỉnh Khánh Hòa có vị trí địa lý  
nằm trong khoảng 120°03' - 120°37' vĩ độ Bắc, 108°41' - 109°12' kinh độ Đông.  
Sông bắt nguồn từ đỉnh núi phía Tây Bắc xã Khánh Thượng cao 1477.5m, chảy  
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Khi đến thôn Trang xã Khánh Thượng sông đổi  
sang hướng Tây - Đông và nhập với sông Chò tại thôn 1 xã Diên Đồng. Sông tiếp  
tục chảy theo hướng Tây - Đông và nhập với sông Suối Dầu tại Cầu Hà Dừa - thị  
trấn Diên Khánh, sông đổ ra vịnh Nha Trang tại cầu Trần Phú. Diện tích lưu vực  
2000km2, chiều dài sông chính 79km, độ rộng bình quân lưu vực là 25.3km với hệ  
số uốn khúc 1.4, hệ số hình dạng là 0.3, độ dốc sông 3.70/00, mật độ lưới sông  
0.8 km/km2.  
Lưu vực sông Cái Nha Trang bao trùm toàn bộ Thành phố Nha Trang, huyện  
Diên Khánh, Khánh Vĩnh và một phần diện tích của huyện Cam Lâm tỉnh Khánh  
Hòa và MaĐrăk tỉnh ĐăkLăk. Phía bắc giáp lưu vực sông Dinh Ninh Hòa, phía  
Nam giáp lưu vực sông Cái Phan Rang, phía Tây giáp lưu vực sông ĐăkRông, phía  
Đông giáp Biển Đông.  
1.1.2. Địa hình, địa mạo  
Địa hình lưu vực sông Cái Nha Trang có xu hướng dốc dần từ Tây sang  
Đông, đỉnh núi cao nhất ở phía tây là đỉnh Hòn Giao Bắc có độ cao 2038.2m, khu  
vực trung du có độ cao phổ biến từ 10 đến 25m, khu vực đồng bằng có độ cao phổ  
biến từ 2 đến 10m. Độ dốc trung bình vùng núi là 16%, độ dốc trung bình lưu vực  
2,8%. Lưu vực sông Cái Nha Trang nằm ở sườn Đông của dãy Trường Sơn, địa  
hình bị chia cắt nhiều bởi những ngọn núi, khu vực ven biển có những dãy núi đâm  
ngang ra biển. Khu vực đồng bằng và trung du xen kẽ những đỉnh núi nhỏ có độ cao  
từ 40 đến 50m, cá biệt có đỉnh núi Chín Khúc có độ cao 592.6m, các quả đồi nhỏ có  
độ cao 20 đến 30m. Địa hình cao nhất và dốc nhất là khu vực phía Tây nam của lưu  
12  
       
vực, khu vực này là thượng nguồn của các nhánh sông đổ vào sông Thác Ngựa là  
nhánh sông chính của sông Cái Nha Trang.  
Hình 1.1. Sơ đồ lƣu vực sông Cái Nha Trang  
1.1.3. Địa chất, thổ nhƣỡng  
a. Địa chất  
Địa chất Khánh Hòa cơ bản thuộc các nhóm: nhóm đá Macma phân bố phần  
lớn phía Tây tỉnh; nhóm đá phiến phân bố chủ yếu ở Khánh Vĩnh; nhóm trầm tích  
đệ tứ phân bố vùng ven sông, suối, sườn núi đến chân núi với thành phần bở rời.  
b. Thổ nhƣỡng  
Thổ nhưỡng Khánh Hòa gồm nhiều loại đất khác nhau, chủ yếu là:  
- Nhóm đất đỏ vàng: chiếm tỷ lệ lớn và phân bố rộng, nhất là những vùng  
đồi núi có Feralit xảy ra mạnh. Đất đỏ vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạch ở  
Khánh Vĩnh.  
- Đất mùn vàng trên núi cao 900-1000m.  
- Đất thung lũng có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình và đất phù sa  
phân bố dọc các sông suối trong tỉnh.  
13  
   
- Đất pha cát thành phần cơ giới nhẹ và thô, kết cấu rời rạc, phân bố phần  
lớn vùng ven biển phía đông..  
Bảng 1.1. Diện tích các loại đất đai tỉnh Khánh Hòa  
Đơn vị: 1000ha  
Tên đất  
I. Nhóm đất cát, cồn cát và cát biển  
1. Đất cát biển  
Ký hiệu Diện tích  
C
C
18,350.0  
18,350.0  
8,239.0  
1,549.0  
674.0  
II. Nhóm đất mặn  
M
1. Đất mặn sú vẹt đước  
Mm  
Mn  
M
2. Đất mặn nhiều  
3. Đất mặn ít và trung bình  
III. Nhóm đất phèn  
6,016.0  
920.0  
S
1. Đất phèn tiềm tàng  
Sp2M  
P
920.0  
IV. Nhóm đất phù sa  
33,056.0  
541.0  
1. Đất phù sa được bồi chua  
2. Đất phù sa không được bồi chua  
3. Đất phù sa Glei  
Pbc  
Pc  
9,243.0  
15,540.0  
2,481.0  
5,251.0  
25,332.0  
3,838.0  
21,494.0  
300,850.0  
50,516.0  
239,264.0  
1,833.0  
5,395.0  
3,842.0  
57,743.0  
Pg  
Pf  
4. Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng  
5. Đất phù sa ngòi suối  
Py  
X;B  
X;B  
Xa  
F
V. Nhóm đất xám và bạc màu  
1. Đất xám trên phù sa cổ  
2. Đất xám trên đá Macma acid và đá cát  
VI. Nhóm đất đỏ vàng  
1. Đất đỏ vàng trên đá biến chất  
2. Đất đỏ vàng trên đá Macma acid  
3. Đất vàng nhạt trên đá cát  
4. Đất đỏ vàng trên phù sa cổ  
5. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa  
VII.Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi  
Fs  
Fa  
Fq  
Fp  
Fl  
H
14  
 
1. Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma acid  
VIII. Nhóm đất thung  
Ha  
D
d
57,743.0  
2,881.0  
2,881.0  
14,141.0  
61,512.0  
1. Đất thung do sản phẩm dốc tụ  
IX. Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá  
Cộng (Trừ Trƣờng Sa và sông suối, mặt nƣớc)  
E
(Nguồn: Phân viện QH và TKNN Miền Trung)  
1.1.4. Thảm thực vật  
Vùng thượng lưu sông Cái Nha Trang chủ yếu là rừng nguyên sinh lá rộng,  
xen kẽ là rừng hỗn giao tre nứa và trảng cỏ cây bụi. Tùy theo độ cao của địa hình có  
sự phân hóa về thảm phủ thực vật như sau:  
- Khu vực đỉnh núi ở độ cao trên dưới 2000m: Thảm thực vật thân gỗ chỉ cao  
khoảng 7 - 10m, tán xen kẽ. Sự phân tầng của thảm thực vật không thật sự rõ rệt. Ở  
đây chủ yếu là sự góp mặt của các loài thực vật có nhiều thân trên một gốc. Trên  
thân cây phủ lớp rêu mỏng. Một số loài thực vật bì sinh phát triển trên cành, nhánh  
cây. Điểm đáng lưu ý là các sườn của đỉnh núi rất dốc, nhưng vẫn được bao phủ bởi  
thảm thực vật rừng khá dày với sức sống tốt. Dưới tán rừng, lớp lá rụng 3 - 4cm với  
quá trình phân giải chậm. Cây có độ cao đạt tới 10m, đường kính 50 - 100cm, tán  
đan xen. Cây có sự phân cành sớm, ở độ cao khoảng 2 - 3m.  
- Khu vực đỉnh - sườn núi ở độ cao 1400 - 1700m: Rừng á nhiệt đới thường  
xanh cây lá rộng và cây lá rộng, lá kim núi trung bình. Rừng có diện tích lớn với  
cây đa trội và cấu trúc thảm phức tạp. Rừng phân ra nhiều tầng nhưng có 2 tầng chủ  
đạo, các tầng trung gian không liên tục, xen kẽ nhau. Ngoài ra ở độ cao này còn có  
rừng lá kim núi trung bình (rừng thông 3 lá tự nhiên).  
- Khu vực có độ cao dưới 1400m: Rừng chủ yếu là rừng trồng, loại cây lá  
rộng thường là cây keo, cao su, cà phê, hồ tiêu, ca cao và cây lá kim là cây thông.  
- Khu vực trung du có độ cao dưới 100m thường là các trảng cây cỏ bụi, các  
cây lá rộng với tán cây có đường kính từ 2 đến 4m, thân cây có đường kính từ 10  
đến 30cm, độ cao từ 2 đến 5m. Các cây được trồng chủ yếu là mía và cây keo từ 2  
đến 5 năm tuổi.  
15  
 
Theo niên giám thống kê tỉnh Khánh Hòa, khu vực trung du và đồng bằng  
lưu vực sông Cái Nha Trang là đất nông nghiệp với diện tích 1262.2km2, đất phi  
nông nghiệp với diện tích 131.1km2, đất chưa sử dụng 363.9km2.  
1.1.5. Khí hậu  
Nhìn chung lưu vực sông Cái Nha Trang tỉnh Khánh Hòa chịu sự chi phối  
chung của khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng khí hậu đại  
dương. So với các vùng phía Bắc thì mùa đông ít lạnh hơn, mùa khô nóng kéo dài  
hơn; so với các vùng phía Nam thì mùa mưa muộn hơn. Mùa khô bắt đầu từ tháng I  
và kết thúc vào tháng VIII, trong mùa khô xuất hiện thời kỳ mưa tiểu mãn vào  
khoảng trung tuần tháng V đến hạ tuần tháng VI; mùa mưa, bắt đầu từ tháng IX và  
kết thúc vào trung tuần tháng XII.  
a. Mƣa  
Do địa hình phức tạp nên lượng mưa giữa các khu vực có sự chênh lệch nhau  
khá lớn. Lượng mưa trung bình năm trên lưu vực sông Cái Nha Trang thì lớn hơn  
khoảng từ 1300 - 1931mm. Tổng lượng mưa mùa mưa khoảng 900 - 1059mm,  
chiếm khoảng 67 - 75% lượng mưa năm; tổng lượng mưa mùa khô khoảng 300 -  
450mm. Những trận mưa, lũ lớn chủ yếu tập trung vào tháng X và XI.  
b. Nhiệt độ không khí  
Nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng và ven biển dao động từ 26,3°C  
đến 26,9°C, lên đến độ cao 400m nhiệt độ giảm xuống khoảng 23,0 -24,0°C. Nhìn  
chung trong năm ít xảy ra các đợt nắng nóng kéo dài nhiều ngày gây ảnh hưởng lớn  
đến sản xuất và đời sống.  
c. Độ ẩm tƣơng đối  
Độ ẩm khá thấp, trung bình năm vào khoảng 80% tại Nha Trang. Hàng năm  
chỉ có 2 - 3 tháng đầu mùa đông (tháng X, XI, XII) là khá ẩm với độ ẩm trung bình  
85%. Còn trong nửa cuối mùa đông độ ẩm giảm xuống 80 - 83%. Tháng ẩm nhất là  
tháng XI có độ ẩm khoảng 85 - 87%.  
d. Bốc hơi  
16  
 
Tổng lượng bốc hơi trung bình nhiều năm dao động từ 1000 - 1100mm/năm  
tức là bằng 2/3 lượng mưa. Trong 3 tháng (từ tháng VI - VIII), mỗi tháng lượng bốc  
hơi đạt tới 120 - 150mm, vượt quá lượng mưa các tháng này. Thời kỳ bốc hơi ít  
nhất là các tháng mùa mưa, từ tháng X - XII, lượng bốc hơi chỉ khoảng 60 - 80mm.  
f. Gió và bão  
Hướng gió thịnh hành mùa đông là hướng Đông Bắc hoặc Bắc; mùa hè,  
hướng gió thịnh hành là hướng Tây và Tây Nam.  
1.1.6. Thủy văn – Hải văn  
Thủy triều  
Thuỷ triều ở Nha Trang là chế độ nhật triều không đều, trong một tháng có  
khoảng 20 ngày là chế độ nhật triều. Trong thời kỳ triều cường, nước triều lớn nhất  
từ 1,8 - 2,3m (tính theo 0 Hải đồ), mực nước triều nhỏ nhất từ 0,4 - 0,8m. Trong  
năm, các tháng XI, XII, I, II luôn luôn xuất hiện thời kỳ triều cường có mực nước  
đỉnh triều cao nhất năm và các tháng VI, VII, VIII luôn xuất hiện thời kỳ triều  
cường có mực nước đỉnh triều thấp nhất năm. Nguyên nhân là do về các tháng mùa  
đông xuất hiện trường gió Đông Bắc tạo nước dềnh phía Tây Biển Đông. Một  
nguyên nhân nữa là do ảnh hưởng của ATNĐ và bão đã tạo nên nước dâng ở vùng  
bờ biển.  
Khi xét ảnh hưởng của lũ và triều ta thấy khi gặp triều lên mực nước có thể  
dâng cao hơn trường hợp không có triều từ 20 - 30cm, khi triều xuống mực nước có  
thể chênh lệch so với mực nước không ảnh hưởng triều từ 9 - 10cm.  
Dòng chảy năm  
Dòng chảy trên các sông chủ yếu do mưa cung cấp, nên sự phân bố của dòng  
chảy tương tự sự phân bố của mưa. Độ sâu dòng chảy trên lưu vực sông Cái Nha  
Trang là 1159mm.  
17  
 
Bảng 1.2. Cán cân nƣớc các lƣu vực[7]  
Tổng  
lƣợng  
dòng  
chảy  
(km3)  
2078  
239  
Tên lƣu vực  
Sông Cái Nha  
Trang  
Mƣa  
Hệ số  
dòng  
chảy  
Diện tích  
F(km2)  
Dòng chảy  
Bốc hơi  
STT  
Xo  
Yo(mm)  
Zo(mm)  
(mm)  
1
2
3
Trong tỉnh  
Ngoài tỉnh  
Toàn bộ  
1840  
160  
1808  
2248  
1931  
1129  
1496  
1159  
679  
752  
772  
0.62  
0.66  
0.60  
2000  
2319  
Lượng dòng chảy 4 tháng mùa lũ chiếm từ 65% - 66% lượng dòng chảy cả  
năm, lượng dòng chảy 8 tháng mùa cạn chỉ chiếm từ 34% - 35% lượng dòng chảy  
cả năm. Tổng lượng dòng chảy (W) sông Cái Nha Trang 2319km3.  
Dòng chảy lũ giai đoạn những năm gần đây  
a) Chế độ dòng chảy mùa lũ  
Mùa lũ trên các sông suối tỉnh Khánh Hòa bắt đầu từ tháng IX đến tháng XII.  
Nguyên nhân chủ yếu do vùng thấp, áp thấp, bão hoặc cũng có thể do không khí  
lạnh kết hợp với vùng thấp. Hàng năm trên các sông suối tỉnh Khánh Hòa xuất hiện  
từ 1 đến 4 trận lũ, trung bình có 2,3 trận lũ trong năm, cá biệt một số năm không  
xuất hiện lũ. Số lượng các trận lũ ở tỉnh Khánh Hòa không nhiều so với các tỉnh  
khác ở khu vực Nam Trung Bộ do đặc điểm khí hậu ở đây ôn hòa hơn, không khắc  
nghiệt như các vùng khác thuộc khu vực Nam Trung Bộ. Các trận lũ lớn chủ yếu  
xảy ra từ tháng X đến tháng XI, đó là thời kỳ hoạt động của xoáy thuận nhiệt đới,  
bão ảnh hưởng mạnh nhất đối với khu vực Nam Trung Bộ, mặt khác đây cũng là  
thời kỳ rãnh thấp xích đạo đi qua khu vực tỉnh Khánh Hòa.  
Tốc độ dòng chảy lớn nhất trên sông Cái Nha Trang đạt 2.96m/s xuất hiện vào  
năm 1999. Nhìn chung, tốc độ dòng chảy của các sông tỉnh Khánh Hòa không lớn lắm.  
Tốc độ dòng chảy chịu ảnh hưởng bởi khả năng tập trung nước sườn dốc lưu vực, độ  
dốc và mặt cắt ngang sông. Trong những năm gần đây diện tích rừng bị thu hẹp nhiều  
và mức độ che phủ rừng giảm do chặt phá rừng đầu nguồn làm mức độ tập trung dòng  
chảy sườn dốc nhanh. Độ dốc địa hình và lòng sông giảm trong những năm gần đây do  
18  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 100 trang yennguyen 22860 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến dòng chảy trạm Đồng Trăng, sông Cái Nha Trang tỉnh Khánh Hoà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfluan_van_danh_gia_tac_dong_cua_bien_doi_khi_hau_den_dong_cha.pdf